Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Ca dao » Vè, đồng dao
Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Ca dao » Ca dao về quê hương, đất nước
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 10:44
Nhìn phong cảnh vui vầy,
Khen giời sao khéo vần xây thay là.
Chốn Đức Lân làng ta,
Đất mang hình long mã.
Nom thượng kế hạ,
Đất bàn trải chân long.
Kết một giả đình trung,
Để họp làng họp nước.
Thỉnh lai đàng trước,
Có sơn Hán phủ đầu,
Có cụ lão sống lâu,
Có nhân khang vật thịnh.
Tiền kế hậu tấn,
Sang đã nên sang.
Ai đặt tên cho làng,
Có xóm Thượng, xóm Nam,
Xóm kẻ Chùa, xóm Trong,
Xóm Đồng Diếc, Đình Trung,
Đã lấy làm khôn khéo.
Công thì mực mẹo,
Nông cứ việc cày bừa,
Đi sớm về trưa,
Việc chuyên cần ngày tháng.
Sĩ thời lai vãng,
Chơi cửa Khổng, sân Trình.
Thương những kẻ trong dân,
Đi khắp nơi thông hành,
Thượng nguồn hạ bể.
Sự tình là thế,
Chẳng kém đất ai,
Trông ra xóm ngoài,
Lấy làm vui vẻ.
Bà con già trẻ,
Công buổi luôn tay,
Đàn ông đi cày,
Tư mùa bát tiết.
Ngày thì cuốc nguyệt,
Tối đàn hát vang lừng,
Nghe hoa nở mùa xuân,
Nghe ngoài trong rầm rậy.
Kẻ ngược lên cũng vậy,
Người xuôi xuống cũng là.
Xem phong cảnh làng ta,
Đâu vui vầy hơn nữa.
Chốn Đức Lân làng Mõ,
Nỏ đất nước mô hơn?
Nghe tiếng trống nhịp đờn,
Giọng cò ke dìu dặt.
Đồ ăn chơi tươm tất,
Đất no ấm phong lưu.
Bể rộng trời cao,
Có làng nào hơn nữa?
Năm xưa cưới chợ,
Đặt Mõ là tên,
Để thuận bề giao liên,
Để thuận đường buôn bán,
Được thuận bề mua bán.
Làng bầu cố Thượng Cán,
Coi chợ cho nghiêm trang,
Nghe đổi chác tiền nong,
Xách một roi ra đứng.
Không ăn thì ngập ngựng,
Ăn vô sợ phải đòn,
Miệng nân nỉ nước non,
Mắt dầm dề châu luỵ.
Nguồn cơn tình lệ,
Ai nỏ sợ nỏ kinh.
Yết thị dán giữa đình
Bán buôn có lời lỗ.
Nghĩ như chợ Mõ,
Năm cưới chợ đến giờ.
Nỏ mấy ai sinh điều hư,
Nhưng rồi điều mô nỏ có.
Đồng tiền hột ló,
Vốn là ăn của chung.
Muốn ăn thông đồng,
Cho thuận tình cơ sự.
Trong sách có chữ,
Chữ “thiên tải nhất thì”.
Nỏ mấy năm ra ri,
Loại đồng tiền ra rứa.
Một tháng chín phiên chợ,
Nỏ thiếu giống gì đâu.
Tơ lụa nhiễu Tàu,
Ngồi giăng ra ba dãy.
Cau trù, bông vải,
Ngồi lải rải chan chan.
Đông Tháp, phường Giàn,
Chỉ, kim, gương, lược.
Vịt gà, dép guốc,
Lá nón cũng nhiều.
Phường Lứ dập dìu,
Thường thường lên buôn bán.
Kẻ buôn trăm bán vạn,
Cũng thế mà thôi.
Hàng chè, hàng nồi,
Nâu, mây cũng có.
Ngô, khoai, đậu, ló,
Vô số hằng hà.
Tở mở bưng ra,
Biết bao nhiêu mà kể.
Kẻ thì đài đệ,
Người đầu đội vai mang.
Vô bốn cổng thẳng đàng,
Ù ù như gió thổi.
Tiết mùa thu thị, ổi,
Tiết mùa hạ mít, gai,
Ba dãy, bảy dài,
Đồ ăn chơi cũng ghẹo.
Bún lòng, bánh kẹo,
Thịt cá nỏ thiếu chi.
Thuốc chè hết đi,
Có bà Tri đeo về bán.
Bút giấy đã chán,
Vàng mực ngoại trăm ngàn.
Rượu đặt để chan chan,
Đa đa nhi ích thiện.
Chợ đông như ong kiến,
Họp từ sớm đến chiều.
Xã Quỳ Lăng cũng nhiều,
Dinh Khoa, Tam Thọ.
Tường Lai, Thư Phủ,
Cồn Sắt, kẻ Già.
Làng Duệ, Tam Đa,
Vũ Kỳ, Hương, Thọ.
Làng Giai cũng có,
Làng Cầu chợ đôi người.
Chốn Bàu Gang xa xôi,
Tứ vi đều đến cả.
Bán buôn ra rả,
Thật thậm là vui.
Gái lắm kẻ hẳn hoi,
Trai nhiều người lịch sự.
Đắt thì có bữa,
Ế lại có phiên.
Cứ tính toán đồng tiền,
Miệng lầm bầm xong tuốt.
Thả những lời thưa thốt,
Thả những chuột, những chim.
Chớ kẹo, tắc lìm,
Thâm chày, tắc lái.
Ngồi mà nghĩ lại,
Phong cảnh vui vầy.
Trời khéo vần xây,
Xây về miền chợ Mõ.
Nên giàu nên có,
Nên nhân thọ khang ninh,
Nên phú quý hiển vinh,
Thiên trường, địa cửu.
Hồi tất cả bạn hữu.
Xin nhớ lấy đừng quên.
Buôn bán muốn lắm tiền.
Muốn lời nhiều, vốn ít.
Hãy nghĩ điều nhân đức,
Chớ dối trá quàng xiên.
Để cho làng Mõ mãi mãi bình yên.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.