Kể từ sau năm 1986, bên cạnh những quan niệm sáng tác cũ nói về thân phận người phụ nữ, về tình yêu và lòng chung thuỷ sắt son, tình mẹ con, tình bạn, thơ nữ từ sau 1986 đi sâu khai thác những đề tài mới đầy biến động của đời sống, những va đập của đời thường, niềm khát khao mãnh liệt hướng tới những cái mới, những chân trời lạ lẫm. Các nhà thơ nữ quan niệm làm thơ là để tặng mình, làm thơ là để diễn tả cảm xúc của mình trong mối quan hệ với cuộc sống thường nhật xung quanh. Qua mỗi trang thơ, họ trải lòng mình, “hong nắng nỗi buồn và chưng cất niềm vui”. Họ - như nhà thơ Tuyết Nga khẳng định: “chẳng biết têm trầu, không thạo thêu đan”, họ mang những đặc điểm của lối sống hiện đại, ngay cả cách ăn mặc cũng đổi khác không phải chiếc khăn mỏ quạ, chiếc quần nái đen mà là “mũ cối đội đầu, túi vải khoác vai”.

Nhìn vào sự vận động của thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay có thể thấy quan niệm sáng tác của người phụ nữ đã thay đổi. Các nhà thơ không còn im lặng, sống thu mình như trước mà đã cất tiếng nói cá nhân, đứng lên hành động theo sự mách bảo của bản thân. Nếu người phụ nữ truyền thống quan niệm “cái nết đánh chết cái đẹp” thì người phụ nữ hiện đại cho rằng phụ nữ nên có và cần có vẻ đẹp ở cả hai: tâm hồn lẫn hình thể. Các nhà thơ nữ thẳng thắn bày tỏ thái độ chối bỏ quan niệm truyền thống đầy bất cập về đức hạnh. Đức hạnh của người phụ nữ thời hiện đại với các nhà thơ nữ giờ đây là sự dám yêu và dám sống hết mình. Họ khước từ những chân lý truyền thống mang tính áp đặt lên phái nữ bấy lâu. Đối với họ, không có điều gì phải cấm kị, không có điều gì phải né tránh. Việc bày tỏ cách nhìn thế giới, cuộc sống thông qua kinh nghiệm của cá nhân được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu. Các nhà thơ nữ đưa vào thơ mình những cảm giác lạ, hiện đại với những yếu tố nổi loạn. Dĩ nhiên, quan niệm sáng tác của các cây bút nữ không giống nhau. Mỗi người có một cách thể hiện riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng cho thi đàn. Người thầm kín, người sôi sục, người hồn nhiên, ngơ ngác, người già dặn, thẳm sâu. Có những tìm tòi thành công, có những thể nghiệm còn đang trải qua thử thách. Đó là các nhà thơ nữ: Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh, Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thuý, Trương Quế Chi, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, Đường Hải Yến, Nguyễn Thuý Hằng, Phạm Vân Anh, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thanh Vân, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Trương Gia Hoà, Tú Trinh, Lữ Thị Mai, Trương Hồng Tú.

Những nhà thơ nữ thế hệ 7x, 8x được sinh ra và lớn lên trong hoà bình với sự đổi thay, phát triển như vũ bão về mọi mặt kinh tế, xã hội, quan điểm sáng tác vì thế mà cũng có những thay đổi nhất định. Sự giao lưu, hội nhập quốc tế sâu rộng khiến các nhà thơ nữ du nhập nhiều ảnh hưởng từ những nền văn học Phương Tây dân chủ và khẳng định bản thể một cách tuyệt đối. Nhiều nhà thơ nữ trẻ ngày một xác lập được bản lĩnh và lòng tự tin. Họ khẳng định quan điểm sáng tác của mình bằng cách đối thoại thẳng thắn với độc giả và bạn văn khác giới trên các diễn đàn trong và ngoài nước. Họ nỗ lực để đàn anh, đàn chị công nhận cái mới của mình hoà vào dòng chảy văn học đang ồ ạt những thử nghiệm, cách tân thơ. Họ luôn sẵn sàng làm người thể nghiệm dẫn đầu trong những quan điểm và xu thế mới, gai góc. Quan điểm sáng tác của họ nhiều khi bị coi là “thời thượng”, là “lai căng”, là đi chệch dòng chảy truyền thống nhưng vì khát vọng vươn tới những chân trời mới, những sáng tạo mới, họ sẵn sàng “chịu trận” để khẳng định mình.

Thơ nữ từ năm 1986 đến nay bên cạnh những nét chung vốn có như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ngợi ca dân tộc còn khẳng định vai trò của mình trong đời sống xã hội, thi ca. Đó là sự khẳng định cái tôi trong mọi mối ràng buộc, trách nhiệm với toàn bộ biến động của tâm hồn, tình yêu, dục vọng, cả những khổ đau, hạnh phúc nhỏ nhoi, riêng tư... Ngày xưa, trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, hiện tượng Hồ Xuân Hương xuất hiện là một dấu mốc phát triển quan trọng trong lịch sử văn học của nữ giới, thì ngày nay, các tác giả thế hệ mới hoàn toàn tự ý thức về bản ngã, tự khẳng định bản ngã như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Đinh Thị Như Thuỷ, Hoàng Ly Ly, Phạm Thị Ngọc Liên, Bình Nguyên Trang, Tuyết Nga, Lê Viết Hoàng Mai, Nhật Lệ, Khương Hà, Thanh Xuân, Nguyệt Phạm... đã làm cho diện mạo thơ nữ ngày một khởi sắc.

Khi bị gọi nhầm tên
Tôi không nói gì
Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp
- Tôi bỏ đi

Tôi là tôi
Một bản thể đầy mâu thuẫn

Bất cứ khi nào trên sân khấu cuộc đời
Tôi vẫn là diễn viên tồi
Bởi tôi không hoá thân để nhập vai người khác
(Tôi - Vi Thuỳ Linh)
Thơ nữ trẻ khẳng định quan điểm sáng tác của mình bằng cái “tôi” trẻ trung, tự chịu trách nhiệm trước mọi biến thiên của đời sống. “Trong thơ, họ nói lên tiếng nói cá nhân tuyệt đích và biểu lộ tư tưởng của mình về đời sống. Những quan niệm, luận giải, đúc kết về nhân sinh, thế sự qua lăng kính của chính những va đập với cuộc đời. Đó là nhu cầu của bản thể với những dằn vặt, suy tư tự vẫn, muốn lột xác câu chữ, thoát khỏi những đơn điệu thường ngày”. Họ có nhu cầu nói về chính những va chạm của mình với mọi cấp độ đời sống, khẳng định cái tôi hiện hữu trong đất trời với những nỗi buồn đau, yêu đương, hoà vào mạch chảy đương đại những rung động cá nhân, sự hối thúc của cá nhân trước đời sống muôn vẻ. Họ khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Họ thả sức vẫy vùng trong một khu vườn bao la những ý tưởng bung phá, không chấp nhận sự gò bó, áp đặt:
Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi
Hãy để con tự đi
Độc mã
Quyết làm những gì mình muốn...
(Tôi - Vì Thuỳ Linh).
Họ cống hiến tuổi trẻ, sức lực của mình với châm ngôn: “Ai cũng chỉ sống một lần, hãy sống cho ra sống” vì thế họ luôn cháy hết mình trong đam mê.

Thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay đang có những thể nghiệm mới để khẳng định vị thế, quan điểm sáng tác, cái tôi cá nhân của mình. Tinh thần mới mẻ trong thơ đã vượt ra khỏi những xúc cảm thường tình, khẳng định những giá trị của phái giới trong đời sống. Các nhà thơ nữ hiện nay đang cố gắng để khác các thế hệ đi trước. Họ tạo ra một không khí dân chủ trên thi đàn với nhiều giọng điệu, nhiều khuynh hướng. Họ tự do trong cảm xúc, trong cách thể hiện. Họ chú trọng vào việc khai thác tâm trạng cá nhân và luôn cố gắng tìm cách phô diễn những xúc cảm của mình bằng những hình thức nghệ thuật có nhiều tìm tòi, đổi mới. Họ dám nói lên tiếng nói của riêng mình, không còn bị ràng buộc và quá e dè như lớp thi sĩ đàn chị. Những nhà thơ nữ hôm nay đã không còn quanh quẩn với những quan niệm truyền thống. Một số người đã dám đưa vào thơ mình những cảm giác khác lạ gắn với đời sống hiện đại, kể cả những bức tranh mang màu sắc lập thể.

Thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1986 đi sâu khai thác, khám phá những chuyển động căng phồng sự sống, khám phá tình yêu, nhục cảm, cái tôi cá nhân bí ẩn và đầy bất trắc. Một thế hệ mới đã xuất hiện như Vi Thuỳ Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, Đường Hải Yến, Nguyễn Thuý Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thanh Vân, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Trương Gia Hoà, Tú Trinh, Lữ Thị Mai, Trương Hồng Tú... Họ là những cây bút trẻ thuộc thế hệ 8x, 9x chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ trên từng trang thơ. Những tác giả này dù ít hay nhiều họ đã tự tạo cho mình một lối đi riêng “tinh tế hay bộc trực; nhẹ nhàng hay mạnh mẽ; thách thức hay khiêm nhường; dữ dội hay dịu êm”. Tất cả đã tạo cho thơ nữ một dòng chảy liên tục không ngắt quãng.

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, những nhà thơ nữ trẻ đã tận dụng sự ưu việt của công nghệ để tạo ra cơ hội kết nối toàn cầu. Thế hệ thơ nữ trẻ đang có những thay đổi rõ rệt trong quan niệm sáng tác. Họ dám sống, dám đương đầu với thử thách, dám là chính mình trong cuộc kiếm tìm những giá trị nghệ thuật. Thậm chí, đôi khi “họ khoác lên mình tấm áo thi ca như một thứ trang sức để giải trí, để giải thoát mình khỏi sự bộn bề của cuộc sống, của nỗi cô đơn và sự bận rộn của đời sống đương đại”. Nhiều cây bút nữ trẻ đã có tác phẩm bước đầu ghi được dấu ấn trong lòng độc giả. Thơ của họ là tiếng nói của thế hệ biết tận hưởng những vang âm của đời sống. Họ không muốn chỉ là người biểu hiện cuộc sống trên trang viết mà còn muốn tạo dựng, phơi mở một thế giới khác trong chính thế giới hiện thực này, thế giới của sự vươn tới mãnh liệt và đầy khao khát. Tâm hồn thi ca của họ đa cảm, tinh tế, luôn rung lên những nhịp cảm xúc nóng bỏng, chân thực và liều lĩnh. Họ đang cố gắng tạo dựng cho mình một phong cách mới trong trào lưu thơ Việt Nam đương đại. Tác phẩm của họ mang hơi thở của thời đại hội nhập thế giới, nguồn thơ của họ mang nhiều tâm trạng của lớp trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời mới trong một thế giới mở cửa và nhiều liên kết.

Các nhà thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1986 gửi gắm vào sáng tác của mình những cung bậc tình cảm mang dấu ấn cái tôi cá nhân một cách trực diện. Họ được đón nhận nhiều luồng văn hoá Đông - Tây nên tác phẩm mang vẻ đẹp hiện đại, cách nói hiện đại, suy nghĩ hiện đại. Nếu như thế hệ trước, làm thơ là để thể hiện lòng mình trước thời cuộc, đặt mình trong thời cuộc, thì hiện nay họ nghĩ về mình trước bộn bề của đời sống. Họ xác lập cái tôi bản thể ngay từ cách đặt nhan đề cho sáng tác của mình. Những tựa đề ví von sáo mòn với những từ ngữ mì lệ trước đây đã được thay thế bằng những tựa đề chứa đầy sức sống mạnh mẽ, tươi trẻ, “khơi gợi những nhận diện về vẻ đẹp hình thể và hồn vía của người đàn bà”. Từ những tựa đề tập thơ tôn vinh bản ngã: Khát, Linh, Tôi đang lớn,... đến những tên bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân: Tôi, Hai miền hoa Thuỳ Linh, Sinh năm 1980, Hãy phủ thơ khắp thế giới của em, Viết cho ngày sinh nhật 10.10.2003,... Mỗi nhà thơ nữ đã từng bước xác lập và khẳng định rõ ràng quan điểm sáng tác của mình trong từng tác phẩm.

Nếu như nhà thơ tượng trưng P. Valéry cho thơ là sự nở hoa của trí tuệ, nhà thi học Trung Quốc thời Tây Tấn Lục Cơ cho thơ là sự rung động của Đạo, Tố Hữu cho “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chỉ”, “Thơ là tiếng nói tri âm”... “Thơ là chuyện đồng điệu” thì những người phụ nữ viết thơ chỉ đơn giản là tìm nơi giãi bày những vất vả, lo toan của cuộc sống hàng ngày. Họ xác định viết trước tiên cho mình, sau đó cho phái mình để bộc bạch tất cả những tâm sự về thân phận đàn bà trong tình yêu, cuộc sống vì vậy, với họ, “sáng tác thơ là một nhu cầu tự thân, một khát khao, một ám ảnh, một nghiệp chướng”. Có thể thấy, các nhà thơ nữ đã dệt nên những vần thơ đằm thắm bằng chính tâm hồn và trái tim phụ nữ cao đẹp. Vì thế, trong ý thức, quan niệm sáng tác và trong tìm tòi nghệ thuật của các nhà thơ nữ, họ muốn khẳng định mình, khẳng định tiếng nói của mình, khẳng định trang viết của mình một cách mạnh mẽ, không bị lệ thuộc bởi nền văn hoá phụ hệ.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]