南國山河

南國山河南帝居,
截然定分在天書。
如何逆虜來侵犯,
汝等行看取敗虛。

 

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

Dịch nghĩa

Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.


Tương truyền, năm 1077, hơn 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn. Nhiều trận chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát, ở phía nam bờ sông, giả làm thần đọc vang bài thơ trên. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hoà, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giành lại giang sơn, giữ vững bờ cõi Đại Việt. Một số nhận định xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.

Bài thơ này nằm trong truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát. Có tài liệu gắn truyền thuyết này với Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến chống quân Tống năm 1076, sớm nhất là Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên đời Trần), sau đó được nhiều sách sử khác như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án,... chép lại. Trong khi đó, sách Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp đời Trần) lại gắn truyền thuyết này với cuộc chiến chống quân Tống lần thứ nhất thời Tiền Lê của Lê Đại Hành năm 981, với nội dung như sau:
南國山河南帝居,
皇天已定在天書。
如何北虜來侵掠,
白刃翻成破竹餘。

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.

(Sông núi nước Nam thì vua Nam ở.
Thượng đế đã định như vậy trong sách trời.
Cớ sao giặc phương Bắc lại tới đây xâm lược,
Gươm sáng sẽ chém hết các ngươi tan tành như chẻ tre.)
Ngoài ra, bài thơ còn có khoảng hơn 30 dị bản được chép trong các sử và sách khác nhau. Tiêu đề bài thơ do nhóm biên soạn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thêm.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 3 trang (26 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Thước, Nam Trân

Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, 1977
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
413.37
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đổng Chi

Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc dám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
373.43
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Dị bản

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận thiên thành phá trúc dư.

363.17
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Dị bản

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Nhất trận phong ba tận tảo trừ.

373.11
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.


Bản dịch này từ lâu phổ biến trên nhiều sách báo và trong nhà trường, song không ghi tên dịch giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996).
574.46
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về thời điểm ra đời của bài thơ “Nam quốc sơn hà”

Từ trước Cách mạng Tháng Tám cho tới nay, không ít học giả nổi tiếng trong công trình khoa học của mình vẫn khẳng định: bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Có thể kể ra đây một vài công trình tiêu biểu như: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (1), Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn (2), Việt Nam cổ văn học sử (3) của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu (4) của Dương Quảng Hàm, Tổng tập văn học Việt Nam (5) của Văn Tân, Lịch sử văn học Việt Nam (6) của Đinh Gia Khánh... và một số bộ tổng tập lớn của thời đại như Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (7), Thơ văn Lý - Trần (8), Tổng tập văn học Việt Nam (9) v.v...

Gần đây, đã có thêm những ý kiến mới về tác giả cũng như thời điểm ra đời của bài thơ. Có lẽ người đầu tiên đặt lại vấn đề tác giả của bài thơ này là Hà Văn Tấn. Ông cho rằng: “Không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là “đoán” thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt”(10). Bùi Duy Tân trong bài: Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt (11), cũng đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học để khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là khuyết danh, không phải của Lý Thường Kiệt như chủ thuyết trước đây, mặt khác dựa vào truyền thuyết và huyền tích còn lại, ông cũng nêu lên những dự đoán về thời điểm ra đời của bài thơ, cho rằng “truyền thuyết trong có bài thơ không thể xuất hiện muộn hơn năm ra đời sách Việt điện u linh (VĐUL) của Lý Tế Xuyên: 1329”. Và phỏng đoán “Truyền thuyết có thể xuất hiện từ thời Ngô và sau đó là thời Đinh Lê, tức đầu thời tự chủ” (12).

Như chúng ta đã biết, bài thơ Nam quốc sơn hà nằm trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát (13), loại truyền thuyết anh hùng thường thấy trong lịch sử dân tộc. Truyền thuyết này được văn bản hoá sớm nhất ở sách VĐUL (1329). Ngoài ra, truyền thuyết còn được ghi lại trong các bộ sử lớn như Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT) và các sách sử khác như Việt sử tiêu án (VSTA), Việt sử tiệp kính (VSTK), trong các bộ sách khác như Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC), Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC)... Mặt khác, truyền thuyết này cũng sớm được lấy lại trong Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) (tương truyền của Trần Thế Pháp, biên soạn ở thời Trần) và các sưu tập truyện cổ dân gian khác Thiên Nam vân lục liệt truyện (TNVLLT), Mã lân dật sử (MLDS), các sách sử như Việt sử diễn âm (VSDA), Việt sử quốc âm (VSQA), Thiên Nam ngữ lục (TNNL) và các bộ sách khác như ĐNNTC và các bản thần tích sưu tầm trước đây và hiện nay. Với một khối lượng văn bản khá phong phú, có thể thấy truyền thuyết có sức hấp dẫn mạnh mẽ nhiều thế hệ độc giả. Ở các văn bản, truyền thuyết luôn được trình bày với tư cách là truyền thuyết dân gian thành văn. Tuy mang mầu sắc thần quái nhưng lại được hư cấu dựa trên các chi tiết lịch sử có thật nên truyền thuyết mang tính chất của loại hình tự sự dân gian sơ khai. Do được trình bày với tư cách là truyền thuyết dân gian thành văn nên ngay cả khi đã được định hình, nghĩa là đã bị đóng khung trong một nội dung cố định thì tính linh động do bản chất là truyền khẩu dân gian vẫn làm cho truyền thuyết không ngừng vận động và phát triển, vì vậy tính đa dị là phổ biến. Để có thể tìm hiểu thời điểm ra đời của bài thơ, tìm về “bản lai diện mục” của nó, việc thống kê, phân loại và xác định nguồn tư liệu gốc (đối tượng khảo sát của chúng tôi là tư liệu thành văn) là rất cần thiết. Nếu không giải quyết tốt vấn đề trên thì mọi sự phân tích, đánh giá đều khó tiếp cận sự thật.

Theo thống kê ban đầu, có khoảng 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích (14) về truyền thuyết trong có bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện còn lưu trữ tại các thư viện ở Hà Nội. Dựa vào sự thay đổi về nội dung truyền thuyết và thời điểm ra đời của bài thơ, chúng tôi chia nguồn tư liệu trên thành hai nhóm. Hai nhóm này gắn với hai giả thiết về thời điểm ra đời của bài thơ(15). Giả thiết thứ nhất (nhóm Một): Bài thơ ra đời gắn với truyền thuyết thần đọc thơ ngầm giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt vào năm Bính Thìn, niên hiệu Thái Ninh thứ 5 (1076) trên sông Như Nguyệt. Giả thiết thứ hai (nhóm Hai): Bài thơ ra đời gắn với truyền thuyết thần đọc thơ ngầm giúp Lê Đại Hành trong công cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất của dân tộc, năm Tân Tị, niên hiệu Thiên Phúc thứ 2 (981).

Để có thể tìm về bản xưa nhất ghi chép truyền thuyết qua hai nhóm tư liệu trên, việc xác định bản gốc, bản có đủ độ tin cậy về mặt văn bản là thao tác không thể thiếu trước khi đi vào nghiên cứu tư liệu.

Trong nguồn tư liệu thuộc nhóm Một, chúng tôi chọn bản VĐUL, ký hiệu A.751 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) làm bản nền. Xem lại truyền thuyết trong có bài thơ ở các dị bản của sách VĐUL, chúng tôi thấy không có sự khác nhau giữa chúng. Do truyền thuyết được chép tương đối thống nhất nên việc tìm ra bản nào là bản cổ nhất của sách này là hết sức khó khăn. Sở dĩ chúng tôi chọn bản trên bởi bản này chép truyền thuyết tương đối thống nhất (tỉ lệ tương đồng có xê xích) với sách ĐVSKTT, bản Chính Hoà 18 (1697). Ngoài ra, trong nhóm Hai, chúng tôi cũng chọn bản LNCQ A.2914 (VNCHN, 16) làm bản gốc. Bản này được sao lại từ bản có niên đại khá sớm (1554), do Đoàn Vĩnh Phúc sưu tầm từ bản hiệu chỉnh của Vũ Quỳnh và là bản không có gì thay đổi nhiều so với cuốn Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp. Đây cũng là bản được Phan Huy Chú mô tả trong LTHCLC (17), và là bản được Quốc sử quán triều Nguyễn sử dụng khi biên soạn ĐNNTC (18) và Ngô Thì Sĩ giới thiệu trong ĐVSTTB (19). Với hai bản VĐUL và bản LNCQ trên, (trong khi chưa tìm được tư liệu đáng tin cậy hơn) có thể coi đây là tư liệu ghi chép xưa nhất về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát trong có bài thơ Nam quốc sơn hà.

Theo sách VĐUL, kí hiệu A.751, truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát ra đời gắn với nhân vật lịch sử Ngô Nam Tấn. Truyền thuyết tóm tắt như sau: “Theo Sử ký của Đỗ Thiện, Ngô Nam Tấn đánh giặc Lý Huy ở Long Châu đóng quân ở cửa sông Phù Lan nằm mộng thấy thần nhân. Thần nhân đến trước vua bái lạy và thưa rằng họ là hai anh em, anh là Trương Hống, em là Trương Hát là tướng của Triệu Việt Vương. Sau Triệu Việt Vương bị Lý Nam đế cướp ngôi, Nam đế cho vời ra làm quan, hai anh em không theo, ẩn vào núi Phù Long. Nam đế thuê người lùng bắt, hai anh em uống thuốc độc chết. Thượng đế cho hai người làm thuỷ thần, xin được giúp vua phá giặc. Sau đó quả nhiên giặc tan. Sau khi Long Châu được dẹp yên, vua Nam Tấn cho lập đền thờ và phong thưởng cho hai thần. Một là Đại đương giang đô hộ quốc thần vương, đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt. Một là Tiểu đương giang đô hộ quốc thần vương, đền thờ ở cửa sông Nam Bình.

Thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) quân Tống sang xâm lấn. Vua sai Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm thần hiển hiện đọc bài thơ Nam quốc sơn hà:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Sông núi nước Nam đã có vua nước Nam ở,
Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng,
Sao bọn giặc kia lại xâm phạm,
Chúng bay sẽ thấy bị thua to.)
Quả nhiên quân Tống bị thua, phải rút về nước.” (20)

Theo LNCQ, bản A.2914, truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát (với tiêu đề truyện là Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện - Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt) và bài thơ Nam quốc sơn hà ra đời gắn với vua Lê Đại Hành và cuộc kháng chiến chống quân Tống của quân dân nước ta vào cuối thế kỷ X [năm Tân Tị, niên hiệu Thiên Phúc (981)].

Truyền thuyết tóm tắt như sau: “Năm Tân Tị niên hiệu Thiên Phúc, triều Lê, Tống Thái Tông sai tướng quân Nhân Bảo, Tôn Toàn đem binh xâm lược phương Nam đến cửa biển Đại Than. Vua Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng dựng luỹ, cầm cự với giặc ở sông Đồ Lỗ. Lê Đại Hành đêm canh ba nằm mộng thấy thần nhân tới bái lạy trên sông. Thưa rằng: “Hai anh em thần, một người là Trương Hống(21), một người là Trương Hát, trước theo vua Ngô dẹp nghịch tặc bình định được thiên hạ, đến đời hậu chúa Nam Tấn thì mất nước. Họ Đinh nghe tiếng anh em thần bèn triệu về, bọn thần vì nghĩa không theo bèn uống rượu độc mà chết. Thượng đế thương tình ban tên cho là Thần bộ quan, thống lĩnh tướng các âm binh. Nay giặc Tống sang xâm phạm bờ cõi, xin được cùng hoàng đế đánh giặc Bắc Tống để cứu sinh dân”. Vua tỉnh dậy, lập tức thắp hương khấn vái xin được thần nhân trợ giúp, sau đó giết súc vật, đốt vàng mã làm lễ cúng tế. Đêm ấy, Đại Hành lại mộng thấy thần nhân thống lĩnh âm binh tiến đánh giặc. Canh ba, đêm tháng mười, trời đất tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng, quân Tống kinh hoàng, tháo chạy tán loạn, thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ.

(Núi sông nước Nam vua Nam ở,
Trời xanh đã định trong sách trời,
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,
Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời.)
Quân Tống nghe bài thơ đó đánh giết lẫn nhau rồi mạnh ai người nấy chạy tháo thân về nước. Vua phong thưởng tướng sĩ rồi truy phong công lao hai thần. Một là Khước Địch đại vương, lập đền ở ngã ba sông Long Nhãn. Một là Uy Linh đại vương, lập đền ở ven sông Như Nguyệt.”

Thử so sánh truyền thuyết này trong LNCQ với truyền thuyết trong VĐUL thì thấy giữa chúng có chung một môtip nội dung, bao gồm các yếu tố:

- Thần báo mộng: gắn với nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử.

- Hành trạng của thần: đều là bậc trung thần, có công trong việc giúp nước giúp dân, lại là bậc trung trinh, tuẫn tiết vì điều nghĩa.

- Công tích của thần: sau khi mất, hiển ứng giúp vua chống giặc nội phản và giặc ngoại xâm.

- Sự phong thưởng của triều đình phong kiến: sau khi phù giúp, được vua bao phong, lập đền thờ cúng.

Bên cạnh cái chung, sự khác nhau trong các tình tiết cụ thể cũng là điều dễ nhận thấy. Nếu truyền thuyết trong LNCQ gắn với nhân vật lịch sử Lê Đại Hành thì truyền thuyết trong VĐUL gắn với nhân vật lịch sử Ngô Nam Tấn. Nếu bài thơ trong LNCQ là thành phần hữu cơ của truyền thuyết thì bài thơ trong VĐUL là sự chép tiếp nối sau khi truyền thuyết kết thúc. Ngoài ra, việc phong thưởng của nhà nước phong kiến không có trong sự kiện thần phù giúp Lý Thường Kiệt.

Như vậy, truyền thuyết có trước hay bài thơ có trước? Bài thơ gắn với truyền thuyết về Lê Đại Hành hay Lý Thường Kiệt?

Theo bản LNCQ A.2914 (VNCHN), bài thơ Nam quốc sơn hà ra đời gắn với chiến công hiển hách đánh tan quân Tống xâm lược lần thứ nhất của vua Lê Đại Hành. Bài thơ được sáng tác để cổ vũ tinh thần của binh sĩ ta đồng thời khẳng định sự độc lập hoàn toàn của quốc gia và chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng không thể xâm phạm của dân tộc. Nội dung của bài thơ hoàn toàn phù hợp với không khí sục sôi chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta thời bấy giờ. Xem lại các dị bản của bài thơ, [chúng tôi lấy bài thơ trong [i]LNCQ[/i] A.2914 và VĐUL A.751 (VNCHN) đã nêu phía trên để đối chiếu] (22) câu thơ thứ nhất “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” không thay đổi trong tất cả các dị bản. Câu thứ hai: Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư, câu này thay đổi ở các từ: “Hoàng thiên” (Trời xanh) thành “tiệt nhiên” (rõ ràng); “dĩ định” (đã định) thành “phận định” (địa phận đã định). Nếu đọc lướt qua thì có lẽ giữa hai dị bản của câu thơ này không khác nhau về ý nghĩa, nhưng thực ra chúng khác nhau về sắc thái tu từ. Dùng “Tiệt nhiên” có lẽ “dứt khoát, rành mạch, đúng với đạo lý hơn” và cũng mới thấy cái ngang ngược, bất chấp đạo lý của bọn giặc xâm lược. Nếu so với câu: Tiệt nhiên phận định tại thiên thư (Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng) thì câu: Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư (Trời xanh đã định trong sách trời) thì có thể thấy rõ tư tưởng “thiên mệnh” bao trùm tâm thức của người dân thời bấy giờ. Câu tiếp theo: Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm, trong câu này từ “Bắc lỗ” (giặc Bắc) được thay bằng “nghịch tặc” (bọn giặc). Từ “nghịch tặc” là chỉ chung bọn giặc, chẳng kể giặc Bắc, giặc Chiêm Thành và những bọn giặc ngoại xâm khác. Còn “Bắc Lỗ” thì chỉ có một ý nghĩa là “giặc Bắc” “giặc Tống” mà thôi. Vì vậy bài thơ có từ “Bắc Lỗ” là bài thơ nói về cuộc kháng chiến chống giặc Bắc (ở đây là giặc Tống) mà không phải chiến trận nào khác. Câu cuối cùng: Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ (Sẽ bị cuồng phong đánh tơi bời), câu này được thay hết bằng: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng bay sẽ thấy bị thua to). Câu thơ: Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ so với câu thứ hai khác ở chỗ nó được gắn với khung cảnh thiên nhiên cụ thể, trong một chiến trận cụ thể. Còn “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” gắn kết có tính biện chứng với câu trước nó “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm” (Sao bọn giặc kia lại dám xâm phạm, chúng bay sẽ thấy bị thua to), ý nghĩa của hai câu thơ đã được mở rộng không chỉ trong khung cảnh một trận đánh, với một đối tượng là giặc Bắc mà chỉ chung cho mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng là giặc ngoại xâm (23).

Phải chăng từ bài thơ có tính cụ thể đã được thay đổi bằng bài thơ mang tính khái quát. Bài thơ đã được thay đổi từ bao giờ?

Trở lại sách VĐUL, tập sách sớm nhất ghi chép về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát, bài thơ xuất hiện gắn với công cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lý Thường Kiệt vào thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127).

Cứ theo thời điểm ghi trong truyền thuyết thì bài thơ gắn với truyền thuyết chống quân Tống của vua Lê Đại Hành phải có trước (năm 981) còn bài thơ gắn với Lý Thường Kiệt phải có sau (năm 1076). Thực ra hai sự kiện lịch sử này cách nhau không xa, khoảng 95 năm, nhưng vì sao trong các sách chính thống của nhà nước phong kiến như VĐUL, các sách sử như ĐVSKTT lại không chép bài thơ đó gắn với vua Lê Đại Hành? Phan Huy Lê khi khảo cứu tác phẩm ĐVSKTT đã cho rằng: “Các tác giả Đại Việt sử kí toàn thư đã đứng trên quan điểm chính thống, đạo trung quân cùng với những nguyên tắc của tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức để viết sử, để khen chê, để đánh giá và bình luận các nhân vật lịch sử”(24). Vì vậy khi đánh giá về Lê Hoàn (Lê Đại Hành), người sáng lập ra nhà Tiền Lê (980-1009), một vị anh hùng dân tộc có công lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, người đã được nhà viết sử Lê Văn Hưu hết lòng ca ngợi “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, trói Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là các vua Hán, Đường cũng không hơn được” thì ngòi bút của Ngô Sĩ Liên lại phê phán gay gắt Lê Đại Hành về “tội” không hết lòng phò tá con vua Đinh, lập Dương Thị làm Hoàng hậu. Ông viết: “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, mối của vương hoá... Đại Hành thông dâm với vợ vua rồi nghiễm nhiên lập làm Hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn vậy”. Nếu đã đánh giá Lê Đại Hành như vậy thì dễ gì lại đem bài thơ như một bản “Tuyên ngôn độc lập” đó của dân tộc gắn cho Lê Hoàn được. Vì vậy có lẽ đến thời điểm biên soạn bộ ĐVSKTT, các tác giả đã gắn bài thơ đó cho Lý Thường Kiệt. Cũng có thể đến thời Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt đã mượn danh thần, cho người nấp vào đền ngâm bài thơ để cổ vũ quân sĩ, làm tiêu tan ý chí và tinh thần của kẻ địch. Việc mượn uy thần trong chiến trận cũng là một điều dễ hiểu, nhưng việc thần không được triều đình phong kiến nhà Lý phong thưởng sau khi thắng trận lại không theo lệ thường. Không lẽ vua Lý Nhân Tông “quên” không phong thưởng cho thần hay VĐUL “bỏ sót” không chép?

Có một điều đáng lưu ý, việc lấy mĩ hiệu của thần làm tiêu đề cho các thiên truyện của VĐUL là khá nhất quán, ví dụ truyện về Phạm Cự Lượng có tiêu đề là Hồng thánh trung vũ tá trị đại vương, “Hồng thánh” là tên hiệu thần do vua Lý Thái Tông (1028 - 1053) phong cho, tiếp theo đến đời Trần, năm Trùng Hưng 1 (1285), phong hai chữ “Khuông quốc”, năm thứ 4 (1288) gia phong hai chữ “Trung vũ”. Đến năm Hưng Long 21 (1311) thêm hai chữ “Tá trị”. Hoặc truyện thần sông Tô Lịch với tiêu đề là Bảo quốc trấn linh định bang quốc đô thành hoàng đại vương. “Quốc đô thành hoàng đại vương” là do vua Lý Thái Tổ (1010) phong cho thần, tiếp đến đời Trần năm Trùng Hưng 1 (1285) được phong thêm hai chữ Bảo quốc, năm thứ 4 (1288) phong thêm hai chữ Hiển linh, năm Hưng Long 21 (1311) phong hai chữ Định bang. Nhưng ở truyện thần Trương Hống, Trương Hát dường như có sự thay đổi. Đại đương giang đô hộ quốc thần vương và Tiểu đương giang đô hộ quốc thần vương là tên hiệu thần do vua Ngô Nam Tấn phong cho vì có công ngầm giúp vua chiến thắng giặc ở Long Châu. Theo cách đặt tên truyện của VĐUL thì tên hiệu thần là Đại đương giang đô hộ quốc thần vương và Tiểu đương giang đô hộ quốc thần vương phải có mặt trong tiêu đề truyện Trương Hống, Trương Hát, nhưng tên truyện lại đặt là Khước địch thiên hựu, trợ thuận đại vương, Uy địch dũng cảm, hiển thắng đại vương. Khước địch và Uy địch mới phong sau ở thời Trần, không biết Lý Tế Xuyên quên không đưa vào tên truyện? Hay truyền thuyết Ngô Nam Tấn là sự “thêm vào sau khi thay đổi truyền thuyết” của người đời sau?

Chúng ta đã biết, LNCQ là sưu tập những câu chuyện dã sử có tính chất dân gian được sưu tầm ở cõi Lĩnh Nam (tức nước ta) thời cổ. Trong số các truyện của LNCQ, chí ít cũng có 4 truyện được lấy từ VĐUL, trong đó có truyện Trương Hống, Trương Hát(25). Theo chúng tôi, có thể ban đầu VĐUL đã chép truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát gắn với vua Lê Đại Hành và công cuộc chống giặc Tống xâm lược theo đúng hào khí lịch sử thời bấy giờ, nhưng về sau do quan điểm Nho giáo, coi trọng chính thống như đã phân tích trên, người biên soạn có thể đã thay đổi nội dung của truyền thuyết. Khi đã thay đổi nội dung của truyền thuyết, thì bài thơ vốn có trong truyền thuyết sẽ gắn cho nhân vật lịch sử nào? Không phải vua Ngô Nam Tấn bởi vua Nam Tấn không đánh giặc ngoại xâm. Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc đã đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt có lẽ là người xứng đáng nhất để thần hiển hiện đọc bài thơ cổ vũ binh sĩ. Như trên đã phân tích, nếu được thần ngầm giúp thì sau khi chiến thắng vua Lý Nhân Tông phải phong thưởng, ban thêm mĩ tự cho thần, nhưng không thấy VĐUL ghi chép gì về điều này. Ngay trong tự điển các thần, tức các bản thần tích, thần phả được lưu giữ nhiều đời ở các đền họ Trương và trong hồ sơ gia phong tước hiệu các thần ở triều đình cũng không thấy ghi chép gì việc vua Lý Nhân Tông phong tước hiệu cho thần sau cuộc kháng chiến chống quân Tống thắng lợi. Việc phong thưởng phải chờ đến 200 năm sau, tức năm Trùng Hưng 1 (1285) hai thần mới được phong là Như nguyệt khước địch và Uy địch đại vương. Việc không được triều đình phong kiến phong thưởng chẳng phải nói lên sự kiện “Lý Thường Kiệt” chỉ là sự “tái tạo” truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát về sau này của các sử gia phong kiến sao?

Có lẽ truyền thuyết ban đầu của VĐUL đã bị các sử gia phong kiến sau này sửa chữa cho phù hợp với nhãn quan Nho giáo, và như vậy, truyền thuyết trong có bài thơ của LNCQ cổ nói trên phải chăng là dạng ban đầu, xưa nhất của sách VĐUL mà nay chúng ta mới tìm thấy?

Một điều đáng chú ý khác, trong các dị bản bài thơ sưu tầm ở đền họ Trương các vùng ven sông Cầu, bài thơ Nam quốc sơn hà đều được chép đúng ý nghĩa như bài thơ trong bản LNCQ A.2914, chỉ có thay đổi một vài từ ở câu cuối cùng, nhưng vẫn có nghĩa là mây mưa gió bão, gắn với khung cảnh thiên nhiên bài thơ ra đời(26). Mặc dù bài thơ gắn với Lý Thường Kiệt đã được các sử gia phong kiến chính thức chép vào quốc sử (ĐVSKTT), nhưng ở những nơi thờ hai vị thần họ Trương có công ngầm giúp Lê Đại Hành trong cuộc chiến với quân Tống, nhân dân vẫn giữ lại truyền thuyết trong có bài thơ trên, giống như người dân Hoa Lư vẫn lập đền thờ, tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương Hậu cùng ngồi như ĐVSKTT đã ghi lại(27). Thái độ của nhân dân ta thật rõ ràng, công minh, tôn kính những người có công với nước với dân, cho dù các sử gia phong kiến có lên án, buộc tội oan uổng.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, bài Nam quốc sơn hà ra đời gắn với Lê Đại Hành và công cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ nhất của dân tộc ta sau khi giành được quyền độc lập tự chủ từ tay đế chế phương Bắc. Bài thơ đã phản ánh đúng hào khí của thời đại, tâm thức và nguyện ước của nhân dân. Tác giả của bài thơ là hàng ngũ trí thức, những người đã tận mắt chứng kiến hoặc cùng tham gia chiến đấu trong khí thế sục sôi chống giặc xâm lược của cả dân tộc thời bấy giờ. Theo năm tháng, bài thơ từ chỗ gắn liền với một thời đại, một nhân vật lịch sử đã trở thành bài thơ cho mọi thời đại, “có tính chất quốc thi, quốc thiều, có giá trị như Tuyên ngôn độc lập”. Chúng tôi cho rằng, dù bài thơ đã được thay đổi cho phù hợp với xu thế của lịch sử và thời đại nhưng thời điểm ra đời của bài thơ gắn liền với nhân vật lịch sử Lê Đại Hành và cuộc kháng chiến chống giặc Tống năm 981 là điều nên khẳng định. (28) (**)


Nguyễn Thị Oanh

1. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, tái bản. Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999, tr.112.
2. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, tái bản. Sông Nhị, H., tr.303.
3. Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam cổ văn học sử. Hà Thuyên xuất bản cụ. H., 1942, tr.143.
4. Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ mười, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr.231-232.
5. Văn Tân: Tổng tập văn học Việt Nam, Tập I. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1980, tr.231.
6. Đinh Gia Khánh: Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I. Nxb. KHXH., H., 1980, tr.192.
7. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam-Thế kỉ X - thế kỉ XVII. Đinh Gia Khánh - Bùi Văn Nguyên - Nguyễn Ngọc San. Tái bản. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.56-68.
8. Thơ văn Lý - Trần, Tập I, Khảo luận văn bản: Nguyễn Huệ Chi. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1977, tr.318-322.
9. Tổng tập văn học Việt Nam, Tập I. Chủ tịch Hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1980, tr.114.

[Các chú thích từ 1 đến 9, chúng tôi dẫn lại từ bài: Truyền thuyết về một bài thơ: “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt của Bùi Duy Tân, [i]Tạp chí Văn hoá dân gian[/i] số 4 (72) năm 2000, tr.40-41.]

10. Hà Văn Tấn: “Lịch sử, sự thật và sử học”. Báo Tổ quốc, số 401, tháng 1-1988; In trong Giáo sư Sử học, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr.85-94.
11. Bùi Duy Tân: Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt. Bđd., tr.32-42.
12. Bùi Duy Tân: Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt. Bđd, tr.36-37.
13. Cách gọi tên thần ở nhiều dị bản khác nhau, chúng tôi theo cách gọi của sách VĐUL. (Xem VĐUL. Trịnh Đình Rư dịch theo bản A,751, Thư viện Khoa học. Nxb. Văn hoá, 1960).
14. Về số lượng các dị bản của bài thơ, theo Trần Nghĩa, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Sử học hiện lưu trữ 26 dị bản. (Xem Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Tạp chí Hán Nôm, số 1, 1986, tr.24-32). Theo Bùi Duy Tân, ngoài 26 dị bản nói trên còn tìm thêm được 4 dị bản nữa, cộng là 30 dị bản. (Xem xuất xứ ở chú thích 10). Chu Thanh Nga trong Khoá luận “Bước đầu khảo sát Trương Tôn thần sự tích” tr.18 cũng tìm ra 13 dị bản truyền thuyết hiện lưu trữ tại VNCHN.
15. Căn cứ vào sự thay đổi về nội dung truyền thuyết và thời điểm ra đời của bài thơ chúng tôi tạm chia làm 2 nhóm sau.

1/ Nhóm Một: gồm các bản:

- Việt điện u linh (VĐUL): A.47, A.1919, A.2879, VHv.1285/1-2, VHv.1503, A.751, A.335 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm - VNCHN).
- Lĩnh Nam chích quái (LNCQ): A.2107, A.750 (Bản thành Ba - lê) (VNCHN), R.6 (Thư viện Quốc gia - TVQG).
- Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT): A.3 (VNCHN).
- Việt sử tiêu án (VSTA): A.11 (VNCHN)
- Việt sử tiệp kính (VSTK): A.1493 (VNCHN).
- Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC): A.1551 (VNCHN).
- Bằng trình thản bộ (BTTB): A.802 (VNCHN).
- Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) A.69 (VNCHN).
- Trương Tôn thần sự tích, VHv.1286 (VNCHN).
- Thần tích xã Vịnh Kiều, tổng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. AE a7/8 (VNCHN).
- Thần tích xã Thống Hạ, tổng Khắc Niệm, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. AE a 7/30 (VNCHN).
- Thần tích xã Cẩm Hoàng, tổng Cẩm Bào, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. AE a14/1 (VNCHN).

2/ Nhóm Hai: gồm các bản:

- LNCQ: A.2914 (VNCHN), R.1607 (TVQG)
- ĐNNTC: A.69 (VNCHN)
- Mã lân dật sử (MLDS) A.1516 (VNCHN)
- Thiên Nam vân lục liệt truyện (TNVLLT) A.1442 (VNCHN)
- Việt sử diễn âm (VSDA) AB.110 (VNCHN)
- Lĩnh Nam chích quái: HV.486 (VSH), VHv.1473, A.1300, A.750 (Bản Nguyễn Hữu Kỉnh), VHv.1266, A.33, VHv.1200, A.1752 (VNCHN).
- Việt sử quốc âm (VSQA): AB.308 (VNCHN).
- Thiên Nam ngữ lục (TNNL): AB.478.
- Trương Tôn thần sự tích. VHv.1286 (VNCHN).
- Bản Thần phả ở thôn Quả Cảm, xã Hoà Long, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc của Dương Thái Minh, (VNCHN).
- Thần tích thôn Đỗ thị, xã Phù Lưu, tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. AE a.7/6 (VNCHN).
- Thần tích xã Đào Thục, tổng Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. AE a11/4 (VNCHN).
- Thần tích xã Phượng Nhãn, tổng Trí An, huyện Phượng Nhãn, tỉnh Bắc Giang. AE a.14/16 (VNCHN)
- Thần tích xã Xuân Nộn, tổng Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. AE.a11/4 (VNCHN).

[Trong 13 bản thần tích hiện lưu trữ ở VNCHN, chỉ có 8 bản chép truyền thuyết trong có bài thơ. Có bản còn gộp cả hai giả thiết vào một bản như [i]Trương Tôn thần sự tích[/i], kí hiệu VHv.1286. Các bản thần tích đều có niên đại khá muộn, chúng tôi chỉ tham khảo khi thấy cần thiết]

16. Xem thêm: Nguyễn Thị Oanh: Về quá trình lưu truyền văn bản Lĩnh Nam chích quái. Tạp chí Hán Nôm, số 3 (48), 2001, tr.34-45. Nguyễn Thị Oanh: Một số vấn đề liên quan đến văn bản Lĩnh Nam chích quái. Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2001.
17. Lịch triều hiến chương loại chí, bản chữ Hán, kí hiệu A.1551/1-6 (VNCHN), phần Dư địa chí, tỉnh Bắc Ninh.
18. Đại Nam nhất thống chí, tập IV. Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Phạm Trọng Điềm phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1971, tr.104.
19. Đại Việt sử ký tiền biên. Lê Văn Bẩy, Nguyễn Thị Thảo, Dương Thị the, Phạm Thị Thoa (dịch, chú thích), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb. KHXH., Hà Nội, 1997, tr.247.
20. Chúng tôi dựa vào bản dịch VĐUL do Trịnh Đình Rư dịch theo bản A.751 của Thư viện Khoa học, Sđd, để tóm tắt.
21. Nguyên văn là Trương Bạn. Xem thêm chú 13.
22. Bài thơ có rất nhiều dị bản, ở đây chúng tôi chỉ lấy 2 dị bản đại diện cho hai sách ghi chép xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ để so sánh. Sở dĩ chúng tôi chọn bản VĐUL A.751 bởi đây là bản có cách ghi chép thống nhất với ĐVSKTT, bản Chính Hoà 18 (1697). Tuy nhiên ở câu thơ thứ hai “Tiệt nhiên phân (phận) định tại thiên thư”, chữ Hán “phân” có hai cách đọc nên dịch giả của ĐVSKTT dịch là “Rõ ràng phân định tại sách trời”. Để thống nhất với bản VĐUL đã chọn làm bản đối chiếu, chúng tôi lấy lại đúng bản dịch của ông Trịnh Đình Rư.
23. Bài thơ Nam quốc sơn hà trong bản LNCQ A.2914, (VNCHN) còn có dị bản của hai câu thơ cuối như sau: “Như kim nghịch tặc lai công kích, Nhữ đẳng hồi? khan tặc chúng hư”. Tạm dịch: Như nay nghịch tặc tới công kích, Quân sĩ lại có thể thấy quân giặc sẽ bị thua to).
24. Đại Việt sử kí toàn thư. Bản in Nội các quan bản. Mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697). Lời giới thiệu: Gs. Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn. Khảo cứu về tác giả, văn bản, tác phẩm: Gs. Phan Huy Lê. Dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ. Hiệu đính: Gs. Hà Văn Tấn. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1993, tr.73.
25. Bốn truyện được lấy từ VĐUL là: Lý Ông Trọng, Tản Viên, Tô Lịch và Long Nhãn Như Nguyệt (tức hai vị thần Trương Hống, Trương Hát).
26. Trong bài: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”, Trần Nghĩa đã dùng phương pháp định lượng để chọn cho bài thơ những chữ có tần số xuất hiện lớn nhất, kết quả là văn bản khả dĩ do ông xác lập cũng có nội dung gần với bài thơ được chép xưa nhất trong LNCQ. Xem Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bđd, tr.24-32.
27. Phan Huy Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.73.
28. Sách ĐVSKTT, Kỷ nhà Lê, Đại Hành Hoàng đế, chép: “Năm Tân Tị, [Thiên Phúc] năm thứ 2 [Tống Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 6]. Mùa xuân, tháng 3, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông. Quân Tống lui, lại đến sông Chi Lăng. Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bảo đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thuỷ thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đưa về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên” (ĐVSKTT, Sđd, tr.330-221).

Từ cách ghi chép trên của ĐVSKTT cũng có nhà nghiên cứu cho rằng “Lê Hoàn (Lê Đại Hành) có đánh nhau với quân Tống năm 981, dụ bắt được tướng Tống là Hầu Nhân Bảo, nhưng sự việc này xảy ra ở sông Chi Lăng (Lạng Sơn) chứ không phải ở sông Cầu (Hà Bắc), nơi có đền thờ Trương Hống được gán cho là tác giả của bài thơ Nam quốc sơn Hà (Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bđd, tr.32). Theo bản A.2914, Lê Đại Hành dựng luỹ chống cự với địch ở sông Đồ Lỗ. Hiện nay chúng tôi chưa tìm được tư liệu nào nói về con sông này, dựa vào sự thay đổi tên sông này thành địa danh Phù Lỗ trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát ở sách VSDA: “Đến thành Phù Lỗ đóng vây, quân ta quân nó đôi bên ngất trời” chúng tôi cho rằng sông Phù Lỗ (bắt giặc) có thể lúc nào đó đã được gọi là sông Đồ Lỗ (giết giặc) chăng. Có lẽ còn phải tra cứu thêm, nhưng theo ĐNNTT, sông Nguyệt Đức (tức sông Cầu) có một nhánh “bắt nguồn từ sông Bạch Hạc, tỉnh Sơn Tây, chia ra chảy qua địa phận các huyện Yên Lãng và Yên Lạc (xem Sơn Tây tỉnh chí) vào địa phận huyện Kim Anh, rồi chảy về phía đông 43 dặm làm sông Phù Lai, sông Hương Da, sông Phù Lỗ, lại chảy 53 dặm, đến sông Lương Phúc, huyện Thiên Phúc, hợp với sông Hương La, đấy là ngã ba, lại chảy qua địa phận các huyện Hiệp Hoà, Yên Phong, Việt Yên và Võ Giàng, gồm 112 dặm, đến sông Phả Lại huyện Quế Dương, vào sông Đại Than, huyện Gia Bình, hợp với sông Thiên Đức suốt đến sông Phao tỉnh Hải Dương, đấy là một nhánh của sông Lục Đầu” (ĐNNTC. Sđd., tr.78). Như vậy từ sông Phù Lỗ có thể ra đến cửa biển Đại Than, là địa điểm có trong truyền thuyết khi quân Tống đặt chân sang nước ta.

Dựa vào nguồn sử liệu thời Tống như Tống sử bản kỉ, Tục tư trị thông giám trường biên, Tống sử, Tống sử liệt truyện... cũng như nguồn sử liệu nước ta như VSL, ĐNNTC gần đây các nhà nghiên cứu sử học Việt Nam đã đi đến kết luận: “Hầu Nhân Bảo bị bắt và giết trên sông Bạch Đằng, không phải ở sông Chi Lăng như Toàn thư ghi chép” (Nguyễn Minh Tường: Trận Bạch Đằng năm 981. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa nay, số 86/2001; Trần Bá Chí: Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1992, tr.37). Và năm 981, cũng có một trận Đồ Lỗ “là nơi gần gũi với sông Cầu và sông Cà Lồ, vì Bình Giang chính là sông Cầu, còn Như Nguyệt là chỗ sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu) (Nguyễn Vinh Phúc: Có một trận Bình Lỗ năm 981. Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa nay, số 86/2001). Còn địa điểm Đại Than là “bãi giữa sông Thiên Đức (sông Đuống) với ở xã Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, nay là Xã Cao Đức, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc, gần chỗ tiếp giáp với sông Lục Đầu (là khúc sông giáp giới hai tỉnh Hà Bắc và Hải Dương, nơi tập trung của ba con sông: sông Đuống (Thiên Đức), sông Cầu (Nguyệt Đức) và sông Thương (Nhật Đức). Đây là địa điểm mà tất cả các bản LNCQ nhóm Hai đã ghi chép khi quân Tống sang xâm lược nước ta. Cũng theo các nhà nghiên cứu sử học thì đại bản doanh của Lê Đại Hành có thể ở vùng Chí Linh, Hải Dương. Nếu đúng như nhận định trên thì có thể từ sông Đồ Lỗ (tức từ đoạn sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu) cho đến sông Đại Than là phòng tuyến chống giặc Tống của quân ta thời đó.

Như vậy, thời gian, địa điểm xảy ra chiến trận trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát trong bản LNCQ A.2914 xưa nhất đều phù hợp sự thật lịch sử và đã được các nhà nghiên cứu lịch sử xác nhận.

(**) Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS. Trần Nghĩa đã góp nhiều ý kiến quý báu cho bài viết này.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 1-2002
203.95
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích bài thơ “Nam quốc sơn hà”

Bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt gắn liền với chiến thắng sông cầu năm 1076 của quân dân Đại Việt đánh bại giặc Tống xâm lược.

Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách Trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Hai câu thơ đầu nói về núi sông nước Nam, đất nước Việt Nam là nơi Nam đế cư (vua Nam ở). Hai chữ Nam đế đối sánh với Bắc đế. Nam đế hùng cứ một phương chứ không phải chư hầu của Thiên triều. Vua Nam là đại diện cho uy quyền và quyền lợi tối cao cho Đại Việt, cho nhân dân ta. Núi sông nước Nam thuộc chủ quyền của Nam đế, có kinh thành Thăng Long, có nền độc lập vững bền... Không những thế, núi sông nước Nam đã được định phận, đã được ghi rõ ở sách Trời, đã được sách Trời chia xứ sở, nghĩa là có lãnh thể riêng, biên giới, bờ cõi riêng.

Hai chữ sách Trời (thiên thư) trong câu thơ thứ hai gợi ra màu sắc thiêng liêng với bao niềm tin mãnh liệt trong lòng người. Vần thơ vang lên như một lời tuyên ngôn về chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt:
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách Trời chia xứ sở.
(Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư).
Từ nhận thức và niềm tin ấy về sông núi nước Nam, Lý Thường Kiệt căm thù lên án hành động xâm lược đầy tội ác, tham vọng bành trướng phi nghĩa của giặc Tống. Chúng âm mưu biến sông núi nước Nam thành quận, huyện của Trung Quốc. Hành động xâm lược của chúng đã làm trái ý trời, đã xúc phạm đến dân tộc ta. Câu hỏi kết tội lũ giặc dã vang lên đanh thép, đầy phẫn nộ:
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
(Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?)
Vị anh hùng dân tộc đã nghiêm khắc cảnh cáo lũ giặc phương Bắc và chỉ rõ, chúng sẽ bị nhân dân ta đánh cho tơi bời, chúng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã:
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
(Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư)
Hai câu 3, 4 với giọng thơ đanh thép hùng hồn dã thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta quyết tâm giáng trả quân Tống xâm lược những đòn chí mạng để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng sông cầu – (sông Như Nguyệt) năm 1076 là minh chứng hùng hồn cho ý thơ trên. Triệu Tiết, Quách Quỳ cùng hơn 20 vạn quân Tống đã bị quân dân Đại Việt đánh bại, quét sạch khỏi bờ cõi.

Nam quốc sơn hà là bài ca yêu nước chống xâm lăng. Bài thơ đã khẳng định chủ quyền dân tộc, ca ngợi sức mạnh chiến đấu để bảo vệ đất nước Đại Việt. Với nội dung ấy, bài thơ Nam quốc sơn hà mang ý nghĩa lịch sử như một Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
44.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Cảm nhận khi đọc bài thơ “Nam quốc sơn hà”

Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí - Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập.

Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát (hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt), bài thơ đã ngân vang lên (Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần). Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt.

Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng: “Nam quốc sơn hà - Nam đế cư”. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thư thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự (mắt thần) của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay-chỉ có Bắc đế, chứ không thế có Nam đế hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Vì thế, khi xâm lược nước Nam, áp đặt được ách thống trị, chúng đã ngang nhiên trắng trợn biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc. Nền độc lập mà chúng ta giành lại được hôm nay thấm không ít máu của cha ông ta đã đổ suốt hơn một ngàn năm. Và nay nền độc lập ấy vẫn đang bị đe doạ bởi tư tưởng ngông cuồng kia.

Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế (Nam đế). Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình:
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời: Ai có thể thay đổi được?!

Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả: chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.

Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược: Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo (nghịch lỗ), lẽ nào Trời đất dung tha. Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư.

Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận - một đặc điểm của thơ ca thời Lí - Trần, khiến người đọc rưng rưng!

Và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về.

tửu tận tình do tại
44.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tinh thần yêu nước trong bài thơ “Nam quốc sơn hà”

Ra đời trong máu lửa của cuộc kháng chiến chống Tống, Sông núi nước Nam là tuyên ngôn của Đại Việt về độc lập, chủ quyền đất nước. Đây là tuyên ngôn của hàng triệu trái tim Đại Việt nồng nàn, thiết tha yêu nước mình.

Yêu nước và tự hào dân tộc là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người dân Việt Nam. Tình cảm ấy thấm đẫm trong tâm hồn dân tộc và dạt dào lai láng trên những trang thơ văn.

Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) là một áng thơ như thế!

Sông núi nước Nam không phải là sáng tác duy nhất thời Lí - Trần khơi nguồn từ cảm xúc về đất nước, về dân tộc. Gắn bó với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt - thời đại hào hùng đấu tranh chống ngoại xâm, dường như đất nước và dân tộc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà thơ. Và do đó, tình cảm yêu nước và tự hào dân tộc đã trở thành cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác văn chương thời kì này.

Nhìn lại các sáng tác thời Lí - Trần, tuy tình cảm đất nước bộc lộ ở những khía cạnh khác nhau, trong những thời điểm khác nhau, nhưng đều rất sâu sắc. Trong Chiếu dời đô, nỗi lo lắng cho vận số của đất nước, dân tộc, hạnh phúc của muôn dân, trăm họ là niềm trăn trở lớn nhất của vị hoàng đế đầu tiên của triều Lí. Ở Hịch tướng sĩ, lòng căm thù giặc, nỗi xót đau trước cảnh đất nước bị giày xéo tàn phá, ý chí sẵn sàng xả thân vì nước trào dâng mãnh liệt trong lòng vị thân vương họ Trần. Còn trong Phò giá về kinh, lại là hào khí chiến thắng của dân tộc và khát vọng về một nền thái bình muôn thuở cho đất nước của thượng tướng thái sư Trần Quang Khải.

Ra đời trong máu lửa của cuộc kháng chiến chống Tống, Sông núi nước Nam là tuyên ngôn của Đại Việt về độc lập, chủ quyền đất nước. Đây là tuyên ngôn của hàng triệu trái tim Đại Việt nồng nàn, thiết tha yêu nước mình.

Ta hãy đọc kĩ lại bản tuyên ngôn để cảm nhận được tình cảm mãnh liệt, sục sôi của một dân tộc:

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ.
(Lê Thước và Nam Trân dịch)
Sông núi nước Nam là của người Nam, đó là tư tưởng của hai câu thơ đầu của bài thơ. Tư tưởng này đối với chúng ta ngày nay tự nhiên như cơm ăn, nước uống. Nhưng ngày ấy, cái thời mà bọn phong kiến phương Bắc đã từng biến nước ta thành quận huvện và đang cố sức khôi phục lại địa vị thống trị, thì tư tưởng ấy mới thực sự thiêng liêng và có ý nghĩa biết chừng nào! Lòng tự tôn dân tộc hun đúc qua mấy mươi thế kỉ đã hoá thành tư thế đứng thẳng làm người, mặt đối mặt với kẻ thù. Đọc câu thơ, lòng ta không khỏi rưng rưng xúc động.

Nếu nhìn từ góc độ nguyên tác Hán tự, ta thật kinh ngạc. Câu thơ như một làn roi quất thẳng vào bộ mặt bá vương hợm hĩnh của triều đình phong kiến Trung Quốc - kẻ đang phát động chiến tranh xâm lược để thực hiện mưu đồ bá chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử bành trướng, chúng gặp phải ý chí quật cường đến thế, một tinh thần khẳng khái đến thế! Chúng đã có Bắc Quốc (Trung Quốc) thì ta cũng có Nam Quốc chúng có Bắc đế thì ta cũng có Nam đế; nào có thua kém gì nhau! Từ ngôn từ và ý thơ thế hiện một niềm tự hào cao độ về đất nước và dân tộc mình. Đây là niềm tự hào mà mỗi thần dân Đại Việt đều có trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù.

Lòng tự hào ấy, hơn ba thế kỉ sau được Nguyễn Trãi nhấn mạnh thêm:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Li, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
(Bình Ngô đại cáo)
Như vậy ý thức độc lập tự chủ đâu phải là mới thai nghén.

Hôm nay, nó đã hình thành từ rất lâu trong tiềm thức của mỗi người dân đất Việt, có lẽ là từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, qua rất nhiều biến cố đau thương, nhưng ý chí độc lập không bao giờ bị dập tắt. Máu xương của cha ông đã đổ mấy ngàn năm chẳng phải là để giành lại xã tắc đó sao? Ngày hôm nay, một lần nữa, tinh thần dó được phát biểu thành một tuyên ngôn hùng hồn, đanh thép. Hơn nữa, là niềm tin sắt đá vào sự thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Giặc dữ cớ sao phạm tới đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ)
Dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc thù. Đó chính là biểu hiện tập trung nhất, cao độ nhất của lòng yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Sau này, trong văn chương nước nhà, ta còn bắt gặp không ít những áng thơ văn dạt dào sâu lắng tình yêu quê hương đất nước mình như thế trong đó Sông núi nước Nam mãi xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất về lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

tửu tận tình do tại
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà Ngọc Hoàng

Sông núi nước nam vua nam ngự
Lược đồ đã định tại thiên thư
Cớ sao giặc cỏ sang xâm phạm
Nhổ cỏ vùi thân chuốc bại hư

Làm trai chí lớn xưa nay hiếm
Thiếu nữ trong tranh được mấy người
173.53
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 3 trang (26 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối