Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Đăng bởi Vanachi vào 09/09/2005 18:50, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 02/05/2006 16:54

Chèo lan[1] nhàn bát thuở tà dương,
Một phút qua một lạ dường.
Ngàn nọ so miền Thái Thạch[2],
Làng kia mở cảnh Tiêu Tương[3].
Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ,
Vầng nguyệt lên thuở nước cường.
Mua được thú mầu trong thuở ấy,
Thế gian hay một khách văn chương.


Chú thích:
[1]
Tô Thức 蘇軾 trong Tiền Xích Bích phú 前赤壁賦 có câu: “Quế trạo hề lan tương, Kích không minh hề tố lưu quang” 桂棹兮蘭槳,擊空明兮泝流光. (Thung thăng thuyền quế chèo lan, Theo vừng trăng sáng vượt làn nước trong. Phan Kế Bính dịch)
[2]
Tức Thái Thạch ki 采石磯, ở tây bắc Ngưu Chử sơn 牛渚山, tỉnh An Huy 安徽. Hình thế hiểm yếu, thời cổ binh gia tranh giành đất này. Tương truyền Lý Bạch 李白 say rượu, nhảy xuống bắt trăng ở đây.
[3]
Tiêu Tương ( 26.253,111.607): Là nơi hợp lưu của hai con sông Tiêu thuỷ 瀟水 và Tương thuỷ 湘水 (hay Tương giang 湘江) để chảy vào hồ Động Đình, và cũng là tên vùng đất ở đây, thời xưa thuộc nước Sở, nay là trấn Tiêu Tương ở địa phận huyện Linh Lăng 零陵, tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc. Sông Tiêu có tên khác là Doanh thuỷ 營水, phát nguyên từ núi Cửu Nghi, chảy đến Vĩnh Châu thì hợp lưu với sông Tương. Sông Tương phát nguyên ở huyện Hưng An, tỉnh Quảng Tây. Ở đây phong cảnh rất thê lương buồn bã, và có nhiều cảnh đẹp, thường được dùng làm đề tài cho thơ và hoạ, như Tiêu Tương bát cảnh 瀟湘八景.

Nơi đây thường là chỗ chia tay để mỗi người đi mỗi ngả, cho nên văn thơ thường dùng trong cảnh biệt ly. Nơi bờ sông Tương xưa kia hai bà vợ ông Thuấn đứng khóc chồng, nước mắt hoà máu rơi vào trúc thành những đốm thâm. Cho nên có chữ “giọt Tương” là giọt nước mắt, “khúc Tiêu Tương” là khúc đàn buồn về nỗi ly biệt.

Khúc sông Tiêu Tương liền với sông Mịch La là nơi Khuất Nguyên đã trầm mình.