Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười,
Con gà, be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn, cỏ lác rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi bắt diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.


Nguồn: Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Phân tích bài ca dao “Bao giờ cho đến tháng ba” (1)

Trong văn học dân gian có một thể loại khá đặc biệt là đồng dao. Thực ra, đồng dao cũng là ca dao nhưng thường sáng tác cho trẻ con đọc hoặc hát khi chăn trâu cắt cỏ trên cánh đồng hoặc lúc vui chơi trên bờ đê, ngõ xóm. Bản sắc đồng dao gần gũi với ngụ ngôn, có phong vị của thơ trào phúng, kết hợp với chất trữ tình ngọt ngào vốn có của ca dao, rất phù hợp với tính hồn nhiên, ham hiểu biết của trẻ thơ. Đồng dao có đề tài muôn hình muôn vẻ. Phạm vi miêu tả của nó rất rộng: từ cây cỏ, loài vật đến sinh hoạt xã hội, các trò chơi con trẻ v.v… Nó mở ra trước mắt trẻ em cả một thế giới rộng lớn. Chủ đề đồng dao thường diễn tả tinh thần lạc quan yêu đời, đồng thời ẩn chứa triết lí về nhân sinh quan, thế giới quan của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến ngày xưa. Bài đồng dao dưới đây là bức tranh phong phú về thế giới tự nhiên và cuộc sống của con người.

Những hiện tượng mà bài đồng dao miêu tả toàn là ngược đời, chẳng bao giờ xảy ra trọng thực tế. Qua đó, tác giả chế giễu những hiện tượng phi lí trong xã hội, đồng thời đề cập tới sự xoay vần muôn màu muôn vẻ của thế giới tự nhiên và cuộc sống của con người.

Kết cấu của bài đồng dao này là kiểu kết cấu trùng điệp, đề cập tới rất nhiều nhân vật với nhiều sự kiện thú vị, hấp dẫn. Mở đầu lả một câu hỏi mang tính ước lệ: Bao giờ cho đến tháng ba? Đọc toàn bộ bài đồng dao, ta thấy rất nhiều hiện tượng trong bài không gắn với tháng ba. Chẳng hạn, tháng ba chưa có hồng, chưa có cào cào, v.v… Mặt khác, nếu các hiện tượng như Nắm xôi nuốt trẻ lên mười, Con gà be rượu nuốt người lao đao là có thật thì nó xảy ra quanh năm chứ chẳng cứ gì tháng ba mới có.

Những hiện tượng được miêu tả trong bài đồng dao này nếu nói xuôi thì chẳng có gì để nói. Nói ngược mới có chuyện, chuyện cuộc đời cũng như chuyện nghệ thuật. Cách nói ngược này rất phổ biến trong hò vè, ca dao, chẳng hạn nói ngược trong vè: Lên núi đặt lờ, xuống sông bổ củi; nói ngược trong ca dao; Bao giờ chạch đẻ ngọn đa, Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình, Bao giờ rau diếp làm đình, Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta…

Trong toàn bộ mười một câu tiếp theo của bài đồng dao, các tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật nói ngược làm phương tiện nghệ thuật chủ đạo nhằm lôi cuốn sự chú ý qua người nghe và khắc sâu kiến thức muốn truyền đạt; qua đó kín đáo gửi gắm suy nghĩ và tình cảm của mình.

Tháng ba là thời gian cuối xuân, đầu hạ với những cơn mưa rào, báo hiệu sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Ở đây, tháng ba mang tính chất ước lệ, tượng trưng cho khao khát đổi thay trong cuộc sống của con người. Câu hỏi tu từ mở đẩu bài đồng dao thể hiện khao khát, mong mỏi ấy:

Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Ếch là con vật bé nhỏ thựờng sống quẩn quanh ở góc ao, vũng nước; còn rắn là con vật có nọc độc nguy hiểm, kẻ thù xưa nay của ếch. Tháng ba đến tức là cơ hội vừa đến. Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng, thật bất ngờ và hả hê, thoả mãn vì ếch đã trả được mổi thù truyền kiếp.

Lợn là con vật hiền lành, chỉ sống loanh quanh trong vườn, trong chuồng, là mồi ngon của con hùm to lớn, hung dữ. Vậy mà giờ đây, hùm lại ngoan ngoãn nằm im cho lợn liếm lông. Quả là chuyện lạ, chuyện thay bậc đổi ngôi!
Tiếp theo, bài đồng dạo chuyển sang đề tài sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày:
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười,
Con gà be rượu nuốt người lao đao.
Những quả hồng xinh xắn, đỏ tươi, chín mọng thường thấy trong dịp Tết Trung thu là món quà quý giá mà con cháu trân trọng dâng lên để mừng thọ lão tám mươi. Nắm xôi là món quà thơm ngon hằng ngày rất được ưa thích của trẻ lên mười. Hình ảnh nắm xôi và trẻ lên mười thật xinh xắn, nhỏ bé, dễ thương, dễ mến!

Nhưng cuộc sống đâu chỉ có toàn chuyện vui, chuyện đáng yêu mà bên cạnh đấy còn có những chuyện đáng trách, đáng ghét nữa. Đó là hình ảnh người uống rượu đến mức say nhè mà bài đồng dao gọi là người lao đao. Hình ảnh người say ngật ngưỡng, chệnh choạng, đi không vững sau khi nhắm hết con gà, be rượu thật là đáng cười. Những lúc đó thì đúng là rượu nuốt người, chứ đâu phải người nuốt rượu nữa. Từ xưa, đồng dao đã giễu cợt, châm biếm tệ nghiện rượu, một thói xấu chỉ đem lại tác hại cho cuộc sống con người.

Ở đoạn cuối của bài đồng dao, tác giả tiếp tục dẫn dắt các em nhỏ đến với thế giới sinh động của các loài vật và cây cỏ. Nghệ thuật nói ngược làm cho việc miêu tả thêm ấn tượng và hiệu quả:
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn cỏ lác rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi đánh diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đẩu bồ nông.
Trong cuộc sống thường ngày, mọi việc diễn ra ngược lại như vậy: trũm được dùng để bắt lươn, cá rô bắt cào cào, bò ăn lúa mạ, trâu ăn cỏ năn, cỏ lác, diều hâu bắt gà con và bồ nông đuổi đánh chim ri… Nhưng với cái nhìn hài hước, hóm hỉnh, mọi trật tự của thiên nhiên có sự đảo lộn. Các động từ đuổi bắt, nhảy lên, rình mò, đuổi đánh vỡ đầu thật sinh động, ngộ nghĩnh, có khả năng miêu tả và biểu cảm kì lạ.

Như trên đã nói, nghệ thuật miêu tả của bài đồng dao vô cùng độc đáo. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thủ pháp nội ngược, yếu tố thậm xưng, ước lệ với giọng điệu hài hước, dí dỏm. Nếu chúng ta lược bỏ giọng điệu chế giễu những hiện tượng phi lí ngược đời thì bài đồng dao là bức tranh sinh động về con người và cuộc sống, nhằm mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản về cỏ cây (quả hồng, lúa mạ, cỏ năn, cỏ lác), về loài vật (cá rô, con gà, con lươn, cào cào, chim ri, con bò, con trâu, diều hâu, con hùm, con ếch, bồ nông), về đồ vật, sự vật (nắm xôi be rượu) và về con người (lão tám mươi, trẻ lên mười, người lao đao…). Đó là những kiến thức đầu đời quý giá giúp cho trẻ em làm quen, tìm hiểu, khám phá, tiếp cận dần dần với thế giới tự nhiên phong phú và xã hội con người phức tạp. Cách nói ngược gây ấn tượng và lôi cuốn sự chú ý, tạo sức hấp dẫn, gợi trí tò mò, giúp các em dễ thuộc lòng bài đồng dao để từ đó quan tâm tìm hiểu, suy nghĩ về thế giới xung quanh.

Ngày nay ở nông thôn, mỗi khi cùng nhau vui chơi, nhảy múa, trẻ em vẫn hát đồng dao để làm cho không khí càng thêm hào hứng, sôi động. Có thể ý nghĩa sâu xa, thâm thuý của bài đồng dao này con trẻ chưa hiểu hết, nhưng lời hát, nhịp điệu và trò chơi đi kèm bài đồng dao thì các em đón nhận một cách dễ dàng. Rồi sau này lớn lên, các em sẽ suy ngẫm ra ý tứ sâu xa của bài đồng dao mà lúc còn bé các em đã từng say mê, yêu thích và càng thương yêu thêm chốn quê nghèo, nơi minh đã sinh ra và lớn lên.

Cũng như nhiều bài đồng dao khác, bài đồng dao bao giờ cho đến tháng ba… mãi mãi hấp dẫn người lớn và trẻ em. Nó gợi mở những hiểu biết, suy nghĩ về thiên nhiên, về thế giới động vật, về con người, về khao khát ước mơ công lí, ước mơ hạnh phúc. Sức sống của đồng dao có thể ví như một dòng suối trong veo, cứ róc rách tuôn chảy mà không bao giờ khô cạn.

tửu tận tình do tại
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích bài ca dao “Bao giờ cho đến tháng ba” (2)

Văn học dân gian còn được coi là một thể loại của văn học bình dân. Một thể loại văn học không cần đến những “khuôn vàng, thước ngọc”, những quy tắc những điển tích, điển cố sâu xa. Một trong những thể loại nắm giữ vị trí quan trọng trong văn học dân gian chính là những câu hát dân ca và những bài đồng dao được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

Những bài dân ca, đồng dao với lời ca giản dị, chân thành đã phản ánh chân thực đời sống vật chất và đời sống tinh thần của ông cha ta thời xưa. Đặc biệt trong số đó chính là những bài đồng dao dành cho trẻ chăn trâu, cắt cỏ. Tiêu biểu chính là bài ca dao “Bao giờ cho tới tháng ba”.

Mở đầu bài đồng dao là một câu hỏi, thể hiện sự mong ngóng và có tác dụng gây hứng thú, sự tò mò cho người đọc. Tháng ba không biết có điều gì đặc biệt khiến người ta mong chờ đến vậy. Những câu thơ tiếp theo đã giải thích cho câu hỏi trên. Đó là những hiện tượng bất ngờ, thú vị của đời sống tự nhiên cũng như của con người:

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Những hiện tượng hết sức ngược đời vốn chẳng bao giờ thấy trong thực tế. Vốn chúng ta biết rằng rắn là một loài động vật rất nguy hiểm, loài ăn thịt. Chúng có hàm răng sắc nhọn và có loài thì có nọc độc đáng sợ. Còn ếch là loài động vật hiền lành. Thông thường thì người ta chỉ thấy ếch bị rắn cắn vì ếch là thức ăn khoái khẩu của rắn. Tương tự như vậy với hùm và lợn thì chẳng ai ngờ đến tình huống là lợn lại cả gan dám liếm lông của hùm cả.

Có lẽ với mọi người thì tháng ba như là dịp mà những loài động vật thấp cấp có dịp trả mối thù truyền kiếp. Có thể nói trong câu đồng dao như có sự “thay bậc đổi ngôi” tạo nên sự thú vị, hài hước cho bài. Tuy nhiên không chỉ vậy mà tác giả còn nhắc về thế giới loài người:
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Con gà be rượu nuốt người lao đao
Hồng là một loại quả nhỏ nhắn, món quà mà con cháu thường tặng ông bà nhân dịp mừng thọ với ý nghĩa là sự chúc tụng thể hiện sự hiếu thảo, kính yêu đối với bề trên. Trái lại nắm xôi là thức quà hấp dẫn đối với trẻ con nhưng cả hai thứ đó lại được đảo vị trí vốn có của nó. Vốn nó là những thứ quà được con người thưởng thức nay lại trở thành cái mà có thể “nuốt” được con người. Sự đảo nghịch hài hước tạo nên những tiếng cười vui vẻ, sảng khoái cho người đọc, người nghe. Cuộc sống không chỉ có những người những tình cảm tốt đẹp, trong sáng mà nó còn chứa đựng những mặt trái khác. Những người “lao đao” chính là những người say rượu, bị men rượu khiến cho bước chân không vững vàng, tâm trí không còn thực sự tỉnh táo. Đó chính là những thói hư, tật xấu cần phải phê phán trong xã hội.

Đến những câu thơ cuối, tác giả dân gian vẫn giữ nguyên lối chơi chữ kiểu nói ngược:
Lươn nằm cho trúm bò vào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Lúa mạ nhảy lên ăn bò
Cỏ non, cỏ lác rình mò bắt trâu
Gà con đuổi đánh diều hâu
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông
Tiếp tục là những hình ảnh về các loài vật quen thuộc với người sống ở vùng nông thôn Việt Nam. Với lối chơi chữ đặc sắc, bài đồng dao đã thành công đem lại tiếng cười sảng khoái cho mọi người. Đó còn mang tâm tư, tình cảm mà nhân dân ta gửi gắm ở đó khi họ sống trong một xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công. Trong xã hội ấy có sự phân biệt giữa người giàu, kẻ nghèo, giữa tầng lớp thống trị với giai cấp bị trị. Họ giống như con ếch, con kiến, con lợn... những con vật nhỏ bé là con mồi cho những loài vật khác. Chính vì thế nhân dân mong chờ một “tháng ba” nào đó để được lật ngược thế cờ, hoán vị, đổi ngôi.

Bài đồng ca chính là bức tranh sinh động về thế giới tự nhiên, về đời sống sinh hoạt của con người. Qua đó còn thể hiện ước mơ và khát vọng được hưởng niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời