Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn

Đăng bởi Vanachi vào 04/10/2018 20:22, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 06/08/2019 22:13

書筆特賜-奉攷致士詩

忠勤𠄩𡨸搵周旋,
成遂𫢩它斐所願。
山水圖丰油點啜,
耆英席合默邁𡅳。
朗𬐩呵朗念醫國,
醝道強醝𡎝教禪。
勉勉矣𥶂句益壯,
祿𡗶爵渃唯綿綿。

 

Thư bút đặc tứ bài 2 - Phụng khảo trí sĩ thi

Trung cần hai chữ ổn chu tuyền,
Thành toại nay đà phỉ sở nguyền.
Sơn thuỷ đồ phong dầu điểm xuyết,
Kỳ anh tiệc hợp mặc mời khuyên.
Lắng vui ha lắng niềm y quốc,
Say đạo càng say cõi giáo thiền.
Mến mến hãy ghi câu ích tráng,
Lộc trời tước nước dõi miên miên.


Bài thơ Nôm này được tìm thấy tại hai nơi khác nhau:

1. Bia tại lăng Miên quận công (ký hiệu 9213-14) ở huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, với tên Thư bút đặc tứ 書筆特賜, chép hai bài thơ ở hai mặt, trước mỗi bài đều có lời tiểu dẫn, cuối bia có khắc một thẻ kim bài của ông được ban hai chữ “Thưởng công”. Đây là bài thứ hai, đề năm Mậu Thìn (1748).

Sách Càn Nguyên ngự chế thi tập (ký hiệu A.1319) có một bài khải do Trịnh Doanh soạn, Phan Lê Phiên biên tập, trong đó có ghi “Thưởng lệ các bậc kỳ lão, gồm 18 bài ban cho các bậc đại thần về hưu như: Cảnh quận công, Miên quận công, Nguyễn Huy Nhuận...” Sử còn ghi năm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Điều đó chứng tỏ, hai bài thơ trên do chúa Trịnh Doanh soạn và ban cho Miên quận công. Một bài ban vào dịp lên ngôi năm Canh Thìn (1740), rồi 8 năm sau lại ban một bài nữa vào năm Mậu Thìn (1748). Miên quận công tức Trần Đình Miên, tự Như Hạo, nguyên quán hương Chấp Pháp, xã Lương Phong, huyện Việt Yên, phủ Bắc Hà (nay là xã Thiện Mỹ, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) từng làm trưởng đốc Kinh Bắc, có nhiều công trong việc đánh dẹp quân Nguyễn Hữu Cầu, được ban thuỵ là Đốc quán Đại tướng quân, phong quận công.

Nguồn: Nguyễn Quốc Khánh, “Hai bài thơ Nôm khắc trên bia tại làng Miên quận công, huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang”, Thông báo Hán Nôm học, 2003

2. Bia dựng sau tam bảo chùa Vạn Phúc, xã Phật Tích, tổng Thụ Phúc, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, với tên Phụng khảo trí sĩ thi 奉攷致仕詩, thác bản hiện lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, nhưng chỉ có một bài này mà không có bài thứ nhất.

Tiểu dẫn: “Thiện thụ phúc, khiêm thụ ích, tín thiên đạo chi chiêu chương; Trí giả lạc, nhân giả thọ, hệ nhất tâm chi động giác. Gia nãi nghĩa địch Khôn tòng, đạo chi Cấn chỉ. Vinh hồi ý cẩm, nguyện phó bình sinh. Viên thuật quốc âm nhất luật, dĩ biểu ưu lão chi ý. Mậu Thìn mạnh thu ngũ ngũ đề.” 善受福,謙受益,信天道之昭彰;知者樂,仁者壽,係一心之動覺。嘉乃義迪坤從道之艮止,榮回衣錦,願副平生。爰述國音一律,以表優老之意。戊辰孟秋五五題 (Thiện lành thì được phúc, khiêm nhượng thì được thêm, thực tin đạo trời rất tỏ; Bậc trí giả thì được an lạc, bậc nhân giả thì được thọ khang, đều liên hệ cái động cái giác của tại tâm. Lại thêm khen đức thuận theo Khôn, đạo Cấn dừng đủ. Được mặc gấm vinh quy, thoả nguyện ước lúc bình sinh. Nay xin thuật một bài quốc âm, biểu tỏ cái ý ưu ái bậc lão thành. Đề ngày 10 tháng đầu thu năm Mậu Thìn (1748)).

Lạc khoản: “Lê hoàng triều Cảnh Hưng thập lục niên tuế tại Ất Hợi nguyệt tại Kỷ Sửu cốc nhật thuyên” 黎皇朝景興拾陸年,歲在己亥,月在己丑,穀日鐫 (Khắc ngày tốt tháng Kỷ Sửu năm Ất Hợi niên hiệu hoàng triều Cảnh Hưng thứ 16 (1755) triều Lê).