
Máy thiền cho biết cũng xinh,
Bỗng đâu xe phép lại nhanh chuyển vần.
Trương công gặp lúc gian truân,
890. Một niềm ái quốc trung quân chẳng dời.
Phù nguy rắp tỏ chí trai,
.
Cỏ hoa ngày tháng ,
Một non sông phó phẩm bình.
Đã ngoài quy linh,
Phương đông lại rạng tiểu tinh một nàng.
Sinh châu sực ứng điềm lan,
Phòng hương ngọc nữ khác vời.
Lưng liễu uốn, miệng hoa cười,
900. Có sen cốt cách, có mai tinh thần.
Sá so Phi Yến, Triêu Vân,
Biện cầm nhường lứa, thái tần kém đôi.
Hào hoa ấy gái mà trai,
Đã ba quỳnh ngọc, lại hai minh hà.
Chiều xuân trăm vẻ nẫu nà,
Nức hương bồ liễu, xôn hoa hải đường.
Châu sơ chỉn xứng tân trang,
Ý lời ước, đặt tên nàng Thuỵ Châu.
Thức hoa vừa bước xuân thâu,
910. Hương khuê đủ việc, thư lâu đủ tài.
Tiếng thêm lừng lẫy trong ngoài,
Dậy vùng huyện Xích, nức nơi châu Thần.
Thời vừa lệnh kén tài nhân,
Khuê viên dễ mấy cung tần giá kia.
Nàng bèn đổi dạng nam nhi,
Đồ nâu sồng sẵn tiên y, đạo bào.
Tiểu đồng ấy mới lại hào,
Nàng Mỵ Oanh cạo lá đào hoa rơi.
Túi thơ phím trúc hẳn hòi,
920. Ngâm vần , giong hồi thanh phong.
Cuộc cờ, chén rượu thong dong,
Được thua hội ấy, nhạt nồng mùi kia.
Khói hoè nấu liễu đòi khi,
Chè mai cốt, bánh tùng chi sẵn nhiều.
Hoàng tinh, sơn dược mấy liều,
Đồ trưa kim cúc, đồ chiều ngọc chi.
Nhân sâm, ý dĩ ,
Sớm vui tùng bách, tối bì trầm hương.
Luyện tu biết mấy linh đan,
930. Hút mây từng tháng, thở sương từng thì.
Mới hay thay lẽ huyền vi,
Đạo thanh tĩnh, phép từ bi lại .
Dần dần dắt mối duyên nhau,
Dưới trăng tơ thắm, doành câu lá hồng.
Nàng từ giả dạng tiên phong,
Mấy miền non thẳm, mấy vùng sông khơi.
Thích tình ngoạn thưởng qua chơi,
Đến miền cảnh thú, ấy nơi ngâm bình.
Nghe Kim sơn rất ,
940. Nghĩ rằng cảnh phật, trời dành đãi tiên.
Giục Oanh sắm sửa ,
Tìm duyên , hỏi miền .
Ca chim, đờn suối, phách rừng,
Chiếu mây rải đá, đèn trăng treo tùng.
Phong quang mấy vẻ não nùng,
Đem miền Tây Trúc về vùng Nam giao.
Một bầu thế giới thu vào,
Cảnh tình có vẻ, thanh tao có mầu.
Lên tựa mát mái ,
950. Thấy bên vách phấn có câu thơ đề:
Thích tình từng trải thú sơn hà,
Phong cảnh đây âu mới gọi là.
Doành chở bè từ vờn sắc ngọc,
Đỉnh in trăng tuệ tỏ màu hoa.
Véo von kệ bối khua chim pháp,
Réo rắt đờn thông gảy gió hoà.
Dẫu chẳng tiên du nhưng chẳng tục,
Mới hay rằng Phật cũng là ta.
Xem thôi giở bút nghiên ra,
960. Hứng ngâm một luật tám câu:
Đã khắp sơn lâm, khắp hải hà,
Khen đây cảnh trí khéo thay là.
Gió từ hây hẩy đưa buồm gấm,
Trăng tuệ lầu lầu rạng tán hoa.
Tiêu điểm tiếng kinh xen trống giục,
Mỗ giong giọng kệ lẫn chuông hoà.
Nào ai là Phật, nào ai tục,
Có biết tiên chăng? chẳng gọi ta.
Đề thôi trông xuống cửa già,
970. Chữ “nhàn” đối “tục” tán ra lẽ mầu:
“Người ở bên hang âu hẳn ,
Trăng vào trong cửa ắt là .”
Cười rằng ấy chẳng hào,
Đã nhàn thôi lại mãng vào tục chi?
Nàng bèn lấy bút cải đề,
Chữ ra lạo thế đi cẩm :
“Trời xuống lòng người âu hẳn ,
Người về bên núi mới là .”
Viết rồi lại thấy cửa chiền,
980. Tả biên chiếc lể, hữu biên chưa đề:
“Khách hồng trần lơ láo bước phù hư, lối kim cổ ra vào sinh tử mãi.”
Cho ai là kẻ cao kỳ,
Thì xin đối lại bên kia cho cùng.
Nàng xem chẳng quản ngại ngùng,
Bút hoa viết lại một dòng bên sau:
“Thợ khéo khôn tay ảo diệu, then kiền khôn đóng mở mau.”
Đối thôi thưởng ngoạn giờ lâu,
990. Cầm giăng ba điệu, ca mầu năm cung.
Xa xa trông thấy Nhạn đồng,
Mỵ Oanh vẫy lại nói năng chuyện trò.
Rằng: “Tiên lang khách giang hồ,
Nghe sư đạo đức, vả chùa thanh tân.
Cho nên chẳng quản xa gần,
Trước là đỉnh lễ, sau phần quy y.
Phiền đồng vào bạch tôn sư,
Nam vô lượng giác từ bi chăng là.”
Nhạn rằng: “Sư phụ xuất gia,
1000. Chân như để dạ, phồn hoa để ngoài.
Tiêu tôi nay đã kinh rồi,
Ở đây đi lại lắm người khéo ghê.
Tướng hình xem rất quái kỳ,
Chú thì Tùng lĩnh, anh thì Mai hiên.
Chẳng qua hết gạo lơ tiền,
Túi thơ bầu rượu giả tiên dối người.
Xem khi thơ rượu nực cười,
Thơ ngơ ngẩn lạ, rượu lồi lõm thay!”
Oanh rằng: “Đồng chẳng biết đây,
1010. Người nay ba đấng, của nay ba loài.
Những là mến thú thanh trai,
Những nơi trọc cảnh sá hoài đến chi?
Chùa thấp ụp, bụt đen sì,
Tiều phềnh bụng gạo, sư bì dạ rau.
Mấy người sãi vãi xấu mầu,
Mà đen chó đá, mắt nâu sấu sành.
Những tuồng nết quỷ dạ tinh,
Miệng tuy bồ tát mà tình .
Phật về Tây Trúc ru mà,
1020. Để cho những giống yêu ma quấy chùa.
Thế mà cũng tiếng nam vô,
Gớm tuồng thô tục, như trò trần ai.
Tiểu sao chẳng nghĩ ngắn dài,
Đem nơi ngu muội sánh nơi tài tình.
Hãy còn tục vật chẳng thanh,
Sao người thanh cảnh mà hình trần gian?”
Nhạn rằng: “Ngán nhẽ đa đoan,
Dễ hầu đã tỏ thánh, phàm được đâu.
Thôi thôi vái cảnh các hầu,
1030. Tài tình mấy kẻ bấy lâu tới miền.
Người xưng chữ thánh thơ tiên,
Thơ rông chó chạy, chữ lem cua bò.
Vách vôi đen nhám như tro,
.
Cũng đòi xưng lấy anh hào,
Chước gì nói phét, lệnh nào cấm đi.”
Oanh rằng: “Gớm nhẽ ngu si,
Bấy người thô tục biết gì người tiên.
Nghĩ rằng Phật có lương duyên,
1040. Bè từ nhẹ trẩy cửa thiền rộng khơi.
Nào hay nặng chĩu hẹp hòi,
Thế thì Phật cũng dối người thế gian.”
Nhạn rằng: “Giáo phiệt đạo quân,
Chở người thiện giác, dung đoàn chân như.
Độ đâu những kẻ si mê,
Chớ đem trần tục trách về Phật duyên.
Xin người về nghĩ kẻo phiền,
Phiền người, vả lại bận phiền sư tôi.”
Nàng nghe Nhạn nói nực cười,
1050. Khen rằng: “Tiểu trẻ lắm lời khôn ngoan.
Bấy lâu những khách trần hoàn,
Ít người , lắm đoàn ngu mê.
Những thì chẳng trách đồng chi,
Hãy xem thơ đối bên kia thế nào.”
Nhạn xem rồi gởi: “Thực hào,
Thế mà lấy khách tục lưu sánh cùng.
Thứ tình cho được đội trông,
Thơ này vâng biết vào trong gởi người.”
Vừa khi am tĩnh thưởng mai,
1060. Thấy thơ Nhạn gởi sư coi khen kỳ.
Sai người đón mái liên trì,
Sửa sang phương trượng, đãi đằng.
Người , kẻ ,
Chuyện trò phép nhiệm, nói năng chước màu.
Nàng rằng: “Đây thú thanh tao,
Với thiền sư cũng phong lưu khác thường.
Cho nên hỏi lối tìm đường,
Lấy hằng tâm để cúng dường làm duyên.”
Tăng rằng: “Nặng đội khách tiên,
1070. Xa xôi chẳng ngại lâm tuyền đến đây.
Tấc vuông cũng thấu cao dầy,
Người đà thành kính, Phật rày chứng minh.
Những e khổ hạnh tu hành,
Nhạt không mùi tĩnh, vắng tanh cửa từ.
Hoa chểnh mảng, nguyệt ơ hờ,
Tuyết e ấp vẻ, gió ngơ ngẩn chiều.
Cỏ hoa kết bạn dập dìu,
Nhiều bên , ít liều trần duyên.
Lấy gì thết đãi khách tiên,
1080. Đạo cao xin thấu lòng thiền nầy cho.”
Nàng rằng: “Há quản thế ru!
Muốn đem duyên với giang hồ làm thân.
Tôi nay lánh chốn phong trần,
Kiền khôn góp lại thanh tân túi đầy.
Nước non một gánh nhẹ thay!
Lửa vui dì gió, bận vầy ả trăng.
Bụi trần rũ sạch lâng lâng,
Hoa hồng cười nói, tuyết ngân thưởng bàn.
Cuộc cờ, chén rượu, cung đàn,
1090. Thơ ngâm , tranh vờn .
Lợi danh sá quản tầm thường,
Yên hà cũng đủ phong quang góp đời.”
Tăng rằng: “Nay đã tới vời,
Thì đều ngôn chí một người một thiên.”
Nàng rằng: “Thi hứng cũng nên,
Tăng thì tiên xướng, tôi xin tục đề.”
Tăng xướng rằng:
Non xanh xanh nước cũng xanh xanh,
Non nước gồm hai mối hữu tình.
1100. Non vững giường nhân lay chẳng chuyển,
Nước đưa màn trí ngắm càng thanh.
Thoáng hình chớp chợt loà kim cổ,
Phút qua giục tử sinh.
Thót với trần gian cho vẹn kiếp,
Những như tình cảnh cũng buồn tênh.
Nàng hoạ:
Đã từng nước biếc lại non xanh,
Non nước cùng ta cũng lắm tình.
Non chở thảo hoa vầy bạn cũ,
Nước vờn phong nguyệt góp người thanh.
Thoi đưa ảo cảnh hồn như mộng,
Khoá chặt trần hoàn kiếp hữu sinh.
Đeo đẳng phù sinh chi bận với,
Để cho non nước vẫn buồn tênh.
Ngẫm thôi so sánh tài tình,
Đã hay thơ hoạ, lại tinh cầm kỳ.
Nàng say thú lạ giang khê,
Có thiên tức cảnh, có đề đăng sơn.
Từ , điệu quan lang,
Ngâm chung các, vịnh thiền quan mấy bài.
Thong dong giã mái thanh trai,
1120. Tạ sơn tăng, lại thảnh thơi lên đường.
Thênh thênh thuyền bách nhẹ nhàng,
Nước xanh lần chở, gió vàng thẳng đưa.
Kia đâu chiền sớm chợ trưa,
Chày boong boong nện, khói mờ mờ bay.
Kia đâu doành nguyệt am mây,
Cô giọng chỉ thắm, chị lay đoá vàng.
Kìa đâu bãi gió, ngàn sương,
Cây pha tuyết bạc, địch đàn cỏ xanh.
Kìa đâu liễu doanh,
1130. Tiếng vang , vẻ kinh thế thần.
Nàng về đến chốn lầu xuân,
Với Oanh bàn bạc mấy người.
Oanh rằng: “Tăng mới khác vời,
Trách con tạo nỡ hẹp hòi cho nên.
Hay là gióng giảy trần duyên,
Ngại ngùng tục giới, nức nguyền tĩnh phương.
Hay là mắc tiếng phi thường,
Tìm nơi u tịch, lánh đường phong ba.
Tiếc thay những bậc tài ba,
1140. Phải đem châu báu mà pha cát lầm.
Nam vô cứu khổ Quan Âm,
Phật duyên độ lấy trần tâm chăng là!”
Chàng từ trở gót chiền già,
Bảo Nhạn đồng hết gần xa mọi điều:
“Ta xem người ấy mỹ miều,
Vả đường ăn ở ra chiều mỹ nhân.
Chữ thơ lắm vẻ thanh tân,
Giọng thơ mầu ngả đượm phần hương hoa.”
Nhạn rằng: “Tôi chửa nghĩ ra,
1150. Chốn này chẳng thấy ai là nữ lang.
Miền xa xôi cũng chưa tường,
Hay Quan Âm lại tìm đường .
Nếu mà người thú thị thành,
Dò ra lâu cũng biết tình chẳng không.”
Chàng còn chưa xong,
Hỏi tiên âu cũng phụ đồng thỉnh tiên.
Đốt lò hương án bùa thiên,
Rượu châm , hoa truyền thanh hương.
Lưỡng khẩu thánh, cửu thiên lang,
1166. Kinh đưa phách nguyệt, hạc nương bóng thần.
Bốn câu lạo thảo thanh tân,
Có chiều cao viễn, có phần huyền vi:
Cửa bắc cây chen màu “”,
Lầu nam nguyệt rạng vẻ “”.
Lầu lầu vàng đúc vành gươm báu,
Vành vạnh châu trau chiếc lược hồng.
Chàng xem mới bảo Nhạn đồng,
Rằng lời thơ ấy ngụ trong gia tình.
Phạm, Trương hai chữ rành rành,
1170. Vả câu chiếc lược với vành gương kia.
Kim, Châu mới lại tỏ ghê,
Kinh nơi cảnh Phật, sợ về đồng Tiên.
Cho hay hai chữ nhân duyên,
Còn non nước cũ, vẫn nguyền ước xưa.
Phạm đây, Trương đấy ai ngờ,
Kìa gương chưa bụi, nọ sơ hãy mầu.
Những khi Tiên, Phật khác nhau,
.
Đành rằng duyên phận nhỡ nhàng,
1180. Đã gàn quải thế, hãy nương náu nầy.
Lòng vuông tấc, đức cao dầy,
Xét soi ắt cũng có ngày chẳng không.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.