Đăng bởi Vanachi vào 12/01/2008 10:09
Ngán nhẽ tụng Tây Hồ;
Ngán nhẽ tụng Tây Hồ!
Vốn trước đã lở hầm toang hoác vũng;
Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò?
Người rằng nơi Long tử khoét làm vùng, bởi nhân bùa quái chú Hư trao, vậy cáo trắng hơi vào đại trạch;
Kẻ bảo ấy Cao vương đào chặn mạch, vì mảng tiếng chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến trung đô.
Bốn mặt chứa châu cung, kim điện;
Một doành thâu băng chử, ngọc hồ.
Bãi Dâm Đàm gió thét trận Trưng vương, khi chướng vụ đông tan đầu lĩnh ngất;
Gò Lãng Bạc tuyết tan đồn Bắc tướng, đàn lộ âu tắm lẩn bóng trăng nhò.
Có thu nguyệt mới nước trời lẫn sắc;
Chửa xuân thiên sao hoa cỏ quen mùa?
Cát xô lên mỏ phượng lù xù, hình thu nữ thẹn lên lầu nguyệt kính;
Nước chảy xuống hàm rồng róc rách, dáng xuân lang rót lại chén đồ tô.
Toà thạch tháp đã tan bình xá lị;
Đống thổ đôi cũng nát dấu linh phù.
Lưới Mục lang âu nát bét cả giềng, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ;
Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam đâu cố sức giam rùa.
Thiên niên nếu được lâu, sao quán nát;
Vạn bảo nào có báu, để ghềnh nhô?
Ngẫm tăng ni thơ thẩn khổ tu hành, anh xe vóc, chị mũ vàng, đủng đỉnh thế ở làm trò Phạm vũ;
Xem đồng quán dở dang chiều lý thú, đứa dải đào, thằng khăn thắm, náo nức thay chạy đến quấy Nghi Vu.
Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu;
Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.
Nhà tranh đua điều khấn bụt cầu ma, đường Quan Thánh khéo lăng nhăng lít nhít;
Chợ đồn rao những buôn hùm bán quỷ, mái Trương Lương nghe láo nháo y ô.
Khói lò gạch thổi lưng trời ngùn ngụt;
Sóng cánh hàn xô sườn núi ồ ồ.
Bãi Đuôi Nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hờn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái chạy ra cho chóng;
Hồ Cổ Ngựa thối hoăng mùi đại tiểu, hoa thơm giận chiều xuân sao nỡ phụ, lều cư nhân tranh nát đã như vò.
Yên công tử ắt đà long cổ nối;
Mộc vũ thần âu đã gẫy tay co.
Thoi oanh dầu dệt liễu nên tơ, cửa nam khó xỏ kim thêu túi;
Đèn đóm dẫu soi sen thấy lửa, quân tây khôn đốt điếu hun lò.
Quyên oán hạ thiên đà khắc khoải;
Ve hờn Nam địa mới rì rù.
Chùa Châu Long hương cúng khét mù, nghe mõ cả đã vang cầu Trúc;
Hàng Bạch Mã sen bay hết cả, làm giấy hoa đem bán sông Tô.
Ngắm cảnh trí cũng chẳng vui mấy thú;
Xem phong quang còn có vẻ một khu.
Cái cô đình cho gió lọt hoa kề, long lanh hoa đượm màu sương, dường tạo hoá đã in châu tạc bích;
Con tiểu đĩnh để mây che nước chở, lóng lánh sông in sắc nguyệt, ngỡ khuôn trời còn đúc ngọc đào châu.
Gẫm phong cảnh biết càn khôn chẳng phụ;
Lấy cỏ hoa làm bạn tác mà no.
Cành dưới trên sương hãy nhuộm màu xanh, ca ngư tử đã xua tan vầng ngọc thỏ;
Cây ngang dọc tuyết còn đông bãi bạc, địch mục nhi đà thổi rạng bóng kim ô.
Chuyện Tần Hán kẻ kia cười hả hả;
Giấc Hy Hoàng người nọ ngáy pho pho.
Cuộc doanh thâu bàn bạc bắc nam chơi, khúc sơn thuỷ gảy vài cung réo rắt;
Thơ thanh nhã đề ngâm phong nguyệt mới, rượu càn khôn rót mấy chén thơm tho.
Vuông đất tròn trời, thu về chật túi;
Ngang sông dọc núi, chở lại đầy kho.
Hóng thanh phong nằm khểnh tót Tam sơn, đem bụng trí để đợi đoàn ong kiến;
Chở minh nguyệt tếch về ngay Nhị thuỷ, giương mắt thần mà ngắm thế trai cò.
Bấy nhiêu thú cũng kể làm thắng khái;
Còn những đâu mà dám nói nhàn ngu?
Cao minh chi mà biết phép quan ngư, nào có phải Ba La cổ sắt;
Tài cán ấy khó làm mưu dụ tượng, dễ mà như Hư Tĩnh thư phù.
Đường thưởng ngoạn bụi mờ móng ngựa;
Cung du quan mây mịt bòng dù.
Đồ ăn thức mặc, ngán nỗi phố phường, xem phong vị khó như đời đại hữu;
Kẻ ám người gian, gớm thay quân tướng, ngẫm minh lương nào phải đạo trung phu.
Chữ viết cua bò, lăng nhăng thư thảo;
Thơ rông chó chạy, láo nháo xướng thù.
Nhạc huân thiều đồng vọng khúc xưa, tiếng thanh điểu kêu người đi kẻ lại;
Bộ chương phủ mơ màng dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.
Con túc vụ mờ mờ về đỉnh quạnh;
Cái cô hồng thăm thẳm tếch mây mù.
Chốn thi đình ve khóc giục hè sang, bốn vách in sầu thơ bạch nhạn;
Mái cầm viện dế kêu liền thu tới, ba gian kết thảm lưới thanh thù.
Đàn trĩ rúc sương kêu ánh ỏi;
Lửa huỳnh soi gió bóng lù đù.
Cát xô lên mặt sóng trắng phau phau, nghĩ ấy thầy Tân đem hạc múa;
Trăng lặn xuống đáy hồ trong vằng vặc, tưởng rằng ông Lý cưỡi kình mò.
Khóc khí vận tủi thay con đỗ vũ;
Kêu cơ hoang xót lẽ cái hà mô.
Quyên thét lâu thì luống để hờn lâu, bên cầu vồng nghe nhịp trống khua trăng, vì Nam tướng phải căm lòng Bắc sĩ;
Ếch kêu mãi lại càng thêm oán mãi, trên thành trì lắng ngọn còi huýt gió, bởi Tây triều mà giận chí Đông phu.
Than với đất cả lũ đàn chim sẻ;
Thở cùng trời từ cái cóc con cua.
Thưởng nghiên trà cho cá đớp hạc bay, khi hứng vịnh nguyệt dòm quanh bóng quế;
Nhớ thuần lư sẵn ngòi sâu nước rộng, buổi quy lai gió thổi rụng cành ngô.
Kẻ cao sĩ ắt nhiều nơi trực bút;
Đứa tiểu nhân âu lắm chỗ hàm hồ.
Phường Khán Sơn hoa kết mãng vừa rồi, đoàn kỹ nữ bẻ bai hình đến phố;
Chợ Võng Thị rượu nồng hương còn mới, lũ tuý ông tất tưởi dáng sang đò.
Khói viễn thôn khi ngọn gió ra vào, trông thấp thoáng ngỡ nhà mờ cửa lấp;
Trông cổ quán lúc tấm mây cuốn mở, thấy xa xa hình núi lấp cây lờ.
Chim bay nhảy rừng cây vì vụt;
Cá xuống lên mặt nước thập thò.
Cảnh gặp khi quân tướng những ta xưa, duyên cỏ hoa thì ai cũng chào ưa, nào ngờ tuyết lạnh sương tan, lòng dạ hãy biết cho người với;
Người đến lúc quan hà về kẻ khác, thù non nước nghĩ mình chưa trả được, dẫu có trăng thanh gió mát, mặt mũi nào vui với cảnh ru!
Che ngất lâu đài mây mấy lớp;
Lấp cả văn chương đất một gò.
Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não;
Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng thấy tô nhu.
Cơn binh hoả trải mấy phen dời đổi;
Buổi phong trần thêm lắm dịp tranh đua.
Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên đạo cũng vui thay cảnh thú;
Cuộc Nam Bắc được thua dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù!
Đường vinh nhục nọ dòng nước chảy;
Áng lợi danh kìa đá lửa khua.
Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi, kẻ chí sĩ hãy làm thinh chẳng đỡ;
Vạc quốc bảo khách đà sờn tay kéo, đứa nhâm nhân còn trở lại mà hò.
Du hồ dễ mấy ai Phạm Lãi;
Phù hải nhiều chẳng một Tử Do.
Cửa âm dương đóng mở tháng ngày liền, cơ huyền diệu khôn bàn sinh với tử;
Xe nhật nguyệt rẩy run xuôi ngược mãi, kiếp phù hư khó tính hữu hay vô.
Dường trăng nọ tròn rồi thời lại khuyết;
Như bình kia đầy lắm có khi rò.
Nhớ khi thanh dạ câu trăng, sen thoang thoảng đưa hương trà ướp mộc;
Tưởng buổi đoan dương quạt gió, ngải bầng bầng hong ấm rượu ngâm bồ.
Thanh cung khi hạ tới nắng đương nồng, nhồi phấn phun hương, so thanh lãnh với đông kia chẳng kém;
Lãng uyển lúc thu về hoa chửa nở, thêu hồng kết lục, ví phân phương cùng xuân ấy nào thua.
Thủa ngự du đưa đĩnh phượng thuyền rồng, thẻ thanh hồng hoa cắm chặt ao tiên, thu được cả vương hầu khanh tướng;
Khi tứ yến tấu đàn loan quyển hạc, khúc nghê vũ gió thổi lan cung nguyệt, vui mừng đều thành thị hải ngu.
Nông nỗi ấy, ta càng ngán nhẽ;
Cơn cớ này, ai kẻ biết cho?
Đến nay:
Tan tành phong cảnh;
Nát bét quy mô!
Cơn thảo muội những nghĩ điều biến cải;
Lúc phong trần không thấy hội đô du.
Nhìn cố cung phai nhạt màu xưa, tới mộc thạch cũng đeo sầu tiêu tác;
Xem hồ thuỷ thẹn cùng sắc nước, đến cỏ hoa đều ê ủ phân phu.
Thấy thế khí lắm nơi xoay gió lốc;
Xem thiên văn đương lúc thẳng sao rua.
Thuở bát chuyên độn đến lại thêm phiền, Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá;
Quẻ lục hợp bói ra thì cũng phải, Nhâm Tuất sao bỗng nát như tro.
Vận hội nọ nghĩ cũng đà nên biến;
Công lao kia xem chửa chút nào bù.
Nếu ra tay thì núi lở sông trào, thề chí ấy để vững ngôi nhân thế;
Hễ chớp mắt hẳn trời xoay đất chuyển, quyết gan này đem lại đứng thiên khu.
Có trung nghĩa ắt không lưỡng lập;
Để tinh thần thấu đến cửu u.
Rửa quan hà cho sạch dấu tanh hôi, vạn vũ được nhờ ca hữu tượng;
Quét thành thị cho trơn bề gai góc, tứ phương đều đội đức vô ngu.
Bởi con tạo có tơ gây lắm mối;
Vì thợ người đưa gấm nhuộm nên ngù.
Kèn Thọ Xương đưa khách Bắc Nam về, thổi vu ký vu quy hồ hí hí;
Văn Quảng Bá phúng người khanh tướng thác, khóc vô cô vô cố vị ô hô!
Kèn thổi thế dễ ai đua ngón được;
Văn khóc kia mấy kẻ đặt lời so.
Thấy phong quang mà thêm cám cảnh thay, thử liếc mắt ngắm cùng con âu lộ;
Nghĩ thời thế mới càng ngao ngán nhẽ, sẽ rỉ tai bàn với lũ mục sô.
Rằng thiện ác vì ai dùi đứt lưới;
Hỏi thịnh suy nào kẻ đạp tung lò?
Vận hoang niên nào có ít tử hung, được vui thoả hẳn quên câu oán nhạn;
Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận, có say no mới nghĩ khúc ca phù.
Máy trị loạn chẳng khác chi bàn rối;
Vành quan quân xem tựa giống đèn cù.
Chính sự này đừng nói với ta chi, nỏ kim quy để nhằm con quái thỏ;
Văn chương ấy chớ khoe cùng tớ nữa, cung mộc tinh dành bắn cái yêu hồ.
Thấy thiên ý biết rằng cơ trị loạn;
Xem hồ quang đà không dấu thanh du.
Con lộc kia nào có phép toàn đâu, ông ngồi mã thượng những theo nhanh, còn quen thói gian tà mà chỉ lộc;
Khóm do nọ hẳn đến ngày cắt hết, kẻ muốn tình chung mà rửa sạch, bỗng buông tuồng gian ác lại sùng do.
Đá khiết bạch khó mài mầu siểm nịnh;
Nước thanh quang khôn lợt vết tham ô.
Quốc đã nguy mà tướng lại không tài, phép đâu biết rằng cơ trị loạn;
Quân đã ám vả thần thì chỉ nịnh, lẽ nào hay đến chốn điêu trù.
Nẻo tiên cũng khó tìm nơi hoá;
Dấu Phật càng khôn xuống đấy tu.
Võ sự xem ra khổ man di, thằng bước tới, đứa chen vào, chiến trận ấy cũng cờ giong trống giục;
Vă chương gẫm chẳng noi Trâu Lỗ, kẻ đặt đi, người chữa lại, thơ phú chi mà cửa chật sân xô.
Khí tượng ấy cũng không vương được nhỏ;
Anh uy này toan lại đế cho to.
Đây nay:
Chơi thời đã trải;
Ở cũng không thô.
Nghĩ chước sợ lây mùi chung đỉnh;
Nên thân còn nhận dấu phần du.
Giận vì thằng đặt “Tụng Tây Hồ”, bênh nguỵ tặc bỏ quên đời thế đế;
Vậy nên tớ làm thiên “Chiến tụng”, nguyện ngô quân đem lại nếp hoàng đồ.

Hình: Hồ Tây
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.