Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Trơ trơ chích thạch[1] bến Vân Sàng,
Hỏi núi chờ ai đã mấy sương?
Uốn éo lưng ghềnh ba mặt sóng,
Phá toang cửa động một chùa hang.
Bóng mây thấp thoáng hồn Diên, Hạc,
Vách đá lờ mờ nét Phạm, Trương[2].
Cũng muốn bể dâu bàn chuyện cũ,
Gió thu hiu hắt khóm hoa vàng.


Nguồn gốc bài thơ này nhiều tài liệu bất đồng. Theo Quách Tấn, bài thơ này là của Nguyễn Đỉnh Giác, được chấm giải nhất trong cuộc thi do viên Tuần vũ Ninh Bình là Từ Đạm mở năm Khải Định thứ 4 (1920). Lãng Nhân trong Giai thoại làng Nho chép là của cử Dự ở Nam Định.

Sách Phạm Thái và Sơ kính tân trang lại chép một bài thơ khá tương đồng và ghi tác giả là Trương Quỳnh Như:
Trơ trơ bích thạch[3] bóng vân san[4],
Hỏi núi chờ ai đã mấy sương?
Uốn réo bên sườn dòng nước biếc,
Phát tuôn
cửa động ngọn chùa hoang.
Mây trôi phảng phất
hồn Lê, Trịnh,
Đá khắc
lờ mờ dấu Phạm, Trương.
Cũng muốn bể dâu bàn chuyện cũ,
Nào ai xứng với khách đài trang[5].
Núi Dục Thuý ( 20.260,105.982): Núi Non Nước còn có tên là núi Dục Thuý 浴翠, Băng sơn hay Thuỷ sơn, là một danh thắng nằm ở ngã ba sông, nơi sông Vân đổ vào sông Đáy, sát với cầu Ninh Bình trên tuyến đường sắt Bắc Nam, cạnh thị xã Ninh Bình ngày nay. Núi là một tiền đồn nằm ở cửa ngõ phía đông thành phố Hoa Lư. Lối lên đỉnh Non Nước qua 72 bậc gạch đá, chia làm 5 cấp. Đỉnh núi tương đối bằng phẳng, cây cối xanh mát, có lầu đón gió rất thuận tiện nghỉ ngơi, giải trí cho khách tham quan. Núi Non Nước đã được xếp hạng là di tích lịch sử và thắng cảnh cấp quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam, cùng với núi Cá Voi, núi Cánh Diều và núi Kỳ Lân được mệnh danh là Tứ đại danh sơn - tức bốn ngọn núi nổi tiếng ở trung tâm thành phố Hoa Lư. Dục Thuý là tên do danh sĩ Trương Hán Siêu đặt từ đời Trần, với ý nghĩa là con chim chả (chim bói cá) đang tắm, vì núi này mọc từ đất nhô ra giữa dòng sông, trông như hình con chim chả sà xuống nước, năm 1841 vua Thiệu Trị lại đổi là núi Hộ Thành. Trên núi có tháp dựng từ đời Lý, sau sư Trí Nhu đời Trần sửa lại, gọi là tháp Linh Tế, Trương Hán Siêu có làm bài Linh Tế tháp ký nổi tiếng. Núi trước còn có chùa Non Nước, nhưng đầu đời Nguyễn dân địa phương dời sang núi Cánh Diều. Dưới chân núi còn có đền thờ Trương Hán Siêu. Núi là một cảnh đẹp, trước kia có nhiều người đề vịnh, hiện bên núi vẫn còn lưu nhiều bài thơ được khắc vào đá của các danh sĩ như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Nguyễn Du, Thiệu Trị, Tự Đức, Tản Đà...

Núi Dục Thuý
Hình: Núi Dục Thuý



Chú thích:
[1]
Hòn đá lẻ loi.
[2]
Phạm Tử Hư, một đạo sĩ đắc đạo đời Trần, thường ngao du trên núi Dục Thuý (xem Truyền kỳ mạn lục); và Trương Hán Siêu, có tư tưởng bài xích Phật giáo, tác giả bài bi ký chùa Quán Nghiêm và bài Bạch Đằng giang phú. Ông cũng đã viết bài Linh Tế tháp ký ở núi Dục Thuý, đến nay vẫn còn.
[3]
Đá dựng đứng thẳng như vách.
[4]
Núi nhoà lẫn trong mây.
[5]
Con gái nhà khuê các.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]