Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ Nôm (nhưng tiêu đề hầu hết bằng chữ Hán) thời Hồng Đức do các tác giả thời Hồng Đức biên soạn. Hiện nay chỉ còn một văn bản duy nhất để ở thư viện Viện Hán Nôm ký hiệu AB.292, ngoài ra còn một bản chép tay khác ký hiệu VNv.489 là bản do cụ Nguyễn Gia Vi sao lục lại vào năm 1964 theo yêu cầu của Thư viện Khoa học Trung ương. Tuy thế trong bản sao vẫn có một số chữ sai biệt so với bản AB.292. Trong lịch sử thư tịch Việt Nam chưa có tài liệu nào giới thiệu về quá trình lưu truyền văn bản này. Các tài liệu như Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn, Văn tịch chí của Phan Huy Chú đều không thấy nhắc đến tên gọi Hồng Đức quốc âm thi tập. Đến thời Tự Đức nhà Nguyễn mới thấy có tài liệu nhắc đến thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông. Sách Đại Nam thực lục chép, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) triều đình ra lệnh mua thơ văn của vua Lê Thánh Tông, sau mua được một quyển thơ gồm 242 bài. Trong đó thơ Đường luật của vua Lê Thánh Tông có 51 bài, thơ Nôm 128 bài. Các quan phụng học Đường luật có 34 bài, thơ Nôm có 9 bài. Thơ viếng của vua Lê Hiến Tông 2 bài, các quan kính viếng 18 bài. Với 128 bài thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông và 9 bài thơ hoạ của các đình thần, tổng cộng là 137 bài. Đây có thể là cơ sở để hình thành sưu tập Hồng Đức quốc âm thi tập sau này. Toàn tập có 329 bài (nhưng có 1 bài lặp lại ở 2 mục khác nhau nên thực chất là 328 bài), chia làm 5 phần:
1. Thiên địa môn: 59 bài
2. Nhân đạo môn: 46 bài
3. Phong cảnh môn: 66 bài
4. Phẩm vật môn: 70 bài
5. Nhàn ngâm chư phẩm môn: 88 bài
Trước đây đã có nhiều người nghiên cứu giới thiệu thơ Nôm thời Hồng Đức. Đến thế kỷ XX, Nguyễn Văn Tố đã giới thiệu hơn 100 bài thơ Nôm thời Hồng Đức đăng trên báo Nam Phong. Tiếp đến Ngô Tất Tố cũng giới thiệu một số bài trên báo Tri tân. Về sau Hoàng Xuân Hãn, Nghiêm Toản cũng có trích giới thiệu trong các hợp tuyển thơ văn. Năm 1962, NXB Văn hoá đã cho in toàn bộ 328 bài thơ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, bản thảo do Phạm Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên thực hiện. Tiếp đến, năm 1982, NXB Văn học lại cho tái bản, bản thảo vẫn do hai soạn giả trên thực hiện. Dĩ nhiên là lần tái bản này, hai soạn giả đã tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp, nên đã có bổ sung và sửa chữa rất nhiều.
Tác giả chính của Hồng Đức quốc âm thi tập là vua Lê Thánh Tông (1442-1497), tên thật là Lê Tư Thành, là con thứ của vua Lê Thái Tông. Năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa phế truất Nghi Dân, đưa Lê Tư Thành lên ngôi. Dưới thời Lê Thánh Tông, đất nước thịnh trị, các sử gia đời sau tán thưởng là đời thái bình thịnh trị. Nhà vua rất quan tâm đến sáng tác thơ văn, ngoài thơ Nôm ra ông còn để lại nhiều tập thơ văn chữ Hán có giá trị như Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xuý, Cổ tâm bách vịnh, Cổ kim cung từ thi tập, Xuân văn thi tập,...
Các tác giả thời Hồng Đức, ngoài vua Lê Thánh Tông là nguyên suý ra, còn 28 vị hội viên hội Tao Đàn, là:
- Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, người huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, đỗ đồng tiến sĩ năm 1469, phó nguyên suý.
- Đông các Đại học sĩ Đỗ Nhuận người huyện Đông Anh tỉnh Hà Nội, đỗ đồng tiến sĩ năm 1466, phó nguyên suý.
- Đông các Hiệu thư Ngô Luân, người huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ năm 1475, hội viên.
- Đông các Hiệu thư Ngô Hoan, người huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây, đỗ hoàng giáp năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị độc Chưởng viện sự Nguyễn Trọng Ý, người huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ năm 1469, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị độc Chưởng viện sự Lưu Hưng Hiếu, người huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá, đỗ bảng nhãn năm 1484, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị thư Nguyễn Quang Bật, người huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, đỗ trạng nguyên năm 1484, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị thư Nguyễn Đức Huấn, người huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, đỗ thám hoa năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị thư Ngô Thầm, người huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, đỗ bảng nhãn năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị thư Vũ Dương, người huyện Thanh Lâm tỉnh Hải Dương, đỗ trạng nguyên năm 1496, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị chế Ngô Văn Cảnh, người huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, đỗ hoàng giáp năm 1481, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị chế Phạm Trí Khiêm, người huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, đỗ hoàng giáp năm 1484, hội viên.
- Hàn lâm viện Thị chế Lưu Thư Ngạn, người huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng, đỗ thám hoa năm 1490, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Nguyễn Nhân Bị, người huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ năm 1469, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Nguyễn Tôn Miệt, người huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, đỗ tiến sĩ năm 1481, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Nguyễn Bảo Khuê, người huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, đỗ hoàng giáp năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Bùi Phổ, người huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng, đỗ hoàng giáp năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Dương Trực Nguyên, người huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây, đỗ hoàng giáp năm 1481, hội viên.
- Hàn lâm viện Hiệu lý Chu Huân, người huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ năm 1493, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Phan Cẩn Trực, người huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1484.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Nguyễn Ích Tốn người huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, đỗ tiến sĩ năm 1484, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Đỗ Thuấn Thứ, người huyện Mỹ Văn tỉnh Hưng Yên, đỗ tiến sĩ năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Phạm Như Huệ, người tỉnh Thái Bình, đỗ tiến sĩ năm 1487, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Lưu Dịch, người huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1490, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Đàm Thận Huy, người huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, đỗ tiến sĩ năm 1490, hội viên.
- Hàn lâm viện Kiểm thảo Phạm Đạo Phú, người huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, đỗ tiến sĩ năm 1490, hội viên.
Ngoài ra theo Thoái thực ký văn, hội Tao Đàn còn có hai vị sái phu là trạng nguyên Lương Thế Vinh và tiến sĩ Thái Thuận. Hội Tao Đàn thường tổ chức làm thơ xướng hoạ hoặc thơ chữ Hán, hoặc thơ quốc âm. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập còn thấy chép một số bài trùng vần, đó chính là các bài thơ hoạ, chẳng hạn bài Nguyệt (Bài 19) có tới 10 bài hoạ, bài Nguyên đán (Bài 1) có 3 bài hoạ. Hiện nay chưa xác định rõ bài nào của tác giả nào, nên tạm xếp chung vào các tác giả thời Hồng Đức, mà chủ yếu là các tác giả có mặt trong hội Tao Đàn. Riêng vua Lê Thánh Tông, thì ngoài Hồng Đức quốc âm thi tập ra, còn hàng chục văn bản khác có chép thơ Nôm của ông, như Lê triều danh nhân thi tập (VNv.152) chép được 34 bài, Lê Thánh Tông thi (AB.411), Thánh Tông thi tập (VNv.1), Thơ văn tịch tạp sao (A.2303),... Các bài thơ của Lê Thánh Tông chép trong các văn bản trên, có thể coi là dị bản.
Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ Nôm (nhưng tiêu đề hầu hết bằng chữ Hán) thời Hồng Đức do các tác giả thời Hồng Đức biên soạn. Hiện nay chỉ còn một văn bản duy nhất để ở thư viện Viện Hán Nôm ký hiệu AB.292, ngoài ra còn một bản chép tay khác ký hiệu VNv.489 là bản do cụ Nguyễn Gia Vi sao lục lại vào năm 1964 theo yêu cầu của Thư viện Khoa học Trung ương. Tuy thế trong bản sao vẫn có một số chữ sai biệt so với bản AB.292. Trong lịch sử thư tịch Việt Nam chưa có tài liệu nào giới thiệu về quá trình lưu truyền văn bản này. Các tài liệu như Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn, Văn tịch chí của Phan Huy Chú đều không thấy nhắc đến tên gọi Hồng Đức quốc âm thi tập. Đến thời Tự Đức nhà Nguyễn mới thấy có tài liệu nhắc đến thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông. Sách Đại Nam thực…
Bình luận nhanh 1
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.