題劉關張桃園結義處

杯酒相締異姓親,
情為兄弟義君臣。
始終志氣懸天日,
夷險干腸對鬼神。
塵局三分雲久變,
桃園千古景長春。
崇祠遺像猶團聚,
瞻仰人知重大倫。

 

Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ

Bôi tửu tương đề dị tính thân,
Tình vi huynh đệ nghĩa quân thần.
Thuỷ chung chí khí huyền thiên nhật,
Di hiểm can trường đối quỷ thần.
Trần cục tam phân vân cửu biến,
Đào viên thiên cổ cảnh trường xuân.
Sùng từ di tượng do đoàn tụ,
Chiêm ngưỡng nhân tri trọng đại luân.

 

Dịch nghĩa

Cùng nhau nâng chén kết thân giữa người khác họ,
Tình là anh em, nghĩa là vua tôi.
Chí khí thuỷ chung, treo giữa trời xanh ngày sáng
Tâm địa hiểm bằng, thấu tận quỷ thần.
Thế cuộc chia ba như mây biến đã lâu
Vườn đào từ nghìn xưa, cảnh xuân còn mãi.
Tượng thờ trong đền vẫn còn đoàn tụ,
Để người chiêm ngưỡng biết trọng đạo luân thường.


Đào viên: vườn đào cách phía Nam thành Nhậm Khâu 10 dặm có bia đá. Lưu Bị là chúa nhà Thục Hán, thời Tam quốc, Quan Vân Trường và Trương Phi là hai trong năm tướng của Lưu Bị. Ba người đã kết thân với nhau cùng giúp Lưu Bị, bảo vệ nhà Hán.

Nguồn:
1. Nguyễn Thị Phượng (CB), Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995.
2. Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lâm Giang

Chén rượu cùng nâng buổi kết thân
Tình là huynh đệ nghĩa quân thần
Thuỷ chung chí khí treo vừng nhật
Lòng dạ hiểm di thấu quỷ thần
Cuộc thế ba phần mây biến đổi
Vườn đào muôn thuở cảnh trường xuân
Tượng thờ trong miếu còn đoàn tụ
Chiêm ngưỡng người nay trọng đại luân


Nguồn: Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, NXB Khoa học Xã hội, 1995
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

題劉關張桃園結義處 Đề Lưu Quan Trương đào viên kết nghĩa xứ

1. Trong dòng thứ nhất (chữ thứ 6) của phần phiêm âm, nguyên là chữ 姓 "Tính", chép nhầm thành chữ "Tích".
2. Trong dòng thứ bảy của phần phiêm âm (chữ thứ nhất), nguyên là  chữ 崇 "sùng", chép nhầm thành chữ "sừng". Vậy đề nghị bạn sửa lại cho chính xác.
3. Mình xin cung cấp nguyên văn chữ Hán của bài thơ này như sau:
題劉關張桃園結義處
杯酒相締異姓親
情為兄弟義君臣
始終志氣懸天日
夷險干腸對鬼神
塵局三分雲久變
桃園千古景長春
崇祠遺像猶團聚
瞻仰人知重大倫
(lấy từ sách bạn đã dẫn)
4. Trong "Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, NXB Khoa học Xã hội, 1995", có phần "chú thích" cho bài thơ này. Vậy đề nghị bạn thêm vào cho đầy đủ.

Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

chữ Hán

Xin cảm ơn bạn, mình đã sửa bài này.

hongha có lẽ có khó khăn trong việc gõ chữ Hán. Mình thì không có sách này nên cũng khó kiểm tra. Nếu bạn có chút thời gian có thể bổ sung chữ Hán những bài này thì tốt quá :)

Thân.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bổ sung thêm phần dịch nghĩa và chú thích cho bài thơ 題劉關張桃園結義處

Theo mình bạn nên bổ sung mấy điểm sau:
1. Bổ sung tên chữ Hán của nhà thơ là 阮  提 (Nguyễn Đề).
2. Bổ sung tên hiệu chữ Hán của nhà thơ là 桂  軒 (Quế Hiên).
3. Bổ sung phần dịch nghĩa:
THƠ ĐỀ CHỐN VƯỜN ĐÀO KẾT NGHĨA (1) GIỮA LƯU BỊ, QUAN VÂN TRƯỜNG VÀ TRƯƠNG PHI (2).
Cùng nhau nâng chén kết thân giữa người khác họ,
Tình là anh em, nghĩa là vua tôi.
Chí khí thủy chung, treo giữa trời xanh ngày sáng (3)
Tâm địa hiểm bằng, thấu tận quỷ thần.
Thế cuộc chia ba (4) như mây biến đã lâu
Vườn đào từ nghìn xưa, cảnh xuân còn mãi.
Tượng thờ trong đền vẫn còn đoàn tụ,
Để người chiêm ngưỡng biết trọng đạo luân thường.


(1) Cách phía Nam thành Nhậm Khâu 10 dặm có bia đá.
(2) Lưu Bị là chúa nhà Thục Hán, thời Tam quốc, Quan Vân Trường và Trương Phi là hai trong năm tướng của Lưu Bị. Ba người đã kết thân với nhau cùng giúp Lưu Bị, bảo vệ nhà Hán.
(3) “Trời xanh, ngày sáng” dịch chữ “Thiên nhật” tức là thanh thiên bạch nhật. Ý nói trong sáng rõ ràng.
(4) Thế cuộc chia ba: Khổng Minh bày mưu kế giúp Lưu Bị chia thiên hạ làm ba là Thục Hán, Ngụy, Ngô, Lưu Bị giữ nhà Thục Hán là chính thống. Trong bài ý nói sự việc đó đã qua đi rất lâu rồi.
Nguồn:
1. Nguyễn Thị Phượng (CB), Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đề, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB KHXH, Hà Nội, 1995.
2. Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB KHXH, Hà Nội, 2002.
Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Trọng Chánh

Khác họ cùng nâng chén kết thân,
Anh em tình kết nghĩa quân thần.
Thuỷ chung chí khí treo trời sáng,
Tâm chí can trường thấu quỷ thần.
Thế cục chia ba mây biến đổi.
Vườn đào nghìn thuở cảnh còn xuân.
Tượng thờ trong miếu còn đoàn tụ,
Chiêm ngưỡng người đời trọng đạo luân.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Khác họ cùng nhau kết thân,
Tình anh em, nghĩa quân thần trước dân.
Tâm địa thấu tận quỷ thần,
Chí thuỷ chung, treo giữa tầng trời xanh.
Thế cuộc chia ba mây lành,
Vườn đào nghìn cũ, xuân xanh bao đời.
Vẫn đoàn tụ đền tượng thờ,
Luân thường trọng đạo để người ngưỡng chiêm.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời