Càn nguyên ngự chế thi tập là tập gồm 268 bài thơ của Trịnh Doanh, trong đó có 37 bài thơ chữ Hán và 231 bài thơ Nôm. Trịnh Doanh lên ngôi chúa vào năm 1740, nên số bài thơ này ra đời từ 1740 trở đi. Tuy nhiên, phải đến khi con trai ông là Trịnh Sâm (1762-1782) lên cầm quyền thì chúng mới được tập hợp, ghi chép thành sách. Người tuân theo mệnh lệnh chúa Trịnh làm công việc này là Phan Lê Phiên (1734-1809), giữ chức Hàn lâm viện Thị thư, Tư nghiệp Quốc tử giám. Trong bài khải đề ngày 20 tháng 8 năm Cảnh Hưng 31 (1770), ông viết: “Kính vâng thánh chỉ, biên chép các bài thơ ngự chế của tiên thánh vương theo thứ tự, sắp đặt thành huấn theo từng việc, từng loại, vựng thành bốn quyển, đặt tên là Càn nguyên ngự chế thi tập.”
Hiện nay, sách chỉ còn một bản chép tay ký hiệu A.1319 được lưu giữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhưng không đề rõ năm tháng hoặc tên người sao chép, 210 trang, mỗi trang viết hai mặt, có mục lục và bài khải dâng sách nói trên. Nội dung gồm:
- Quyển 1 có 84 bài (có 2 bài chữ Hán): Việc nhân ái trong họ hàng (Nhân thân chi sự) 8 bài; Phép tắc trong nhà (Nhân gia chi tắc) 35 bài; Đạo trị nước (Vi trị chi đạo) 9 bài; Phép tuyển quan (Cất nhũng chi pháp) 12 bài; Nhân việc mà dạy bảo (Nhân sự chi huấn) 20 bài.
- Quyển 2 có 51 bài (có 9 bài chữ Hán): Sai các tướng đi đánh trận (Khiển chúng tướng vũ chinh) 40 bài; Sai các quan đi trấn nhậm (Mệnh chư hầu xuất trấn) 11 bài.
- Quyển 3 có 53 bài (có 17 bài chữ Hán): Khen, dụ đại thần (Tưởng dụ đại thần) 21 bài; Uý lạo sứ thần (Tưởng lao sứ thần) 10 bài; Tưởng lễ các bậc kỳ lão (Ưu lễ kỳ thần) 18 bài; Tôn sùng các bậc thánh triết (Bao sùng thánh triết) 3 bài.
- Quyển 4 có 81 bài (có 9 bài chữ Hán): Cảm nhận phúc trời (Cảm thụ thiên hưu) 16 bài; Ban thưởng (Khánh thưởng) 5 bài; Ngụ hứng (Ký hứng) 8 bài; Vịnh phong cảnh miền đông (Đông chinh ký thắng) 3 bài; Vịnh phong cảnh các nơi (Tỉnh phương ký thắng) 14 bài; Vịnh phong cảnh kinh thành (Kỳ điện ký thắng) 4 bài; Tạp vịnh 28 bài và Ngẫu tác 3 bài.
Trịnh Doanh không chỉ dùng thơ để chỉ đạo, đôn đốc công việc mà còn dùng thơ để cảm hứng, đề vịnh, như trong các bài thưởng xuân, ngắm trăng, vịnh chùa Phao Sơn, chùa Phả Lại... Có thể nói bất kỳ ở nơi đâu, cảnh vật dưới ngòi bút của ông cũng hiện lên thật sinh động, hấp dẫn. Những bài thơ thuộc loại này đã ít nhiều thể hiện tình cảm yêu mến và tự hào về phong vật của đất nước. Thể thơ thường dùng là Đường luật, đôi khi xen vào các câu sáu chữ. Lối thơ này đã từng thấy trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của các tác giả thời Hồng Đức và Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong tác phẩm này lại được tác giả vận dụng khá tinh tế ở một số bài như Tả điếu ngư cảnh tự, Vịnh Dịch Long phong cảnh, Gia ban chánh sứ Nguyễn Huy Oánh... Có một số bài được làm theo thể lục bát: Chính nghi dụng pháp, Đầu trào hước, và song thất lục bát: Khánh thưởng chư vương tôn thi tiến. Tuy hai thể thơ này còn ở dạng thể nghiệm nhưng cũng có những câu khá chải chuốt, nhuần nhuyễn.
Tuy là một văn bản chép tay nhưng do tính chất kế thừa của một nền văn tự mà Càn nguyên ngự chế thi tập còn lưu giữ được những mã chữ Nôm cổ. Văn bản cũng có khá nhiều từ cổ mà hầu như hiện nay không còn sử dụng nữa. Đây là một nguồn tài liệu quý đối với những người làm công tác nghiên cứu chữ Nôm và lịch sử tiếng Việt.
Thơ Trịnh Doanh tuy có ít nhiều sử dụng điển tích trong các nguồn văn liệu Trung Quốc thời xưa, nhất là ở Tứ thư, Ngũ kinh và có nhiều từ ngữ gốc Hán, nhưng nhìn chung bình dị, dễ hiểu. Tác giả đã tỏ ra coi trọng việc sử dụng chữ viết dân tộc và chỉ riêng con số trên 230 bài thơ Nôm cũng đủ để liệt ông vào danh sách những tác gia có tên tuổi của nền văn học trung đại Việt Nam.
Càn nguyên ngự chế thi tập là tập gồm 268 bài thơ của Trịnh Doanh, trong đó có 37 bài thơ chữ Hán và 231 bài thơ Nôm. Trịnh Doanh lên ngôi chúa vào năm 1740, nên số bài thơ này ra đời từ 1740 trở đi. Tuy nhiên, phải đến khi con trai ông là Trịnh Sâm (1762-1782) lên cầm quyền thì chúng mới được tập hợp, ghi chép thành sách. Người tuân theo mệnh lệnh chúa Trịnh làm công việc này là Phan Lê Phiên (1734-1809), giữ chức Hàn lâm viện Thị thư, Tư nghiệp Quốc tử giám. Trong bài khải đề ngày 20 tháng 8 năm Cảnh Hưng 31 (1770), ông viết: “Kính vâng thánh chỉ, biên chép các bài thơ ngự chế của tiên thánh vương theo thứ tự, sắp đặt thành huấn theo từng việc, từng loại, vựng thành bốn quyển, đặt tên là Càn nguyên ngự chế thi tập.”
Hiện nay, sách chỉ còn một bản chép tay ký hiệu A.1319 được…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.