Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Trời thuở chu minh, nước vừa nhàn hạ.
Trên vặc vặc tinh huy nhật lãng,
Đời hây hây vũ thuận phong điều.
Quyền ghín vâng tướng đế sủng nối,
Phủ vận nối nền di luỵ khắp.
Niềm vui đốc thiệu tiền quang bôn.
Sở chiềng theo dấu sẵn trùng hây.
Việc quan dân tượng Chu dịch hằng ghi.
Thơ thì mười thiên Mao thi lần nghị.
Giữ lề Thuấn thì tuần giữa hạ.
Sớm khuya đau đáu chữ ưu cần.
Muôn dân Nghiêu, bộ ốc đều xuân.
Đâu đấy chiếm chiếm bề lao lai,
Quyên cát vừa nhân thuỷ thế.
Thuận lưu dòng phát đan sư,
Lệnh nghiêm minh kế tiếp trước sau.
Răn giả hoàng long muôn đội,
Phép thao túng chỉ ma ngang dọc.
Dấy dang hồng liễu hai ngàn.
Lá hiu hiu phong bá thanh trần.
Dòng phác phác Phùng Di hiệu thuận.
Đòi chốn sơn xuyên tranh dạm dân,
Lư diêm canh tạc thói thuần.
Mấy nơi hoa thảo cẩm phong.
Lũ kế bạch hoan nghênh lòng,
Vui bề cảnh sắc nhãn tiền càng ưa.
Vẻ phong quang cổ tích còn truyền.

Bồ Đề thi

Bình Ngô dấu cũ chốn yên dinh,
Tứ cố phong quang rất hữu tình.
Trước sẵn giang hà dăng thức bạc,
Trong vầy lầu gác dạm đồ tranh.
Khách sum vương hội nhuần ơn rộng,
Kho dãy bang chừ thấy trị lành.
Đường tiện vãng hoàn khi trú dịch,
Tứ bề vang ngợi khúc thăng bình.
Ngang Bồ Đề đón chốn cũ thảo dinh,
Khen nào xiết công thánh tổ bình Ngô vọi vọi.
Qua Bà Đá lạc nền tân ngọc vũ,
Tưởng càng ghê tài nữ vương phục Việt nhơn nhơn.
Bát Tràng nghề ngày tháng ngói đào,
Đông Dư tục xưa nay tải độ.
Chấp chới doi hoa thuý yết,
Phiến xanh kia nghênh giá lệ xưa.
Rắp ghềnh đá kim lan,
Ký nhiệm chép cấm tinh cuộc lớn.
Quán gấm cơ chức tập vẻ phồn hoa,
Vạn Mễ sở xôn xao nghề châu tượng.
Châu Tự Nhiên phong thổ lạ,
Quế cành cành chồi sắc thăm hoa.
Áng xuân đình cảnh vật tươi trúc,
Khóm khóm chen hàng quân tử.
Duềnh Lam quyến phẳng, ngàn liễu gấm bẻ,
Ải Hàm Tử thuở cầm Hồ.
Công vực nước nhìn giang sơn nổi tiếng,
Độ Chương Dương khi đoạt sáo.
Tài bạt loạn khắp thảo mộc hay danh,
Phù Liệt truyền chú dịch thuở Thuận Thiên.
Màn trù nơi ngộ tiên xưa Đồng Tử,
Lâu đài chằm Dạ Trạch.
Thế cùng đồn dấu lạ phi thăng,
Ngoã lịch vũng Cao Biền ghi từng chép chước màu thần hoá.
Cửa lành thuận triều tôn nẻo chính,
Sông Bái oanh dựng thuỷ doi già.
Tám bức phong chế độ chùa thăng,
Bảo điện quỳnh lâu độ thế gian năng một.
Đòi dẫy rỡ phong quang Phố Hiến,
Thê sơn hàng hải tóm viễn quốc dư ngàn.
Tưởng thần công đà rạng để muôn thu,
Tiện chú túc phụng ngợi nên một thủ.

Nguyệt Đường tự thi

Mấy chốn danh lam khắp trải qua,
So trong hình thắng đòi vài ba.
Bảo đài giãi tỏ lồng mây thuỵ,
Thiên lại vang đưa dội tiếng ca.
Rộng rãi cửa thiền quyền phúc quả,
Dập dìu đường khách vẻ phồn hoa.
Trập trùng công đức nền vô lượng,
Thơm nức muôn đời vẫn chẳng ngoa.
Hoa Dương thi

Nam phục khen ai khéo mở mang,
Vẹn gồm xuân sắc cảnh Hoa Dương.
Bể Chu sóng phẳng thông muôn nước,
Chợ Hán mây tuôn khắp bốn phương.
Tuần trạch nhơn nhơn đeo mấy tiếng,
Hương cù đất đất phố hai hàng.
Cảnh này thú ấy lộng vô giá,
Chấp chểnh năm vân rệt táo chương.
Cõi Kim Động trông đà Nam Xương,
Hương nghi ngút hãy ngưng bên Nam thổ.
Qua Phù Sa chợt sang Vũ Điện,
Lối tuôn thán màng hỏi dấu Vũ nương.
Duềnh vàng in tiết trắng phau phau,
Phiến ngọc để danh thơm phức phức.
Ứng soi ở Ngự Thiên một chạnh,
Quanh dải sông mấy xã gần miền.
Lô xá phố bình địa từng doi,
Nhuần lộc nước đòi xóm vui thú.
Hải thiên mặc an sinh lạc nghiệp,
Thị triền dầu cư cổ hành thương.
Huyện Diện Hà nọ nọ canh nông,
Người sum họp ít nhiều nơi dừng đỗ.
Cõi phù dung nơi nơi kinh thiêu,
Cảnh thanh tân thêm có vẻ lạ lùng.

Phù dung thi

Thuận buồm thoắt đã cảnh phù dung,
Thú sẵn so dây dễ mấy [?].
Duềnh bặt tăm kình trong vắt vắt,
Triền rung trống giải dấy đong đong.
Đầu nhà bóng ác lặn mây tỏ,
Trước miếu hương nghê trận gió lồng.
Nhắn nhủ bàng quan miêu hoạ đài,
Tiện khi thừa hứng kẻo mà mong.
Thoắt thoắt qua mé cõi Hoàng Nông,
Lần lần tới đà làng La Cách.
Chen một dải nhà trông sát sát,
Làng Diên Nông khéo bày đặt thôn lân.
Phẳng ngàn tầm bóng hiện làu làu,
Bến Biện Tân chỉn vẹn gồm cảnh sắc.
My Động vẫn kề miền Tiên Động,
Đồng chân nào xa áng Yên Chân.
Ánh thức nước dãi tỏ am thần,
Ngọc quế hãy còn miền thanh, miền sáng.
Vẻ sao rỡ ràng chiền Phật,
Gia hương đà về cõi Tứ Kỳ.
Ngang phù cựu mảng vui chữ thuật hoài,
Tới Hán chiền dễ hứng lòng tức cảnh.

Hán Triền tự thi

Vững đặt quy mô trạnh mấy đông,
Mệnh danh kia khéo gọi chùa trông.
Làu làu bích thuỷ in quỳnh vũ,
Vặc vặc thanh tiêu tỏ Phạm cung.
Khuya dẫn chân kinh tan tiếng tục,
Sớm khua lòng đạo ruổi hồi chuông.
Dạn đoàn chỉnh quả gia trì đái,
Chẳng lọ xa tìm cõi lãng Bồng.
Khách thông thương gác mái bên sông,
Bạc hà đấy đặt tuần kề bến.
Người cầu hạnh dảo chân mặt đất,
Tranh sơn nơi cố miếu gần duềnh.
Khánh chúc lãng minh lễ chẳng bao xa,
Hữu chung tế đan điền nên một bội.
Cách mặt nước đỉnh đương mấy phát.
Chùa kia chuông nện còn khuya,
Lên bến đò sum họp đòi hàng.
Chợ nọ người đi đà sớm.
Cõi An Đường hãy mảng vui cảnh thắng,
Băng Dậu Cao bèn xảy nỗi niềm xưa.

Dậu Cao thi

Bầu trời rộng mở khéo hàm bao,
Cõi Tứ Kỳ này mấy Dậu Cao.
Phẳng lặng một duềnh lồng vẻ nguyệt,
An bài ba xóm tỏ cung sao.
Bóng cây rợp khách hàng trương tán,
Tuần điếm khua người tiếng chúng đeo.
Cuộc ấy mặc dầu cân giá ấy,
Đỡ tay thiêng dạm để làm biều.
Áng Đại Công gồm đủ mọi chiều.
Mây tuôn khách viễn lai cận duyệt.
Miền Nhuệ Động khắp thu mấy vẻ,
Cảnh vầy xuân thảo nhuần hoa tươi.
Độ băng trông An Tứ ngang chừng,
Tiện đoái lại an khang gần đó.
Tà tà bóng của còn bày chợ,
Ấy thực châm khe tiết tiết sương.
Khách đà tìm thuyền nay ra An Định,
Tẩm tức bấy rằng làng Hộ Khẩu.
Tĩnh uyên thay gọi xã Danh Xuyên,
Sắp lễ vui một thói tày nhường.
Tiết dân tính bởi biết đường phòng phạm.
Thiệu Mỹ vẫn nhiều nơi thanh sạch.
Hứng ngâm tình vậy nên chữ thôi sao.

Thiệu Mỹ thi

Thuận triều khắp trải chốn Thanh Hà,
Phong cảnh xem đây phẳng nữ la.
Sum họp chiền Chu thanh ngõ hạnh,
Tôn nghiêm đài giác rỡ tường hoa.
Duềnh phô tĩnh lãng xem dường một,
Ngả ghẽ thông chia tới lúa ba.
Dụng hứng trong khi vừa thuận tiện,
Tuỳ lòng ngoạn thưởng mặc dầu ta.
Tích thóc Hán nhiều của bang trừ,
Quảng Xuyên dải la nơi cố bản.
Mở ruộng Chu rộng ngàn cương đấu,
Tiên Biều đây thực chốn bình nguyên.
Ngưu uyên kia đà hệt hình dung,
Phù tinh nọ khéo la bày đặt.
Thốc đầu phỏng ngang chừng bình lặng.
Xa chừng mấy tầm nhác dọc xem,
Thẳng độ bách hoàng cách già một dặm.
Liêu Xá nọ bao hoàn thuỷ thế,
Ngọc Lặc kia dung hội địa hình.
Miền du tái thêm rộng quy mô.
Một vầng dãi tỏ áng Hồng Liễu,
Càng mầu thú vị đòi chốn thanh kỳ.

Hồng Liễu thi

Vẹn thiểu khôn dư ghẽ một bầu,
Nhìn xem hình thắng mọi đồ thâu.
Tạc dùi tài sẵn ra tay lạ,
Quyển chặt rương đầy tỏ đạo mầu.
Mấy áng khai thành dường trác ngọc,
Đòi côn bàn cứ mẽ liên châu.
Yên vui vả có bề tiêu sái,
Xuân sắc tứ mùa chẳng suất đâu.
Phúc điền in bóng thỏ làu làu,
Gặp một dải vầng điểu chói chói.
Oanh một dải xiết khen tuấn đạo,
Sông Bằng sao ghẽ có cửa kinh.
Nổi tam thai chỉn khéo an bài,
Tên Ngọc Uyên còn truyền dấu cũ.
Hàm Giang dải duềnh thanh sóng phẳng,
Nhuỵ châu càng khói tạnh mây thâu.
Gió đưa phảng ngát mùi thơm,
Hàm Thượng đặt có từ trung đẳng.
Gương tỏ rỡ ràng cảnh lạ,
Đồng Niên thêm nhiều thú thượng phương.

Đồng Niên thi

Bầu ngọc đâu đây khéo chuốt nên,
Trải bao thu hãy gọi Đồng Niên.
Nhân cơ vững đắp bên kia gác,
Phúc chỉ cao xây mới nọ chiền.
Ngõ rộng thênh thênh vây thọ vực,
Đường thông thán thán sạch trần duyên.
Mựa hiềm cảnh mọn chê rằng hẹp,
Xa cách tầm thường biết mấy ngàn.
Vũng dưới trông hùng thắng đã gần miền,
Chi gác đoài hàm trung đà cách dặm.
Một xóm lâu đài rộng rãi, cảnh Đặng Xá thanh thay,
Mấy chòm hoa thảo phất phơ, thú đan trường lạ bấy.
Mặc cầu mở vang vang tĩnh thổ,
Xuân áng đưa hây hây huệ phong.
An Trang kia phẳng phấn tứ bề,
Đường thông ngõ hạnh Nhuế Sơn nọ.
Mở mang đôi khóm, mùi nức hương lê,
Đạm trai ít nhiều của thổ nghi.
Cát khe hãy rệt danh thục đức,
Hình khoan bác khéo chê thú sản.
Qua nhất trai xem có vẻ thanh u,
Thế chu tuyền ướm đặt dấu thiêng,
Tới Đại Lữ tiện ra tay ghi thuật.

Đại Lữ thi

Ghẽ chiếm bầu nông sạch bụi trần,
Tóm thu vẫn đã vẹn mươi phân.
Rỡ ràng ngọc lạt đôi chiền Phật,
Chấp chới vàng tương một miếu thần.
Linh ứng cũng nhờ công bảo hựu,
Quang lâm nhiễu đội đức từ chân.
Khen ai chỉn khéo vây nên cảnh,
Phỏng trải xuân thu đã mấy tuần.
Bạn cá tôm đòi chốn hà tân,
Lại hạ cũng gội nhuần lộc nước.
Chiếm rùa hạc hai bên miếu tự,
Kinh Dương thêm gồm hưởng phúc thần.
Trước lầu khê băng thể áng danh lam,
Giữa Hoàng Kinh xem lúa từ Thượng Đẳng.
Thanh Lâm chỉn vững vàng hình địa,
Bút khôn dạm đồ tranh.
Chí Linh khéo thu khắp Hồ Thiên,
Của chất đầy kho tạo.
Kẻ đắp thợ khuya giơ búa nguyệt,
Làng chiền ai sớm rủ tay tiên.
Ngang gác điền màng mạt hỏi nẻo xưa,
Duềnh thuận thuỷ tiện qua gác thuỷ.
Thẳng Phao tân xa liếc trông thành cũ,
Đỉnh danh sơn đòi mấy Phao Sơn.

Phao Sơn thi

Thú sản yên hà ánh thức đan,
Khắt khe thay bấy cảnh Phao Sơn.
Hàng chen đỉnh nọ thông che tán,
Bóng rợp chiền kia liễu rủ màn.
Vẻ gấm hây hây phong tám bức,
Hương trời phẳng phẳng vẽ hoà ngàn.
Chước chi mời được Thiền sư lại,
Xây đắp dường bao tiện hỏi han.
Từ Hựu Quốc hương lửa chưa tàn,
Văn Khê đã rạng miền An Dũng.
Thói thuần cổ làng Duềnh đông họp,
Mỹ Lộc còn giáp huyện Thanh Lâm.
Cổ Pháp từ ngưng đượm huân cao,
Kinh phố khách mặc dầu lai vãng.
Dựng máy nhiệm công gồm thẻ bạc,
Nơi Đại Than hiện có từ thiêng.
Tỏ cơ mầu bóng dãi toà vàng,
Cảnh phú mại mở chen cõi phúc.
Giữa vân đoàn phải chừng quải đội,
Ngang Phả Lại vừa cả dừng thuyền.

Phả Lại tự thi

Đúc chuốt khuôn mầu chỉn có công,
Bình Than đất đất một bầu nông.
Xanh cài châm ngọc hây hây lạ,
Bạc điểm duềnh ngân lẻo lẻo trong.
Tám bức yên hoa đồ thăng lãm,
Ngàn xuân hương hoả sức linh thông.
Trời Nam tứ đại bao thu tá,
Bia miệng còn truyền dấu pháp chung.
Ngọc đông nên một áng văn phong,
Hình thế lạ phô bày rất nhiệm.
Đồ dạm sẵn nơi miền Phù Lãng,
Tay thiêng khéo chuốt nên mầu.

Phù Lãng tự thi

Trong áng trần hoàn chỉn cách chừng,
Cân xứng đích đương mặc trung bình.
Đỉnh nhân xuân tĩnh hoa khoe sắc,
Dòng trí thu trong nguyệt dãi vầng.
Nền tế độ dày kinh hãy tạc,
Dấu tham thiền sẵn bát còn dâng.
Dư hoàng đường trải khi thừa hứng,
Chim dật đầu cành ríu rít mừng.
Liên đài trùng trập mấy tầng,
Rất linh vẫn ngang chừng Đống Xá.
Bảo thụ tần vận nhiều khóm,
Đáp Khê cũng kề chốn Linh Giang.
Cổ trâu bày trước tả long ninh,
Xá ghẽ giữa bên hựu hổ.
Nền phàm mở xiết khen mực thợ,
Thú chiêm tranh một chạnh quảng tân.
Vẻ gấm phong dễ hứng tay thầy,
Cảnh đâu đấy gần miền lễ ghẽ.

Sùng Nghiêm tự thi

Mạch nẻo doanh sơn thế tóm thu,
Vang vang bao quát mặc quy mô.
Non trăm đỉnh quải hàng trương tán,
Nước sáu duềnh tuôn vẻ hiến châu.
Hổ cứ long bàn nền vượng khí,
Hạc sào kình hống dấu tri lô.
Tứ mùa thảo thụ phi mầu ngọc,
Dầu bút đan thanh mặc hoạ đồ.
Đột Lĩnh đây có chốn khẩn cầu.
Chốn này hãy vững từ Bạch Đế.
Kiệt Đặc đó nhiều đường tế độ.
Nẻo xưa còn truyền cảnh Huyền Thiên.
Long Động kho phong nguyệt có thừa lưa,
Kinh trong thú an nhàn nào thiếu thốn.
Nọ hà liễu cao doi Lê Xá, mấy dặm cách xa xa.
Kia đóng doi vĩnh trú Tê Sơn một vầng in vạnh vạnh.
Xem thủ chân cũng đã nên Cắc Cớ,
Tới Mặc Động càng đích thực khắt khe,
Chi Điền vừa thấm thoắt mới qua,
Động quan đà lăm chăm lộ thể.
Cõi Đâu Suất rạng soi nhật nguyệt,
Chiền Sạ Sơn rộng đất phúc vang vang;
Nền anh linh chẳng nguội khói hương.
Từ cũ động doi, trời xuân vặc vặc.
Màng đủng đỉnh dạo chơi cảnh ấy.
Bỗng lân la đã đến miền này.
Trải qua mấy thú thanh cao, mỗi chiều mỗi lạ.
Lần khắp đòi nơi nhân trí, chẳng chốn chẳng ưa.

Quỳnh Lâm tự thi

Bảo phường bày đặt khéo đông treo,
Kỳ ngộ thanh u đủ mọi chiều.
Rạng mở cung Châu vây điệp bích,
Tầng xây tháp báu trứ trùng tiêu.
Đan dồi tranh núi ngưng vườn Lãng,
Ngọc trỗi cầm thông lẫn khúc thiều.
Tứ đại danh văn còn rệt dấu,
Đỉnh Tân dành để phúc thêm nhiều.
Cõi hà lôi còn đồng vọng việt yêu.
Rệt hai miếu ngang miền trường bàng,
Tới Hồng Doanh đà dừng lánh non Thuỵ,
Tỏ tứ bề nền cảnh Hồ Thiên.

Hồ Thiên tự thi

Vọi vọi tôn nghiêm vốn tự nhiên,
Cảnh đâu dễ độ giá Hồ Thiên.
Cao xây cõi phúc âu năng một,
Xa cách trần gian cả mấy ngàn.
Cửa quyến thanh phong đưa tiếng nhạc,
Nhà in hạo nguyệt tỏ lòng thiền.
Vời so non Cứu âu đây cũng,
Rũ sạch trần hưu dám bá men.
Phú ninh chen tĩnh cảnh tóm nên.
Linh trường sẵn anh từ đôi thốc.
Trung lương đà nên lòng thành tín.
Nơi thờ Thần khéo bày đặt quy mô.
Nam mẫu hay mến đạo tu vinh.
Chốn kính Phật rộng mở mang vũ trụ.
Ngước chiều cảnh những gạn lời bàn bạc.
Túi quạt thơ bèn mượn bút vẽ vời.

Yên Tử sơn thi

Tượng còn nẻo trước dấu khai thành,
Riêng chiếm yên hà mấy bức tranh.
Sương tạnh am thông mầu điểm bạc,
Nguyệt nhòm cửa trúc vẻ phi xanh.
Nền xây bàn thạch cao ngàn đạo,
Đỉnh quải vân tiêu rợp án kinh.
Ngẫm sức an bài bao xiết ngợi,
Nơi nơi đích thực chốn tu hành.
Những mang say duềnh biếc đỉnh xanh, trước dường thích tính.
Vẫn hầu đà chiêng vàng gương bạc, sau mới truyền chân.
Tiện trông chú dịch ở miền kia,
Bèn thúc vệ binh sang chốn ấy.
Cõi Nam mở mấy đồ quảng ký, mới tiện trình trải khắp mọi nơi.
Non Đông xem có vẻ trùng tân, ra diệu thủ chắp nên ngũ vận.

Non Đông tự thi

Gây nên ngao cực chống trời đông,
Giá ấy cân xứng vẫn lọt vòng.
Thức ánh minh chu lồng viễn phố,
Tầng xây hoa cái lửa kỳ phong.
Đan thanh sẵn dạm đồ Bồng đảo,
Sắt đá bền luyện bạn trúc thông.
Trong thuở đăng lâm mây nối gót,
Thước gang dường đã tiện vầng hồng.
Đống Vĩnh Khang vừa vui chữ hồn dung,
Liếc Đông Lăng xảy trạnh niềm bác tế.
Nọ Mạo Khê ngang làng Cổ Giản, phỏng dạng còn gần,
Kia Hạ Diểu cách xã Kim Liên, xem chừng chẳng mấy.
Nhuệ hổ bản đồ xưa sẵn có,
Hoàng Thạch còn sách cũ hay chăng.
Từ đông công dãi thức duật vân, rằng bích lôi ấy đấy,
Chiền Đức Quang in vầng hạo nguyệt, gọi Thượng Chiếu là đây.
Qua Kim Trà mong mượn bút ba câu,
Thế nhâm dương xảy hứng thơ một luật.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]