Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Thiên hựu thơm nhuần chẳng chút [1],
Nghi gia đều ngợi thể quang thư.
Dặn cầm kính cẩn sinh tương tảo,
Mựa thói kiêu xa cậy luống ngơ.
Nhu thuận[2] khăng khăng lời Dịch huấn[3],
Khiên cung khắn khắn nghĩa Ngu thư[4].
Quế lan sớm trỗi[5] điềm gia dĩ,
Tích thiện đành hay khánh hữu dư.


Nguyên dẫn: “Dịch bị tam tài, thi xưng tứ thuỷ. Nghi âm dương chi chính vị, thành phối hợp chi cập thời. Tư duy phong hoá chi đoan, thực nãi di luân chi đại. Vận điệu cầm sắt lưỡng hả lưu hinh. Lễ cẩn hành cư, nghĩa phương thức cốc. Đặc hình cảnh huấn, dụng tác bội châu.” (Quẻ Dịch đủ cả tam tài, thơ gọi là tứ thuỷ. Nên chính vị âm dương để kịp thời phối hợp. Nay duy có đầu mối phong hoá mới thực là vận lớn của di luân. Vần điệu cầm sắt, lặng lẽ đưa hương. Lễ chỉ có ngọc cư ngọc hành, nghĩa vừa mới vào quy củ. Đặng ban lời cảnh giới, dùng làm ngọc bội ngọc châu.)

Chú thích:
[1]
Riêng tư.
[2]
Tính tình mềm mại, thuận hoà.
[3]
Lời dạy trong Kinh dịch.
[4]
Sách thánh hiền.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]