Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè địa danh, lịch sử, xã hội
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 08:43
I.
Giở trang quốc sử nước nhà,
Tơ vò trăm đoạn, lệ sa hai hàng!
Năm Mùi hiện tượng kinh hoàng,
Trên trời ráng đỏ, rìa vàng, tán xanh.
Ngẫm xem thời vận nước mình,
Nhân dân đồ khổ, triều đình đa đoan.
Vua quan tự mãn, cầu an,
Ít lo việc nước, chỉ bàn văn chương.
Có người hiến sách cải lương,
Cho người du học theo đường văn minh.
Thế nhưng tất cả triều đình,
Chẳng nghe thời chớ, gia hình thương ôi!
Cho rằng: “Nước chỉ chảy xuôi,
Đèn kia đỏ ngược, lẽ trời quai vi?
Xe gì không kéo đẩy đi,
Mà xe tự chuyển, chuyện kỳ khó nghe?
Nhật là mọi thấp lè tè,
Thì theo học mọi một bề lạ chi?
Việt Nam là giống thần kỳ,
Con thần cháu thánh chuyện gì học ai?”
Thế nên chăm việc thơ bài,
Gió ùn sóng giục bên ngoài mặc thây.
Bế quan toả cảng, khoanh tay,
Để cho tiếng sấm nổ ngay đất bằng.
Ngoài thì quân Pháp xâm lăng,
Trong vua Tự Đức sao băng tháng Mùi.
Ở ngôi băm sáu năm trời,
Không con kế tự, than ôi lỡ làng.
Muốn cho đế hệ miên tràng,
Ngài nuôi ba vị điệt hoàng trong cung.
Bây giờ thánh thể tương chung,
Triệu triều thần lại, phán cùng bá quan:
“Sau khi trẫm cỡi xe loan,
Phải theo di chiếu cho an nước nhà.
Trẫm nuôi hoàng điệt có ba,
Ngôi trời kế vị phải là trưởng huynh.
Di ngôn truyền lại chư khanh,
Trước hai Phụ chánh nhân danh đại thần.
Chữ rằng: Thần báo quân ân,
Hoàng thiên hữu nhãn, mười phần xét soi.”
Ban xong di chúc mấy lời,
Ngài liền án giá về thời thiên cung.
Bá quan hiện diện cung trung,
Cả văn lẫn võ vô cùng ai bị.
Trong khi quốc thế lâm nguy,
Nam Quan, Bắc Lạng đang kỳ binh qua.
Ngày nay thánh đế băng hà,
Than ôi việc nước sao mà rối bong.
Cùng nhau lạy trước mình rồng,
Thảy đều châu luỵ ròng ròng như mưa!
Hoàng môn khi ấy liền thưa:
“Nước nhà chớ để không vua một ngày,
Xin tuân di chiếu định ngày,
Rước hoàng trưởng tử, tôn ngay ngôi rồng.”
Tư văn bố cáo ngoài trong,
Cho trăm họ khỏi long đong đảo huyền.
Triều thần tất cả an nhiên,
Hai quan Phụ chánh liền truyền lệnh ra:
“Truyền đem phụng liễn, loan xa,
Rước ông Dục Đức về mà đăng quang.”
Được ba ngày ở ngai vàng,
Bỗng dưng tiếng dữ nghe vang trong ngoài.
Nhân dân nào rõ nguyên lai,
Cùng nhau bàn tán vắn dài thở than.
Việc nơi cung khuyết triều đàng,
Chỉ duy văn võ bá quan mới tường.
Thế nhưng các bậc đống lương,
Không nghe một tiếng đường đường biện minh.
Chỉ đành đánh chữ mần thinh,
Để cho hai gã mặc tình tác oai.
Đã không cho ngự trên ngai,
Lại đem cấm cố, then cài khoá ngăn.
Cấm hàng quốc thích, hoàng thân,
Viếng thăm, bới xách, muôn phần thương ôi!
Nội triều ngậm miệng im hơi,
Dám đâu bẻ nạng chống trời mà mong.
Có quan Ngự sử Đình Phùng,
Là người khẳng khái cương trung xưa rày.
Dám dùng lẽ chánh lời ngay,
Đứng ra đàn hặc, chẳng mảy may kiêng dè.
Hai ông đã chẳng thèm nghe,
Lại còn cách chức, đuổi về làm dân.
Ghê thay hai gã lộng thần,
Làm điều cực ác phi luân, nỡ lòng!
Truất ngôi, đem bỏ lao lung,
E rằng vây cánh đem ông bôn đào.
Họ bèn truyền lệnh gắt gao:
“Cấm không ai được kẻ vào người ra:
Thân bằng, quyến thuộc gần xa,
Dầu là cốt nhục, dầu là thân sinh.
Không tuân sẽ bị cực hình,
Chỉ trừ đặc biệt một mình vợ thôi.”
Từ ngày ông bị truất ngôi,
Năm ngày bà được vào nơi ngục đình.
Thấy điều nghiêm ngặt mà kinh,
Ngục quan khám xét cùng mình khắp nơi.
Khám xong hùng hổ thốt lời:
“Hãy đi vào gấp, thăm rồi mà ra!”
Như ai xui khiến cho bà,
Biết ông đói khát, chắc đà héo khô.
Vào thăm bới xách không cho,
Giả vờ ngửa mặt bờ hồ trượt chân.
Loi ngoi ướt hết áo quần,
Lội lên được phép vào gần để thăm.
Mang theo quần áo ướt đầm,
Vừa than vừa nháy hiệu ngầm cho ông.
Năm ngày khô cổ, đói lòng,
Ông liền vắt uống như rồng một thôi!
Cùng nhau khóc lóc một hồi,
Một lời vĩnh quyết, đất trời ngừng quay.
Không cơm không nước sáu ngày,
Quá cơn ông nuốt khăn tay vào lòng.
Đáng ra bảy bữa là xong,
Nhờ khăn tay ấy mà ông thêm ngày,
Đến khi nhắm mắt xuôi tay,
Chỉ hai người lính khiêng này đem đi.
Làm theo mật lệnh thuyền thi:
Đem lên chôn tại chu vi Ngự Bình.
Ai ngờ một việc thiên sinh:
Đến đồng An Cựu thình lình đứt dây.
Đi xa, gánh lại nặng thay;
Bàn nhau: “Chôn quách nơi này đi thôi!”
Ra tay hạ bệ ông rồi,
Nội triều văn võ đều coi làm thường.
Ngang nhiên nhiễu loạn triều cương,
Đình thần đều sợ tai ương vào mình.
Tha hồ hai gã lộng hành,
Muốn cho ai bại, ai thành thì cho.
Đình thần đều rụt cổ cò,
Cùng nhau chỉ biết nhỏ to xầm xì.
Ba ngang một sổ đáng vì,
Lại thêm chữ bạch thành chi ra hoàng.
Làm điều tàn ngược, dọc ngang,
Lộng quyền phế lập có màng ai đâu.
Thánh hoàng an giá chưa lâu,
Manh tâm vi mạng ngõ hầu tự chuyên.
Ra tay truất phế đã yên,
Lại e thiên hạ đảo huyền phân vân.
Bàn cùng văn võ đình thần,
Rước ông Hồng Dật, hoàng thân trưởng thành.
Rộn ràng xa giá cung nghênh,
Tuyên ngôn bố cáo: “Trạch danh trí tài”.
Chữ “lương”, “nguyệt” đứng ngang vai,
Tức là Văn Lãng, tôn ngài lên ngôi.
Chẳng qua vận nước, thời trời,
Xui nên hai gã đổi dời kỷ cương.
Xui ra trưng triệu bất tường,
Đồng dao “tứ nguyệt tam vương” lan tràn.
Những là “phân thuyết” tối nan,
“Nhất giang lưỡng quốc”, khốn an nước nhà.
Tiên hoàng vừa mới chơi xa,
Những đàn với hặc, thôi đà tứ tung!
Ai mà nghịch ý, không dung,
Biết đường xu phụ, a tùng thì thôi.
Tân quân lo sợ bồi hồi,
Ngồi trên bệ ngọc như ngồi đầu voi.
Đầu voi ai buộc mình ngồi,
Thấy xe đi trước nghiêng nồi mà e!
Một hôm nước mắt dầm dề,
Vào tâu Thái hậu, tỉ tê mấy lời:
“Phần con nguy lắm, mẹ ơi!
Cớ sao họ bắt lên ngôi làm gì?
Đêm ngày con những sầu bi,
Làm vua mà có quyền chi đâu nào?”
Thánh bà nước mắt tuôn trào,
Ôm con: “Mẹ cũng ngồi nào có yên”.
Ai ngờ Hoàng đế quy thiên,
Xui nên triều chính đảo điên trăm bề.
Ba quân thiên hạ đều ghê,
Quyền hào hai gã tràn trề mà kinh!
Ưng ai tự tác tự hành,
Cầm quyền sinh sát, xưng danh “tướng thần”.
II.
Từ khi tiền đế mãn phần,
Xong phần phế lập, đến phần trị tang.
Tân quân ngự tại đền vàng,
Phán truyền văn võ phát tang trạch ngày.
Các quan Lễ bộ tâu bày:
Thông tư bá tánh biết rày quốc tang.
Quận, châu, thôn, ấp, xóm làng,
Tú tài, bá hộ thọ tang trăm ngày.
Quốc tang tối trọng xưa nay,
Phải theo quốc lệ cấm ngay mọi điều:
Cấm dùng vũ nhạc tiêu, thiều,
Cấm dùng màu sắc đỏ điều, thắm xanh.
Từ quan lại đến dân binh,
Đều toàn một sắc trắng tinh mà dùng.
Tỉnh quan sở tại hội đồng,
Tuân hành nhất thiết hết lòng liệu lo.
Những kỳ tế tự nhỏ to,
Thiết nhi bất tác, chớ cho linh đình.
Bao giờ tang tế sự thành,
Lại tư châu quận, thị thành tường tri.
Nói về giàn giá tang nghi,
Lâu đài, cung điện đều ghi vẻ sầu.
Ngọ Môn năm cửa chín lầu,
Và từ Lương Tạ, Phu Văn Lâu ngoài thành;
Thái Hoà, Cần Chánh, Quang Minh
Văn Minh, Võ Hiển, Càn Thành, Cung Môn,…
Cấm Thành rực rỡ vàng son,
Gặp tang Thánh đế hao mòn vẻ sinh.
Phụng Tiên, Diên Thọ, Trường Ninh,
Cửa Nội, Chương Đức, Hoà Bình, Hiển Nhơn,…
Các cung Trường Lạc, Khâm Văn,
Tang nghi các thứ đều trần thiết ra.
Thay cho rèm tản, hoàng la,
Lại còn cắt đặt quan nha chầu hầu.
Nội cung Thái giám đứng đầu,
Cẩm y, Loan giá thì chầu bên ngai.
Cẩm binh, Túc vệ đứng ngoài,
Thượng trà, thượng thiện, liệt bài nghiêm trang.
Tinh binh túc trực hai hàng,
Chầu hầu Hoàng đế nghiêm trang vô cùng.
Lại còn thuỷ bộ sang sông,
Long châu lệ hải dự đồng bái tang.
Triều thần văn võ các hàm,
Cứ theo phẩm trật thọ tang hết lòng.
Tang nghi đâu đấy đã xong,
Khâm Thiên, Bộ Lễ hội đồng một khi.
Trạch ngày nguyệt đức tuế chi,
Thiên ân, thiên đức được thì mới hay.
Tra đi, phúc lại ghê thay,
Cuối cùng hăm tám là ngày ninh lăng.
Đến ngày quân kéo cờ giăng,
Nghênh lên an tại Khiêm Lăng, sự hoàn.
III.
Ninh lăng tang lễ vừa an,
Bỗng đâu có sớ trong Hàn về kinh.
Sớ về tâu rõ sự tình:
Rằng nay quân Pháp thình lình vào đây.
Bộ quan chẳng dám trễ chầy.
Điện tiền vội vã giãi bày, tâu qua
“Tàu Tây đậu tại Sơn Chà,
Một đoàn tám chiếc, quân mà cũng đông.”
Tân quân phán trước bệ rồng:
“Lang Sa sứ vụ thường dùng vật chi?”
Bá quan tâu trước đơn trì:
“Lợn, bò, chuối nải, có khi trứng gà.”
Tân quân ngự chỉ phán ra:
“Phải chăng Tây lại niết ta rõ ràng?
Nước ta vừa gặp quốc tang,
Thừa khi bối rối, nó càng giương uy.
Từ năm Nhâm Ngọ trở đi,
Mực sa xuống giấy dễ gì tẩy ra.
Tiên hoàng trước phải nghị hoà,
Miền Đông ba tỉnh, Tây đà chiếm tranh.
Đoạt xong họ lại sự sanh,
Chẳng qua là lúc nước mình suy vi.
Bây giờ trẫm phán làm ri…
Các quan cơ mật vậy thì liệu toan.
Quốc tang vừa mới sự hoàn,
Liệu bề thu xếp cho an nước nhà.”
Triều đình nghị kế chưa ra,
Thì tàu Tây đã đến mà Thuận An!
Thuận An xung yếu muôn vàn,
Có thành Trấn Hải bảo toàn quốc gia.
Ngày rằm nó ở Sơn Chà,
Qua ngày mười sáu nó ra Hải thành.
Tàu Tây đến lúc bình minh,
Nó xin vào cửa, quan mình không cho.
Pháp lang bèn bắn tin vô:
“Trước là điếu lễ, sau phò Nam bang;
Trước là dâng lễ điếu tang,
Sau là bàn việc miếu đàng quốc gia.”
Quan Tiễu khi ấy truyền ra:
“Nói thì hay vậy, nhưng mà khó tin,
Kìa kìa ai nấy hãy nhìn
Tam tài cứ kéo, khó tin phải phòng.”
Ngài liền tả bức tấu phong:
“Trước tâu Chúa thượng sau cùng các quan,
Tây nay đến cửa Thuận An,
Tàu đồng tám chiếc và ngàn tinh binh.
Tâu vua, bẩm với triều đình
Để xin cự chiến, giao tranh thi tài.
Làm cho đứt nẻo vãng lai,
Tiếp nghênh, yến ẩm bày hoài nó khinh.”
Một mặt phi tấu triều đình,
Một mặt bố trận bài binh đề phòng.
Luỹ tả, luỹ hữu, đạo trung,
Riêng phần đạo hậu đóng trong Hải đài.
Lệnh truyền kiếm, kích bài khai,
Quyết tâm sống mái một hai mất còn.
Truyền quân phận sự cho tròn,
Truyền xong ngài lại qua đồn Hoà Duân.
Truyền quân phấn khởi tinh thần,
Trong ngoài chỉnh bị mười phần hẳn hoi.
Quân ta chuẩn bị vừa rồi,
Thì liền súng nổ ngoài khơi bắn vào.
Gặp khi biển động ba đào,
Không đổ bộ được, nó ào bắn vô.
Bao nhiêu ghe nôốc thuyền đò,
Thoảng nghe tiếng súng đều lo lắng mình.
Quanh vùng thôn xã, dân đinh,
Quá kinh tiếng súng, băng mình chạy xa.
Ùn ùn bỏ của bỏ nhà,
Phen này chắc khổ theo mà giặc Tây!
Ban mai mười sáu, nửa ngày,
Trưa chiều thì tiếng súng rày lặng tanh.
Bên ta vẫn cứ điều binh,
Đến ngày mười bảy giao tranh đì đùng.
Quân ta gươm tuốt, giáo vung,
Súng thì súng xấu, bắn không trúng gì.
Ngẫm xem thật cũng dị kỳ,
Điều ngây thơ ấy ai thì nghĩ ra:
Giặc Tây đến đánh nước ta,
Ta mua súng nó để mà đánh nhau.
Biết rằng kẻ dại to đầu,
Bán cho còn nó vài câu nhún nhường.
Bán cho loại súng điều thương,
Loại này là loại họ thường bắn chim.
Than ôi, vận nước đắm chìm,
Mới ra cớ sự cổ kim để cười!
Thần công thì thật trời ơi,
Nạy xeo không chuyển, nghĩ thời ruột đau!
Đạn to như thế cái đầu,
Bắn ra có chết ai đâu mà hòng!
Tây thời ở dưới tàu đồng,
Bắn lên như xối, đùng đùng ghê thay.
Quân ta gãy cẳng, gãy tay,
Bể đầu, lủng bụng, thảm thay đoạn tình!
Sớ lên phi báo triều đình,
Tâu cùng chúa thượng và trình bá quan:
Xin thêm quân viện hai hàng,
Để giữ cửa Thuận vẹn toàn nguyên y.
Thánh hoàng chuẩn tấu một khi,
Và phê quan tướng vậy thì cầm binh.
Tuyển toàn giáo dưỡng, anh danh,
Võ khoa, võ cử, hậu hành tiếp cung.
Ra tài tả đột, hữu xung,
Quyết trừ cường khấu, an trong nước nhà.
Trong đêm mười bảy, canh ba,
Đông Ba lệnh mở cửa ra tức thì.
Lệnh truyền bất lậu quân ky,
Vừa về Phố Lở, ngài thì trở lui.
Sớ chương cấp tấu tức thời:
Bất thần lâm bệnh, phải hồi bản dinh.
Lệnh kỳ giao lại giáo đình,
Bá quan đều phải ngậm thinh thôi mà.
Có ai mà dám phui ra,
Có ai tham hặc, giao qua bộ hình.
Làm điều ám muội bất minh,
Cương thường đạt lý, niết tình mà thôi.
Tướng quan cáo bệnh phản hồi,
Viện binh vẫn cứ thúc thôi tiến hành.
Quyết bề cự địch giao tranh,
Cho Tây nó biết dân mình dám chơi.
Đêm nay vần vụ, tối trời,
Đường đi lại nhọc, quân thời ngủ say.
Canh năm trống cổ lầu tây,
Lệnh truyền cơm nước đâu đây sẵn sàng.
Nịt nai giáo vác, gươm mang,
Hễ mà được lệnh, nhất tràng tấn công.
Gian nguy nào có sờn lòng,
Ngày ròng dãi nắng, đêm ròng dầm sương.
Dầu cho lao khổ trăm đường,
Quyết lòng bảo vệ biên cương Nam trào.
Ai ngờ Tây thật chước cao,
Nó tìm cửa lấp, nước trào nhảy vô.
Trùng trùng vạn hác thiên hô,
Phân ra từng toán, nó hô bắn liền.
Đánh nhau với đạo quân tiền,
Thật là động địa kinh thiên đùng đùng!
Quân ta chống trả oai hùng,
Một lòng vì nước, một lòng vì vua.
Khổ vì chiến cụ kém thua,
Lại là những thứ đi mua kia mà.
Đạn thì nào có đúc ra,
Đến khi bắn hết, kêu la ồn ào.
Nhưng lòng ái quốc quá cao,
Đạn ria súng nổ, chẳng nao tấc lòng!
Lập ra trận tuyến hoả long,
Quăng ra trái nổ làm vòng cản ngăn.
Khổ vì giặc mạnh vô ngần,
Quân ta thí mạng ngã lăn liên bì.
Hai ngàn lính Quảng Trà My,
Cũng đều vong mạng còn gì nữa đâu!
Người thì rớt chết phá sâu,
Người thì dập xác, mất đầu, quá kinh!
Hừng đông nó đã tiến binh,
Dân gian bừng tỉnh, thất kinh rụng rời!
Khóc la dậy đất vang trời,
Lao xao chạy loạn, tả tơi giày bừa.
Súng Tây nó bắn như mưa,
Kho tàng đổ nát, cây dừa gãy tung.
Ngoài khơi nó rót thần công,
Dầu cho vách sắt, thành đồng cũng tan!
Nhân dân kêu khóc than van,
Trời ơi, trời giúp chi đoàn lâu la!
Đồn Hoà, quan Tiễu trở qua,
Kêu trời, trời hỡi, trời mà thấu đâu.
Thuận An là chỗ yết hầu
Nay Tây chiếm đoạt, thảm đau hỡi trời!
Hai hàng châu luỵ tuôn rơi,
Trời già độc địa hại thời Nam bang.
Ngẫm xem lực lượng hai đàng,
Một trời một vực rõ ràng nói chi.
Đã thua phương tiện chuyển di,
Quân trang, chiến cụ đều thì thô sơ.
Dẫu lòng vị quốc vô bờ,
Mà thua khí giới, khó cơ kiên trì.
Lại làm sớ tấu báo nguy,
Tâu lên Chúa thượng với thì bá quan:
“Tây đà chiếm lấy Thuận An,
Quân chết gần hết mà quan chẳng còn.
Súng Tây phá luỹ, công đồn,
Các quan Trấn Hải chẳng còn một ông.
Nào quan Chưởng vệ Nguyễn Trung,
Vì trung mà đã theo cùng nước non.
Quan Thống Lê Chuẩn chẳng còn,
Quan Hậu Lê Sỹ theo đồn tan hoang.
Thương quan Tham tán Lâm Hoàng,
Tuẫn theo quốc nạn, sử vàng còn ghi.
Kể sao xiết nỗi sầu bi,
Chẳng qua súng Việt không bì súng Tây.
Cúi xin tàu rõ điều này,
Để chờ chước lạ mưu hay được nhờ.
Nghe qua triều nội sững sờ,
Thuận An thất thủ bây giờ hết mong.
Nhân dân ai nấy đau lòng,
Cảm thương quân sĩ oan vong tử nàn.
Phố phường dậy tiếng khóc than,
Bỗng quan Tiễu với quân tàn kéo lên.
Ngài vào trình tấu trước đền,
Đầu đuôi tâu hết căn nguyên tình hình:
“Cúi đầu trăm lạy Thánh minh,
Tôi xin thọ tội trói mình làm gương.
Thiếu phương lược, khó chống đương,
Hổ anh làm tướng, không đường thành công.
Thuyền bè cầu nổi cũng không,
Nên khi thuỷ chiến khó lòng điều binh.
Binh gia không luận bại thành,
Để cho mất cửa Thuận, tội mình khó tha.
Cúi xin lượng Thánh hải hà,
Hai đường tha giết, giết tha cam lòng.
May ra lượng Thánh khoan dung,
Tôi xin đái tội lập công đền bồi.
Ngày thì gánh gạch, gánh vôi,
Đêm thời gánh đất bổ bồi cho xong.
Thuận An ta giữ không xong,
Thì ta tính chuyện đề phòng tương lai.
Phải xây lại một hải đài,
Ngang vùng Thanh Phước, Quy Lai đề phòng.
Lo toan tập luyện binh ròng,
Rồi dây e nó tiến công kinh thành.”
IV.
Nội triều tứ trụ, lục khanh,
Nghe tâu ai cũng lạnh mình băn khoăn.
Quan văn chỉ biết thi văn,
Rồng bay, phượng múa, hoa chằn, gấm thêu.
Vua thì Thang, Võ, Thuấn, Nghiêu,
Tôi thì Y Lữ, Tào Tiêu, Nguỵ Hàn,…
Nay nghe thất thủ Thuận An,
Mặt mày xanh xám, ruột gan rối bời!
Ngồi trơ lặng tiếng im hơi,
Dám đem ngòi viết thay lời binh quan.
Tân quân khi ấy phán ra,
Phê quan Trần Thúc nghị hoà cho xong.
Ban cho một chiếc thuyền bồng,
Trạo phu thuỷ bộ hộ tùng ra đi.
Quan Trần bái biệt đơn trì,
Trở về bộ phủ cáo tri mấy lời.
Quan Trần về bộ vừa ngồi,
Hỏi: “Bà mày có nghe thời chi không?
Nay tôi vâng mệnh Cửu trùng,
Thuận An về đó hoà cùng với Tây”.
Quan bà nghe nói hồn bay:
“Giặc vừa chiếm cửa, ông rày phải đi.
Làm tôi không ngại gian nguy,
Thế này, đi có can gì hay không?”.
“Bà mày nói chuyện viễn vông,
Làm tôi chỉ một chữ trung cho bền.
Cơm vua, nợ nước lo đền,
Dầu cho đốt pháo, xông tên cũng đành!
Nước nhà đang lúc điêu linh,
Dẫu mà thập tử nhất sinh chi nài.
Bà lo coi ngó trong ngoài,
Để tôi tròn phận khâm sai giảng hoà.”
Vài lời căn dặn bước ra,
Lệnh truyền: thuỷ thủ, quân nha lên đàng.
Quan bà trong dạ bàng hoàng,
Vài lời tiễn biệt hai hàng châu rơi:
“Tôi xin khấn đất cầu trời,
Sóng êm bể lặng, ông thời thành công.”
Ngập ngừng miệng nói đưa chồng,
Mà gan khô héo, mà lòng sầu bi.
Thấy chồng phụng chiếu ra đi,
Tâm linh báo trước chuyện gì chẳng vui.
Nghe bà tiễn biệt mấy lời,
Lòng ông cũng thấy ngậm ngùi triền miên.
Nhưng ông vội vã lệnh truyền,
Tuỳ quân hoả tốc xuống thuyền ruổi rong.
Giờ Thìn bước xuống thuyền bồng,
Cứ theo thuỷ đạo chèo giong giữa vời.
Ra đi nước thuận, gió xuôi,
Từ thìn tới ngọ đến nơi Trài, Hà.
Trông từ Trấn Hải trông ra,
Bao nhiêu đồn luỹ thảy đà nát tan.
Kinh thành nhờ cửa Thuận An,
Để cho mành, gọ, tàu đoàn thông thương.
Đông tây nam bắc mười phương,
Thuế sưu sản vật tải thường vô đây.
Kinh đô nhờ một cửa này,
Trời sao lại để cho Tây chiếm rồi!
“Tôi nay là phận làm tôi,
Mạng vua truyền xuống, vậy thời khổ thay!
Xem ra cơ cuộc dường này,
Dẫu mình tận trách khó xoay tình hình.
Họ đà quyết kế hưng binh,
Dầu cho nói gãy lưỡi mình (cũng) khó xuôi.
Thôi thì một thác cho rồi,
Lòng này phó có bể trời bao la!
Tội gì quỵ luỵ cầu hoà,
Trước kia Tiên đế vốn đà hoà thân.
Tưởng cùng hoà hiếu giao lân,
Nào ngờ phản trắc xua quân thị thường.
Man tâm lộ liễu đã chường,
Là phường bội bạc, là phường gian manh!
Nay ta phụng chiếu bất thành,
Về không thì chắc triều đình không dung.
Giữa vời trời nước mênh mông,
Cúi xin bái biệt cửu trùng từ đây!”
“Tuỳ quân không dám trễ chầy”,
Hoang mang phi báo lên rày Huế kinh.
Sau khi nghe sứ tâu trình,
Tân quân phán dậy rộng tình chiêu dung.
Theo điều phạt tội, thưởng công,
Lẽ ra bắt tội kém lòng trung can.
Đang hồi quốc sự đa đoan,
Phải lo chung sức tính toan đắp bồi.
Ai dè muốn tránh nợ đời,
Để phần việc nước rối bời cho ai?
Tân quân phán trước kim giai.
“Bây giờ trẫm biết nhờ ai đi hoà?”
Quan Quận quỳ gối tâu qua:
“Tôi xin tình nguyện xông pha chuyến này.”
Tân quân trong dạ mừng thay,
Liền cầm ngự bút phê ngay tức thì.
Quan Quận vâng mạng một khi,
Từ Kinh xuống cửa, chèo đi nửa ngày.
Đến nơi xin yết kiến ngay,
Mở ra hoà hội cùng Tây nghị hoà.
Lang Sa hỏi chuyện giăng ca,
“Sao không đánh nữa, lại hoà làm chi?”
Quan Quận thưa lại làm ri:
“Trước thưa chủ suý, sau thì các quan,
Ngày nay đồn nát luỹ tan,
Là vì quan Tiễu nông gan chống trời.
Qua đây, Pháp đã tỏ lời,
Chỉ lo buôn bán nộp thời thuế quan.
Ít ai ở được chu toàn,
Lấy câu thân thiện cho toàn thuỷ chung.
Nước nào chẳng có anh hùng,
Có người lương thiện, dũng trung, hiền hoà.”
Quan một cho chí quan ba,
Nghe quan Quận nói, bật ra tiếng cười!
Tây bèn hỏi lại một lời:
“Đây là quan Quận nói chơi chăng là?
Nam bang mà có Tây qua,
Vì chưng Tiên đế giao hoà thông thương.
Vừa rồi xảy chuyện tranh đường,
Thì phần trách nhiệm ai đương phen này?”
Nghe qua quan Quận buồn thay:
“Quý quan nói vậy, tôi nay nghẹn lời,
Tôi về tâu với chúa tôi,
Để ngài phán định những lời cao sâu.”
Về trào đặt gối quỳ tâu,
Tâu cùng Chúa thượng đuôi đầu phân minh:
Những lời người Pháp thuyết trình,
Thấy toàn chứa những bất bình thốt ra.
Nay mong yên việc nước nhà,
Nên nhờ Giám mục nghị hoà giao ngôn.
Họ là người giữ phần hồn,
Ắt là lời lẽ ngọt ngon hợp thời.
Đã sinh ra dưới gầm trời,
Dẫu lương dẫu giáo, đều thời thần dân.
Nên nhờ họ xuống phân trần,
Chắc là người Pháp có phần nể nang.
Tân quân nghe tấu rõ ràng,
Nghĩ buồn việc nước bẽ bàng vậy thay!
Bây giờ đã đến nỗi này,
Nước chi phải chịu, kẻo rày khổ dân.
Phán cùng văn võ đình thần,
Đến Toà Giám mục phân trần cạn sâu.
Thế là quan Quận dẫn đầu,
Các quan phái bộ đi sau truy tuỳ.
Qua đò Kẻ Vạn một khi,
Các quan bách bộ liền thì đến nơi.
Đức cha chân bước miệng cười:
“Mừng thay quý vị sang chơi thảo đường,
Thăm chơi hay có chủ trương,
quan xin cứ tỏ tường cho nghe!”
Các quan ai nấy chẳng dè,
Đức cha đã rõ còn che giấu gì:
“Chúng tôi vâng lệnh Đan trì,
Qua nhờ Giám mục giải nguy với cùng.
Trong triều có kẻ thị hùng,
Gây ra chuyện đánh trống xong bỏ đùi.
Nội trào can gián hết lời,
Họ không tự lượng, coi trời bằng vung.
Khoe khoang thao lược anh hùng,
Để thành Trấn Hải khi không điêu tàn.
Làm cho mất cửa Thuận An,
Luỹ đồn tan nát, quân quan hao mòn.
Họ thường khoe giỏi, khoe khôn,
Thật ra hoà ước mực còn chưa khô.
Kết giao hỗ trợ, tương phò,
Hiệp minh lưỡng quốc, tiền đồ còn xa.
Bây giờ Tiên đế thăng hà,
Xin vào điếu lễ vì là không cho.
Vì quan Tiễu chẳng cho vô,
Làm cho chuyện nhỏ thành to mới rầy.
Xảy ra cơ sự dường này,
Nay ta đấu lý với Tây không rồi.”
Đức cha nghe nói liền cười,
Các quan thấy vậy lòng thời được yên.
Thưa rằng: “Quốc vận đảo điên,
Xin cha gắng sức cho yên việc này!”
Cha nghe, chấp nhận lời ngay,
Lãnh về cửa Thuận cùng Tây luận bàn.
Đức cha nhận lời các quan,
Là nhờ quan Quận tính toan sắp bày.
Nói mà yên được việc này,
Thì công quan Quận to thay để đời.
Đến nơi, Tây rót rượu mời,
Hội đồng nghị sự lời lời đổi trao.
Đức cha nói chuyện thao thao,
Rằng: “Tôi từ đặt chân vào nước Nam,
Bao nhiêu lợi lộc chẳng tham,
Chỉ chăm truyền đạo việc làm thắng ngay.
Bây giờ tham dự việc này,
Bề nào cũng nói với Tây thông đồng.
Thuận An là Trấn Hải phòng,
Nay mà thất thủ xui lòng xót xa.
Lòng tôi đâu phải tây tà
Đã thay mặt Chúa nói ra công bình.
Xuống đây không phải vì tình,
Bên kia Nam quốc, bên này Lang Sa.
Đình chùa miếu vũ người ta,
Giao tranh một buổi, thảy đà nát tan!
Quan quân lây đến dân gian,
Kẹt đường khốn chạy hàm oan cuộc này.
Hãy xin xét thấu lời ngay,
Đừng cho rằng, xuống bàn đây vì tình.
Tôi đây một mực công minh,
Dẫu ai gặp đạn vô tình bị thương.
Bất kì là giáo hay lương,
Tôi truyền bổn đạo mọi đường chữa chuyên.
Dầu là Quảng Trị, Thừa Thiên,
Ngãi, Nam, Bình Định chu tuyền bất phân.
Nơi xa cho chí nơi gần,
Chiến chinh là chuyện muôn dân tai nàn.
Thắng thì công trạng vẻ vang,
Bại thì quân sĩ tồi tàn tấm thân.
Thương cho số phận quân dân,
Cung tên lưới đạn muôn phần khổ thay!
Sau khi dứt trận mấy ngày,
Quan Quận cũng đã xuống đây cầu hoà.
Bây giờ xin khá phôi pha,
Dẹp bên cừu địch giao hoà cho xong.”
Lời cha nghị luận quá thông,
Làm cho người Pháp đều cùng cười ha:
“Chúng tôi xin nhận lời cha,
Nếu sau trắc trở vậy mà hãy hay.”
Vui cười từ biệt bắt tay,
Cha cùng phái bộ về ngay thánh đường.
V.
Than ôi, thảm thiết chiến trường,
Vì chưng ngã nhược nhĩ cường cách xa!
Sau khi giao ước giảng hoà,
Từng đoàn lũ lượt trẻ già gái trai:
Kẻ thì thuê mướn thuyền chài,
Để mò tìm những hình hài thân thi.
Người thì bước bộ sầu bị,
Con đi tìm bố, vợ đi tìm chồng!
Cháu tìm chú, bác tìm ông,
Anh em ruột thịt khóc ròng tìm nhau!
Chín chiều ruột thắt quặn đau,
Nhang tàn một nén đốt cầu hồn hoa.
Làm trai vì nợ nước nhà,
Sống khôn, khi thác ắt là linh thiêng.
Hoặc là sấp, hoặc là nghiêng,
Hiển cho biết, kẻo lòng riêng đau buồn!
Khấn rồi luỵ ngọc nhỏ tuôn,
Có người khóc ngất, xỉu luôn hàng giờ.
Người thì chết bụi chết bờ,
Người thì chết nước dật dờ phiêu linh.
Ba ngày hết kỵ nổi sinh,
Sống dồi gió dập bồng bềnh, thương ôi!
Chao ôi, thảm cảnh lạ đời,
Dân Nam nhỏ bé sao trời không thương?
Nước Nam nhỏ bé một phương,
Sao trời dung túng cho phường cường hung?
Hại người mất vợ, mất chồng,
Mất cha, mất mẹ, chịu vòng lầm than.
Một vùng cẩm tú giang san,
Một nền văn hiến bốn ngàn năm dư.
Rành rành trong sách thiên thư,
Tiệt nhiên định phận, thì trừ lũ tham.
Làm chỉ cho khổ dân Nam,
Vì ai ham lợi mà cam khom mình.
Cam tâm mại quốc cầu vinh,
Gian tà, nịnh tặc bia danh muôn đời.
Sống tuy vinh hiển nhất thời,
Tránh sao cho khỏi lưới trời tuy thưa.
Đoạn trường thảm khổ cho chưa,
Tây còn đầy đoạ giày bừa thêm kinh.
Trách thay trong chốn triều đình,
Sao mà ngơ mắt vô tình cho đang!
Đáng ra sức hạ các làng,
Lo bề an táng cho hàng thương vong.
Triều đình há chẳng mủi lòng,
Đem lo những chuyện bao đồng chi đâu.
Mặc ai thảm khổ, xót đau,
Mặc cho người chết ngậm sầu oan vong.
Để thây khắp phá, đầy đồng,
Để cho Tây bắt công không dân mình.
Nó đã đánh giết dân lành,
Bây giờ nó lại bắt mình chôn thây.
Phải đi chôn xác với Tây,
Mồ hôi nước mắt chảy ngày như đêm.
Việc trong nhà nước tuy êm,
Nghĩ mình binh bại chịu mềm mà đau.
Ngày thì lủa tợ như trâu,
Đụng đấu đánh đó, u đầu sưng chân.
Nghĩ thân mà tủi cho thân,
Ban đêm thì lại ngủ trần giữa sương.
Bữa ăn bữa uống thất thường,
Gạo lương phát với muối trường thảm không!
Cũng ăn cho khỏi đói lòng,
Và lo chôn cất kéo trông loã lồ.
Bao nhiêu những giống với hồ,
Kéo thây bỏ xuống, làm mồ tập trung.
Giếng hồ thành những mồ chung:
Lương dẫn vô tội, anh hùng vô danh!
VI.
Mới hay công cuộc nước mình,
Đều nhờ quan Quận điều đình một tay.
Giao hoà hiệp ước với Tây,
Lên kinh xuống cửa, hàng ngày thông thương.
Một toà Khâm sứ đường đường,
Chiếu vào mặt nước sông Hương chập chờn.
Thế là thổ võ giang sơn,
Cỏ hoa phải trải qua cơn gió lùa.
Sự đời mạnh được yếu thua,
Khâm sai Đại Pháp coi vua ra gì.
Việc trào thì lại càng nguy,
Tranh quyền ỷ thế triều quy tan tành!
Tha hồ hai gã hoành hành,
Vua thì hư vị chỉ khoanh tay ngồi.
Triều quan ai dám hở môi,
Đành nhìn Tổ quốc lần hồi nguy nan.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.