Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Ngán nhẽ tụng Tây Hồ;
Ngán nhẽ tụng Tây Hồ!

Vốn trước đã lở hầm toang hoác vũng;
Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò?

Người rằng nơi Long tử khoét làm vùng, bởi nhân bùa quái chú Hư trao, vậy cáo trắng hơi vào đại trạch;
Kẻ bảo ấy Cao vương đào chặn mạch, vì mảng tiếng chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến trung đô.

Bốn mặt chứa châu cung, kim điện;
Một doành thâu băng chử, ngọc hồ.

Bãi Dâm Đàm gió thét trận Trưng vương, khi chướng vụ đông tan đầu lĩnh ngất;
Lãng Bạc tuyết tan đồn Bắc tướng, đàn lộ âu tắm lẩn bóng trăng nhò.

thu nguyệt mới nước trời lẫn sắc;
Chửa xuân thiên sao hoa cỏ quen mùa?

Cát xô lên mỏ phượng lù xù, hình thu nữ thẹn lên lầu nguyệt kính;
Nước chảy xuống hàm rồng róc rách, dáng xuân lang rót lại chén đồ tô.

Toà thạch tháp đã tan bình xá lị;
Đống thổ đôi cũng nát dấu linh phù.

Lưới Mục lang âu nát bét cả giềng, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ;
Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam đâu cố sức giam rùa.

Thiên niên nếu được lâu, sao quán nát;
Vạn bảo nào có báu, để ghềnh nhô?

Ngẫm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh xe vóc, chị mũ vàng, đủng đỉnh thế ở làm trò Phạm vũ;
Xem đồng quán dở dang chiều lý thú, đứa dải đào, thằng khăn thắm, náo nức thay chạy đến quấy Nghi Vu.

Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu;
Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.

Nhà tranh đua điều khấn bụt cầu ma, đường Quan Thánh khéo lăng nhăng lít nhít;
Chợ đồn rao những buôn hùm bán quỷ, mái Trương Lương nghe láo nháo y ô.

Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt;
Sóng cánh hàn xô sườn núi ồ ồ.

Bãi Đuôi Nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hờn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái chạy ra cho chóng;
Hồ Cổ Ngựa thối hoăng mùi đại tiểu, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân tranh nát đã như vò.

Yên công tử ắt đà long cổ nối;
Mộc vũ thần âu đã gẫy tay co.

Thoi oanh dầu dệt liễu nên tơ, cửa nam khó xỏ kim thêu túi;
Đèn đóm dẫu soi sen thấy lửa, quân tây khôn đốt điếu hun lò.

Quyên oán hạ thiên đà khắc khoải;
Ve hờn Nam địa mới rì rù.

Chùa Châu Long hương cúng khét mù, nghe mõ cả đã vang cầu Trúc;
Hàng Bạch Mã sen bay hết cả, làm giấy hoa đem bán sông Tô.

Ngắm cảnh trí cũng chẳng vui mấy thú;
Xem phong quang còn có vẻ một khu.

Cái cô đình cho gió lọt hoa kề, long lanh hoa đượm màu sương, dường tạo hoá đã in châu tạc bích;
Con tiểu đĩnh để mây che nước chở, lóng lánh sông in sắc nguyệt, ngỡ khuôn trời còn đúc ngọc đào châu.

Gẫm phong cảnh biết càn khôn chẳng phụ;
Lấy cỏ hoa làm bạn tác mà no.

Cành dưới trên sương hãy nhuộm màu xanh, ca ngư tử đã xua tan vầng ngọc thỏ;
Cây ngang dọc tuyết còn đông bãi bạc, địch mục nhi đà thổi rạng bóng kim ô.

Chuyện Tần Hán kẻ kia cười hả hả;
Giấc Hy Hoàng người nọ ngáy pho pho.

Cuộc doanh thâu bàn bạc bắc nam chơi, khúc sơn thuỷ gảy vài cung réo rắt;
Thơ thanh nhã đề ngâm phong nguyệt mới, rượu càn khôn rót mấy chén thơm tho.

Vuông đất tròn trời, thu về chật túi;
Ngang sông dọc núi, chở lại đầy kho.

Hóng thanh phong nằm khểnh tót Tam sơn, đem bụng trí để đợi đoàn ong kiến;
Chở minh nguyệt tếch về ngay Nhị thuỷ, giương mắt thần mà ngắm thế trai cò.

Bấy nhiêu thú cũng kể làm thắng khái;
Còn những đâu mà dám nói nhàn ngu?

Cao minh chi mà biết phép quan ngư, nào có phải Ba La cổ sắt;
Tài cán ấy khó làm mưu dụ tượng, dễ mà như Hư Tĩnh thư phù.

Đường thưởng ngoạn bụi mờ móng ngựa;
Cung du quan mây mịt bòng dù.

Đồ ăn thức mặc, ngán nỗi phố phường, xem phong vị khó như đời đại hữu;
Kẻ ám người gian, gớm thay quân tướng, ngẫm minh lương nào phải đạo trung phu.

Chữ viết cua bò, lăng nhăng thư thảo;
Thơ rông chó chạy, láo nháo xướng thù.

Nhạc huân thiều đồng vọng khúc xưa, tiếng thanh điểu kêu người đi kẻ lại;
Bộ chương phủ mơ màng dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.

Con túc vụ mờ mờ về đỉnh quạnh;
Cái cô hồng thăm thẳm tếch mây mù.

Chốn thi đình ve khóc giục hè sang, bốn vách in sầu thơ bạch nhạn;
Mái cầm viện dế kêu liền thu tới, ba gian kết thảm lưới thanh thù.

Đàn trĩ rúc sương kêu ánh ỏi;
Lửa huỳnh soi gió bóng lù đù.

Cát xô lên mặt sóng trắng phau phau, nghĩ ấy thầy Tân đem hạc múa;
Trăng lặn xuống đáy hồ trong vằng vặc, tưởng rằng ông Lý cưỡi kình mò.

Khóc khí vận tủi thay con đỗ vũ;
Kêu cơ hoang xót lẽ cái hà mô.

Quyên thét lâu thì luống để hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng phải căm lòng Bắc sĩ;
Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi, trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió, bởi Tây triều mà giận chí Đông phu.

Than với đất cả lũ đàn chim sẻ;
Thở cùng trời từ cái cóc con cua.

Thưởng nghiên trà cho cá đớp hạc bay, khi hứng vịnh nguyệt dòm quanh bóng quế;
Nhớ thuần lư sẵn ngòi sâu nước rộng, buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.

Kẻ cao sĩ ắt nhiều nơi trực bút;
Đứa tiểu nhân âu lắm chỗ hàm hồ.

Phường Khán Sơn hoa kết mãng vừa rồi, đoàn kỹ nữ bẻ bai hình đến phố;
Chợ Võng Thị rượu nồng hương còn mới, lũ tuý ông tất tưởi dáng sang đò.

Khói viễn thôn khi ngọn gió ra vào, trông thấp thoáng ngỡ nhà mờ cửa lấp;
Trông cổ quán lúc tấm mây cuốn mở, thấy xa xa hình núi lấp cây lờ.

Chim bay nhảy rừng cây vì vụt;
Cá xuống lên mặt nước thập thò.

Cảnh gặp khi quân tướng những ta xưa, duyên cỏ hoa thì ai cũng chào ưa, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng dạ hãy biết cho người với;
Người đến lúc quan hà về kẻ khác, thù non nước nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng thanh gió mát, mặt mũi nào vui với cảnh ru!

Che ngất lâu đài mây mấy lớp;
Lấp cả văn chương đất một gò.


Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não;
Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng thấy tô nhu.

Cơn binh hoả trải mấy phen dời đổi;
Buổi phong trần thêm lắm dịp tranh đua.

Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên đạo cũng vui thay cảnh thú;
Cuộc Nam Bắc được thua dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù!

Đường vinh nhục nọ dòng nước chảy;
Áng lợi danh kìa đá lửa khua.

Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi, kẻ chí sĩ hãy làm thinh chẳng đỡ;
Vạc quốc bảo khách đà sờn tay kéo, đứa nhâm nhân còn trở lại mà hò.

Du hồ dễ mấy ai Phạm Lãi;
Phù hải nhiều chẳng một Tử Do.

Cửa âm dương đóng mở tháng ngày liền, cơ huyền diệu khôn bàn sinh với tử;
Xe nhật nguyệt rẩy run xuôi ngược mãi, kiếp phù hư khó tính hữu hay vô.

Dường trăng nọ tròn rồi thời lại khuyết;
Như bình kia đầy lắm có khi rò.

Nhớ khi thanh dạ câu trăng, sen thoang thoảng đưa hương trà ướp mộc;
Tưởng buổi đoan dương quạt gió, ngải bầng bầng hong ấm rượu ngâm bồ.

Thanh cung khi hạ tới nắng đương nồng, nhồi phấn phun hương, so thanh lãnh với đông kia chẳng kém;
Lãng uyển lúc thu về hoa chửa nở, thêu hồng kết lục, ví phân phương cùng xuân ấy nào thua.

Thủa ngự du đưa đĩnh phượng thuyền rồng, thẻ thanh hồng hoa cắm chặt ao tiên, thu được cả vương hầu khanh tướng;
Khi tứ yến tấu đàn loan quyển hạc, khúc nghê vũ gió thổi lan cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu.

Nông nỗi ấy, ta càng ngán nhẽ;
Cơn cớ này, ai kẻ biết cho?


Đến nay:
Tan tành phong cảnh;
Nát bét quy mô!

Cơn thảo muội những nghĩ điều biến cải;
Lúc phong trần không thấy hội đô du.

Nhìn cố cung phai nhạt màu xưa, tới mộc thạch cũng đeo sầu tiêu tác;
Xem hồ thuỷ thẹn cùng sắc nước, đến cỏ hoa đều ê ủ phân phu.

Thấy thế khí lắm nơi xoay gió lốc;
Xem thiên văn đương lúc thẳng sao rua.

Thuở bát chuyên độn đến lại thêm phiền, Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá;
Quẻ lục hợp bói ra thì cũng phải, Nhâm Tuất sao bỗng nát như tro.

Vận hội nọ nghĩ cũng đà nên biến;
Công lao kia xem chửa chút nào bù.

Nếu ra tay thì núi lở sông trào, thề chí ấy để vững ngôi nhân thế;
Hễ chớp mắt hẳn trời xoay đất chuyển, quyết gan này đem lại đứng thiên khu.

Có trung nghĩa ắt không lưỡng lập;
Để tinh thần thấu đến cửu u.

Rửa quan hà cho sạch dấu tanh hôi, vạn vũ được nhờ ca hữu tượng;
Quét thành thị cho trơn bề gai góc, tứ phương đều đội đức vô ngu.

Bởi con tạo có tơ gây lắm mối;
Vì thợ người đưa gấm nhuộm nên ngù.

Kèn Thọ Xương đưa khách Bắc Nam về, thổi vu ký vu quy hồ hí hí;
Văn Quảng Bá phúng người khanh tướng thác, khóc vô cô vô cố vị ô hô!

Kèn thổi thế dễ ai đua ngón được;
Văn khóc kia mấy kẻ đặt lời so.

Thấy phong quang mà thêm cám cảnh thay, thử liếc mắt ngắm cùng con âu lộ;
Nghĩ thời thế mới càng ngao ngán nhẽ, sẽ rỉ tai bàn với lũ mục sô.

Rằng thiện ác vì ai dùi đứt lưới;
Hỏi thịnh suy nào kẻ đạp tung lò?

Vận hoang niên nào có ít tử hung, được vui thoả hẳn quên câu oán nhạn;
Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận, có say no mới nghĩ khúc ca phù.

Máy trị loạn chẳng khác chi bàn rối;
Vành quan quân xem tựa giống đèn cù.

Chính sự này đừng nói với ta chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ;
Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh dành bắn cái yêu hồ.

Thấy thiên ý biết rằng cơ trị loạn;
Xem hồ quang đà không dấu thanh du.

Con lộc kia nào có phép toàn đâu, ông ngồi mã thượng những theo nhanh, còn quen thói gian tà mà chỉ lộc;
Khóm do nọ hẳn đến ngày cắt hết, kẻ muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do.

Đá khiết bạch khó mài mầu siểm nịnh;
Nước thanh quang khôn lợt vết tham ô.

Quốc đã nguy mà tướng lại không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
Quân đã ám vả thần thì chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điêu trù.

Nẻo tiên cũng khó tìm nơi hoá;
Dấu Phật càng khôn xuống đấy tu.

Võ sự xem ra khổ man di, thằng bước tới, đứa chen vào, chiến trận ấy cũng cờ giong trống giục;
Vă chương gẫm chẳng noi Trâu Lỗ, kẻ đặt đi, người chữa lại, thơ phú chi mà cửa chật sân xô.

Khí tượng ấy cũng không vương được nhỏ;
Anh uy này toan lại đế cho to.

Đây nay:
Chơi thời đã trải;
Ở cũng không thô.

Nghĩ chước sợ lây mùi chung đỉnh;
Nên thân còn nhận dấu phần du.

Giận vì thằng đặt “Tụng Tây Hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ quên đời thế đế;
Vậy nên tớ làm thiên “Chiến tụng”, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ.


Nguyên dẫn: Năm Canh Thân (1800) mùa hạ, đến chơi với bạn ở Trường An, nghe bạn ngâm bài Tây Hồ tụng. Hỏi: ai làm ấy thế? Bạn rằng: Chương Lĩnh hầu Hữu hộ Lượng làm ra. Ta rằng: Chao ôi! Hữu hộ Lượng à! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm Nguỵ, lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt! Ghét đứa nịnh làm sao. Nhớ xưa có bài thơ Chiến cổ, nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài Chiến tụng đề góp một chút trò cười với đời.

Bài phú này được làm vào năm Quý Hợi (1803), sau khi nhà Tây Sơn đã diệt vong. Theo lời dẫn của Nguyễn Huy Lượng thì bài Tụng Tây Hồ phú được làm mùa hè năm Tân Dậu (1801), nhưng Phạm Thái cho rằng mình đọc được bài đó năm Canh Thân (1800), nên có thể Phạm Thái đã nhớ nhầm về thời gian. Lượng vốn là tôi nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, viết bài Tụng Tây Hồ phú để ca ngợi vua Quang Trung. Phạm nhân đó hoạ lại bằng bài này để bày tỏ lòng trung của mình với nhà Lê.

Hồ Tây ( 21.052,105.825): Hồ Tây trước đây còn được gọi là hồ Lãng Bạc, hồ Kim Ngưu, đầm Xác Cáo, Dâm Đàm, là hồ lớn nhất thuộc Hà Nội ngày nay. Hồ xưa vốn là một phần của sông Hồng, còn lại sau khi sông thay đổi dòng chảy. Theo Tây Hồ chí ghi rằng, Hồ Tây có từ thời Hùng Vương. Khi đó đây là một bến nằm giáp sông Hồng thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến Lâm Ấp thuộc thôn Long Đỗ. Thời Hai Bà Trưng, bến này ăn thông với sông Hồng, bao bọc quanh hồ là rừng cây gồm nhiều loại thực vật chính như tre ngà, bàng, lim, lau sậy, gỗ tầm... cùng một số loài thú. Ngoài ra, xung quanh bờ hồ còn có các hang động vừa và nhỏ, bờ phía tây có Già La động (nay là Quán La thuộc phường Xuân La), bờ phía đông có Nha Lâm động (nay là phố Yên Ninh, Hoè Nhai), bờ phía nam có Bình Sa động (thời Lý đổi là Giáp Cơ xá nay thuộc quận Hoàn Kiếm).

Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thuý Hoa và Từ Hoa thời Lý, nay là khu chùa Trấn Quốc. Tương truyền, chùa Kim Liên được dựng trên nền cung điện của công chúa Từ Hoa là con vua Lý Thần Tông. Để phát triển cơ sở tầm tang, Từ Hoa đã mang các cung nữ ra khu vực Hồ Tây khai hoang, lập ấp và dựng nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa cho họ. Trại Nghi Tàm là một điền trang lớn quán xuyến việc này. Bên cạnh Hồ Tây ngày nay còn có hồ Trúc Bạch, trước vốn cũng là một phần của Hồ Tây nhưng được dân đắp đê Cố Ngự ngăn ra để tiện đánh bắt cá, ngày nay trở thành đường Thanh Niên.

Hồ Tây gắn với nhiều sự tích và truyền thuyết, khiến hồ cũng từng có nhiều tên gọi khác nhau. Theo Lĩnh Nam chích quái (1492), ở phía tây thành Long Biên có núi đá nhỏ, có con Hồ Tinh (yêu quái cáo) chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể biến hoá vạn trạng, khi thành người khi thành quỷ ở khắp dân gian. Long Quân bèn ra lệnh cho sáu đạo quân của thuỷ phủ dâng nước lên công phá bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu. Hồ Tây chính là hang con cáo chín đuôi phá hoại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá. Do đó, hồ có tên là đầm Xác Cáo. Xưa ở quanh hồ có các làng đặt tên theo truyền thuyết này như Hồ Đỗng (hang cáo), Làng Cáo (nay là Xuân Tảo), Hồ Thôn (thôn cáo, nay là Hồ Khẩu). Ngày nay, ven hồ có đường Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng là để nhắc tới tích này. Một số sách khác lại chép vị thánh trừ con cáo chín đuôi là Huyền Thiên Trấn Vũ, nên được thờ ở đền Trấn Vũ cạnh Hồ Tây.

Một truyền thuyết khác kể về một ông khổng lồ có sức khoẻ phi thường, xuất gia theo Phật, chính là thiền sư Minh Không. Sư sang Tàu chữa bệnh cho con vua Tống. Khi công việc hoàn thành, vua muốn trả ơn, sư chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Vua Tàu đồng ý cho thiền sư tự ý vào kho lấy đồng. Sư đã lấy tất cả đồng đen trong kho bỏ vào tay nải và thả nón tu lờ làm thuyền, bơi về nước Nam. Về đến Thăng Long, ông dùng số đồng đó đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: tượng Phật cao 6 trượng, chóp đỉnh tháp Báo Thiên chín tầng, đỉnh đồng có đường kính 10 sải tay và một quả chuông đồng cực lớn. Chuông đúc xong, đức vua sai ông đánh một hồi chuông dài để báo hiệu cho dân chúng biết tin vui nước nhà đang thái bình thịnh trị. Tiếng chuông ngân đến tận kinh đô bên Tàu. Nghe tiếng chuông, con trâu bằng vàng to lớn nằm trước kho đồng bên Tàu tự dưng bừng tỉnh “Đồng đen là mẹ của vàng” ngỡ là tiếng mẹ gọi nó liền vươn mình phóng thẳng xuống phương Nam tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh. Trâu vàng quần quanh mãi mà vẫn không thấy, khiến cho cả một vùng đất lớn quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng hố sâu. Quả chuông sau một hồi cũng đổ sụp xuống hố. Trâu vàng cũng theo đó nhảy xuống và nằm bên cạnh, chẳng bao lâu sau vùng đất bị trâu vàng dẫm sụt, nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông. Từ đó, quả chuông cứ nằm mãi dưới lòng hồ không ai vớt lên nổi và trâu vàng vẫn cứ nằm mãi bên cạnh quả chuông dưới đáy nước sâu mà không quay về phương Bắc nữa. Do vậy người ta bèn đặt tên cho hồ là hồ Kim Ngưu. Sư Minh Không về sau được thợ đúc đồng vùng Ngũ Xá (nay ở đông nam hồ Trúc Bạch) thờ làm tổ sư nghề đúc đồng. Đình Ngũ Xá thờ tổ sư Minh Không hiện nằm trên phố Nguyễn Khắc Hiếu, chùa Ngũ Xá nằm trên phố Ngũ Xá đều thuộc phường Trúc Bạch. Trong đình có tượng tổ sư bằng gỗ cao 1m70, là pho tượng đồng lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Theo Tây Hồ chí, sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, tướng nhà Hán là Mã Viện đã gọi Hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ. Một viên tướng là Bình Lạc hầu Hàn Vũ đã chết ở đây. Tên gọi này thể hiện ý nghĩa rõ nhất vào những ngày giông bão, mặt hồ rộng, sóng nước nổi lên ầm ầm, tạo ra một cảnh hồ hùng tráng và nên thơ.

Một tên gọi nữa là Dâm Đàm, không biết chính xác được gọi trong thời gian nào, nhưng theo Trần Quốc Vượng thì Dâm Đàm có tên thật từ thời Lý - Trần với huyền tích Lý Nhân Tông ngồi thuyền Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù, có thuyền tới gần, trên có hổ. Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hoá ra đó là thái sư Lê Văn Thịnh, và ông cho rằng Dâm Đàm nghĩa là hồ mù sương. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, hồ Kim Ngưu trở thành một địa điểm du ngoại được nhà vua và các quan ưa thích, nhiều lần trong các buổi du ngoại, nhà vua gặp sương mù bao phủ, cảnh tượng hồ trở nêm huyền ảo mộng mơ, vì vậy hồ đã được đổi tên là Dâm Đàm. Năm 1573, để tránh tên huý của Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ. Ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo Trung Quốc là điều thường gặp.

Thời Lê - Trịnh, chúa Trịnh Tạc (1606-1682) được phong tước Tây Vương, nên các địa danh nào có chữ Tây ông đều ra lệnh đổi thành Đoài, như Sơn Tây gọi thành Xứ Đoài, nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ. Nhưng cái tên Đoài Hồ không được dùng lâu, sau đó còn đổi thành Diêm Hồ, Liêm Đàm. Nhưng người ta vẫn quen gọi là Hồ Tây hơn.

Hồ Tây trước đây còn nổi tiếng có nhiều sâm cầm, được xem là đặc sản tiến vua, nhưng có giai thoại kể là nhờ công Bà huyện Thanh Quan thảo đơn giúp dân thưa việc xách nhiễu của quan trên và vua Tự Đức xét đơn đã tha lệnh cống cho vùng. Nhưng cùng với thời gian, Hồ Tây hẹp lại, ô nhiễm hơn hơn và ít rong rêu, và vì sự săn bắn bừa bãi, từ khoảng năm 1994, chim sâm cầm đã không trở về đây.

Hồ Tây
Hình: Hồ Tây



[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]