Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho luỵ đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng?
Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.


Bà lấy chồng họ Trương, chồng đi lính thú, bà ở nhà nuôi con dại. Thường tối đến, thắp đèn lên bà chỉ lên bóng vách mà bảo với con rằng đó là cha nó. Đến khi cha về đứa con không nhận và nói rằng cha nó thường tối mới đến, hễ mẹ nó ngồi thì ngồi, mẹ nó đi thì đi theo. Người chồng nghi bà ngoại tình. Bà chẳng biết làm sao giải nỗi oan ức, bèn nhảy xuống sông tự tử.

Đến tối lại, khi thắp đèn lên đứa con chỉ bóng trên vách nói với cha rằng: “Đó mới thật là cha tôi”. Người chồng lúc ấy hiểu ra thì đã quá muộn, bèn ra bờ sông nơi bà trầm mình lập đàn chay để giải oan cho vợ.

Người đời sau lập miếu thờ bà trên bờ sông Hoàng Giang thuộc làng Vũ Điện, huyện Nam Xương (nay thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Bài thơ này vua Lê Thánh Tông cho khắc vào bia đá trước miếu bà Trương (vợ Trương sinh, tự tử ở dòng Hoàng Giang vì bị chồng nghi ngoại tình).

Nguồn: Hồng Đức quốc âm thi tập, NXB Văn hoá, 1962

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Chú thích

- Chứng quả: soi xét đến lòng thành, đến lòng trinh bạch.

Như vậy, vua Lê Thánh Tông khi thăm các địa danh trên huyện Nam Xang, phủ Lỵ Nhân xưa đã để lại cho người đời rất nhiều bài thơ còn lưu giữ được đến ngày nay. Về đề tài vịnh các miếu thờ, ông còn có các bài thơ chữ Nôm “Hoàng Giang, điếu Vũ Nương” và “Vịnh Mỵ Ê” cũng được trình bầy ở trong Thivien.
Một bài thơ khác bằng chữ Hán được vua Lê Thánh Tông viết khi ghé thăm núi Điệp Sơn, nay thuộc xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam:
Kinh Điệp Sơn
Giang nhân triều thướng hoàng lưu hợp
Liễu đắc xuân đa thuý sắc minh
Thi khách kỷ hội thương vãng sự
Nghi chu thạch bạn vấn sơn danh

Dịch nghĩa:                                                
Qua Điệp Sơn
                                   
Sông thờ thuỷ triều lên hợp với dòng vàng,                                   
Liễu đượm màu xuân càng thêm vẻ biếc,                                    
Khách thơ mấy độ xót chuyện đã qua,                                    
Bèn ghé thuyền sát vách đá vôi hỏi thăm tên núi.

“Xót chuyện đã qua” có lẽ nhắc đến việc vua Lê Hoàn đã đi cày tịch điền ngày xưa tại hai địa điểm: núi Đọi và núi Bà Hối (hay núi Bàn Hải) nhưng dấu tích thì chỉ còn ghi lại được ở núi Đọi, còn ở núi kia thì không còn nữa.

Theo báo: Trường Tiểu học Văn Lý.

24.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Thêm một bài thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông về đất Lỵ Nhân

Một bài thơ Nôm khác của vua Lê Thánh Tông khi đi thăm phủ Lỵ Nhân xưa:

Con trai con gái ở Lỵ Nhân

Trên đê trời lạnh sắp sang xuân,
Đẹp như mỹ mữ nước Yên, Tần,
Ở đây con gái xinh, hiền dịu,
Xấu hổ, con trai chẳng dám gần.

Người dịch: Thái Bá Tân

Báo Trường Tiểu học Văn Lý

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Cảm nhận về bài thơ “Lại bài viếng Vũ thị”

Lại bài viếng Vũ thị là bài thơ Nôm độc đáo trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Độc đáo vì nó là bài thơ của một ông vua giỏi chữ hay thơ đã sáng lập ra hội Tao Đàn, đã hướng tình thương xót đối với một người phụ nữ bình dân bạc mệnh.

Ở đây, tiếng thơ đúng là tiếng lòng, dung dị, giàu cảm xúc. Nhìn thấy khói hương và miếu thờ nơi đầu ghềnh mà chợt nhớ vợ chàng Trương, một người phụ oan khổ:

Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Đầu ghềnh mà nhà thơ nói đến là bờ dòng sông Hoàng Giang thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay. Vợ chàng Trương là Vũ Thị Thiết mà Nguyễn Dữ đã kể trong Chuyện người con gái Nam Xương. Hình ảnh khói hương toả nghi ngút trong miếu thờ đầu ghềnh gợi tả vẻ linh thiêng và sự cảm thương trong lòng người đời tưởng nhớ đến người bạc mệnh.

Nhà vua như cất tiếng than nói về cái chết oan của Vũ thị. Chỉ vì cái bóng đèn vu vơ qua miệng đứa trẻ thơ mà người vợ thuỷ chung, người mẹ hiền phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử, gửi mình cho “cung nước”. Giá mà Trương Sinh “đừng nghe trẻ” thì “‘cung nước chi cho luỵ đến nàng”. Các chữ: “đừng nghe”, “luỵ đến” chứa đựng biết bao niềm cảm thương. Nhà thơ có một cách nói nhẹ nhàng chê trách sự hồ đồ, nông cạn của chàng Trương là nguyên nhân dẫn đến mọi bi kịch đau xót trong cuộc đời:
Bóng đèn đầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho luỵ đến nàng.
Bốn từ Hán Việt được sử dụng rất chọn lọc ở phần luận đã làm cho giọng thơ thêm phần trang nghiêm, trang trọng: chứng quả, nhật nguyệt, giải oan, đàn tràng. Tâm hồn trong sáng thuỷ chung của Vũ Nương được nhật nguyệt, được trời đất soi sáng, chứng quả cho. Lòng nàng vẫn sáng trong như ngọc Mị Châu, tâm hồn nàng vẫn thơm ngát như cỏ Ngu mĩ. Cần chi lập đàn tràng để giải oan. Hai chữ “chẳng lọ” nghĩa là chẳng cần. Việc lập đàn tràng của Trương Sinh là một việc làm vô nghĩa vì đã có nhật nguyệt soi tỏ, chứng quả cho nỗi oan của nàng rồi. Lê Thánh Tông vừa ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của Vũ thị vừa chê trách chuyện lập đàn tràng của Trương Sinh. Cách nhìn của nhà vua rất nhân hậu, nhân bản:
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chằng lọ mấy đàn tràng.
Không nặng lời, nhiều lời! Cũng chẳng cao đạo mà chỉ “bàn bạc mà chơi vậy”. Một cách nói rất dung dị, bình dị. Lời của vị hoàng đế mà như tiếng nói cùa một thường dân nơi thôn dã sau luỹ tre, bờ dâu ruộng lúa:
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Các chữ “khá trách” và “khéo phũ phàng” rất nhẹ nhàng mà nhân hậu, sâu sắc. Chàng Trương thật phũ phàng đáng trách đã gây ra cái chết thảm, chết oan cho người vợ hiền thảo của mình.

Bài thơ Lại bài viếng Vũ thị là một nén hương của Lê Thánh Tông trên đường kinh lí đã ghé qua miếu thờ và viếng Vũ Nương. Giọng thơ nhẹ nhàng, thương cảm. Nhà vua đã ca ngợi tiết hạnh của người phụ nữ bạc mệnh. Bài thơ đã kín đáo nêu lên cho đời bài học về đối nhân xử thế, cẩn trọng nhất là trong đạo vợ chồng. Thấm đẫm vần thơ của Lê Thánh Tông là một tình thương mênh mông. Nó là một trong tác phẩm mở đầu chủ nghĩa nhân đạo trong nền thi ca cổ điển Việt Nam.

tửu tận tình do tại
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời