
瀟湘晚渡
波漾霞明向夕陽,
華駰迢遞渡瀟湘。
天邊遠嶠煙披綠,
沙嘴孤村日射黃。
漁伏鷁舟歌響細,
牧登牛背笛聲長。
畫舲趁浪蓬帆急,
故國南薰入袖涼。
Tiêu Tương vãn độ
Ba dạng hà minh hướng tịch dương,
Hoa nhân điều đệ độ Tiêu Tương.
Thiên biên viễn kiệu yên phi lục,
Sa chuỷ cô thôn nhật xạ hoàng.
Ngư phục nghịch chu ca hưởng tế,
Mục đăng ngưu bối địch thanh trưởng.
Hoạch linh sấn lãng bồng phàm cấp,
Cố quốc nam huân nhập tụ lương.
Dịch nghĩa
Sóng nước sóng sánh, ráng chiều sáng trong nắng chiều,
Đoàn sứ đi xa về, qua đò trên sông Tiêu Tương.
Dãy núi xa bên trời khoác màn khói xanh,
Xóm nhỏ ở doi cát, ánh những tia nắng vàng.
Tiếng hát của người chài cá nằm trong thuyền vang văng vẳng,
Khúc sáo của trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu ngân dài.
Thuyền sứ lướt sóng đi, cánh buồm căng như gấp,
Gió nồm từ nước ta thổi lồng lộng trong tay áo mình.
瀟湘晚渡
Tiêu Tương vãn độ
Chiều qua đò ở Tiêu Tương
波漾霞明向夕陽,
Ba dạng hà minh hướng tịch dương,
Sóng nước sóng sánh, ráng chiều sáng trong nắng chiều,
華駰迢遞渡瀟湘。
Hoa nhân điều đệ độ Tiêu Tương.
Đoàn sứ đi xa về, qua đò trên sông Tiêu Tương.
天邊遠嶠煙披綠,
Thiên biên viễn kiệu yên phi lục,
Dãy núi xa bên trời khoác màn khói xanh,
沙嘴孤村日射黃。
Sa chuỷ cô thôn nhật xạ hoàng.
Xóm nhỏ ở doi cát, ánh những tia nắng vàng.
漁伏鷁舟歌響細,
Ngư phục nghịch chu ca hưởng tế,
Tiếng hát của người chài cá nằm trong thuyền vang văng vẳng,
牧登牛背笛聲長。
Mục đăng ngưu bối địch thanh trưởng.
Khúc sáo của trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu ngân dài.
畫舲趁浪蓬帆急,
Hoạch linh sấn lãng bồng phàm cấp,
Thuyền sứ lướt sóng đi, cánh buồm căng như gấp,
故國南薰入袖涼。
Cố quốc nam huân nhập tụ lương.
Gió nồm từ nước ta thổi lồng lộng trong tay áo mình.
Tiêu Tương (
26.253,111.607): Là nơi hợp lưu của hai con sông Tiêu thuỷ 瀟水 và Tương thuỷ 湘水 (hay Tương giang 湘江) để chảy vào
hồ Động Đình, và cũng là tên vùng đất ở đây, thời xưa thuộc nước Sở, nay là trấn Tiêu Tương ở địa phận huyện Linh Lăng 零陵, tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc. Sông Tiêu có tên khác là Doanh thuỷ 營水, phát nguyên từ núi Cửu Nghi, chảy đến Vĩnh Châu thì hợp lưu với sông Tương. Sông Tương phát nguyên ở huyện Hưng An, tỉnh Quảng Tây. Ở đây phong cảnh rất thê lương buồn bã, và có nhiều cảnh đẹp, thường được dùng làm đề tài cho thơ và hoạ, như Tiêu Tương bát cảnh 瀟湘八景.
Nơi đây thường là chỗ chia tay để mỗi người đi mỗi ngả, cho nên văn thơ thường dùng trong cảnh biệt ly. Nơi bờ sông Tương xưa kia hai bà vợ ông Thuấn đứng khóc chồng, nước mắt hoà máu rơi vào trúc thành những đốm thâm. Cho nên có chữ “giọt Tương” là giọt nước mắt, “khúc Tiêu Tương” là khúc đàn buồn về nỗi ly biệt.
Khúc sông Tiêu Tương liền với sông Mịch La là nơi Khuất Nguyên đã trầm mình.
[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.