送胡大

荊門不堪別,
況乃瀟湘秋。
何處遙望君,
江邊明月樓。

 

Tống Hồ Đại

Kinh Môn bất kham biệt,
Huống nãi Tiêu Tương thu!
Hà xứ dao vọng quân?
Giang biên minh nguyệt lâu.

 

Dịch nghĩa

Ở Kinh Môn đã không nỡ lòng từ biệt,
Huống nữa thu lại về trên vùng Tiêu Tương.
Biết ở nơi nào nhìn xa trông ngóng anh?
Đó là nơi lầu trăng sáng bên sông.


Hồ Đại thân thế không rõ.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tản Đà

Non Kinh biệt đã đau lòng,
Nữa chi thu lại hai dòng Tiêu, Tương!
Nhớ anh, xa ngóng dặm trường,
Bên sông dưới bóng trăng suông tựa lầu.


Nguồn: Tạp chí Ngày nay, số 122, 7-8-1938
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Kinh Môn chưa nỡ biệt,
Huống nữa thu Tiêu Tương!
Đâu chốn nhìn theo bạn?
Lầu sông trăng tỏ gương.


Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Kinh Môn từ biệt sao đành,
Huống Tiêu Tương lá trên cành vào thu!
Trông anh đâu tít xa mù?
Bên sông, lầu dưới trăng thu, đứng nhìn...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Kinh Môn bịn rịn giã từ
Tiêu Tương sớm đã vào thu lúc nào
Biết làm sao thấy được nhau
Lầu sông trăng sáng làu làu như gương

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Ở Kinh Môn chia tay không nổi
Huống chi giờ thu cõi Tiêu Tương
Dõi theo ông chốn dặm trường
Lên lầu trăng sáng như gương đứng nhìn.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Khuyết danh Việt Nam

Núi Kinh giã biệt đã buồn rầu
Lại ở sông Tương thấy cảnh thu
Nhớ bạn nơi nào xa ngắm mãi
Trên sông trăng tỏ thấy tầng lầu


Bản dịch từ Đường thi trích dịch 唐詩摘譯 (ký hiệu VNv.156) đời Nguyễn.

Nguồn: Đường thi quốc âm cổ bản, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2017
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời