24.50
Nước: Nga
74 bài thơ
4 bình luận
25 người thích
Tạo ngày 10/02/2005 16:30 bởi Vanachi, đã sửa 10 lần, lần cuối ngày 05/02/2009 09:14 bởi Hoa Xuyên Tuyết
Olga Fyodorovna Berggoltz (Ольга Фёдоровна Берггольц) là nữ thi sĩ Nga - Xô Viết, sinh ngày 3-5-1910 (theo lịch mới là ngày 16-5) tại Saint Petersburg (Petrograd). Thân phụ bà - Phedor Kristophorovich Berggoltz - mấy chục năm là bác sĩ của một nhà máy, chữa bệnh cho công nhân, nhưng trước đó ông từng là bác sĩ phẫu thuật phục vụ trong quân đội, kinh qua chiến tranh chống Đức dưới đế chế Nga hoàng, rồi tham gia chống Bạch vệ thời Nội chiến. Sau thời nội chiến loạn lạc, năm 1921, ông cùng vợ là bà Maria Timopheevna, hai con gái Olga và Maria tái đoàn tụ ở thành phố bên dòng sông Neva. (Trước đó, năm 1918, vợ ông đưa hai con nhỏ lánh về thành phố nhỏ yên tĩnh Uglich, tiếng là tránh tên rơi đạn lạc nhưng kỳ thực là để tránh nạn đói!)

Olga đến với thi ca rất sớm. Những năm tuổi nhỏ, Olga say…

 

  1. “Anh sẽ đợi, khi mọi người ngủ hết” • “Ты будешь ждать, пока уснут”
    2
  2. Alionushka • Аленушка
    2
  3. Bạn bè vẫn bảo... • Друзья твердят: “Все средства хороши,
    1
  4. Bội bạc • Измена
    1
  5. Bức thư thứ hai gửi đến Kama • Второе письмо на Каму
    1
  6. Cả ngày trong cuộc họp tôi ngồi... • На собранье целый день сидела...
    1
  7. Câu chuyện tình yêu
    3
  8. Cây ngải đắng • Полынь
    5
  9. Chẳng bao giờ mẹ chấp nhận nổi đâu • Нет, не наступит примирения
    1
  10. Chẳng có gì trở lại... • Ничто не вернется
    1
  11. Chiều nay em đánh rơi lời... • Потеряла я вечером слово...
    4
  12. Chuyện tình sông Nêva
    1
  13. Chuyện trò cùng bà hàng xóm • Разговор с соседкой
    1
  14. Cung đàn trong sương • Струна в тумане
    2
  15. Cuộc trò chuyện lần thứ hai với bà hàng xóm • Второй разговор с соседкой
    1
  16. Đêm trước • Накануне
    1
  17. Em đang làm gì thế này?! Em buông tay... • Что я делаю?! Отпускаю...
    5
  18. Em thầm cay đắng ghen tuông • Я тайно и горько ревную
    7
  19. Hãy về với mẹ trong mơ... • Ты приснись мне...
    11
  20. Hôm nay lại phí hoài • Сегодня вновь растрачено души...
    1
  21. Hỡi người xa lạ kia ơi... • Чуж-чуженин...
    1
  22. Không đề
    1
  23. Không nói
    1
  24. Không phải thế! Anh được yêu... • Это всё неправда. Ты любим
    2
  25. Lâu, thật đã lâu lắm rồi... • Chưa có nguyên gốc
    2
  26. Một bài ca • Песня
    3
  27. Mùa sao băng • Пора звездопада
    1
  28. Mùa thu năm bốn mốt • Осень сорок первого
    1
  29. Ngày 29 tháng giêng năm 1942 • 29 января 1942 года
    1
  30. Nhân danh lời đẹp nhất • Во имя лучшего слова
    2
  31. Nhật ký tháng hai • Февральский дневник
    1
  32. Những bài ca yêu đương, bài ca ly biệt... • Любовные песни, разлучные...
    1
  33. Niềm hy vọng • Надежда
    4
  34. Nói với số phận • Судьбе
    1
  35. Nỗi buồn này tôi giấu nổi Người chăng? • Не утаю от Тебя печали
    4
  36. Ôi mùa đông u ám làm sao • Какая темная зима...
    4
  37. Ôi, có lẽ chàng sẽ chẳng về đâu • О, наверное, он не вернется...
    1
  38. Quân đội • Армия
    1
  39. Ru anh (II) • Колыбельная песня
    1
  40. Sân ga buổi chiều... • Вечерняя станция...
    3
  41. Tình ca • Романс
    6
  42. Tôi mãi hát những bài ca của người... • Все пою чужие песни...
    1
  43. Trích đoạn • Отрывок
  44. Trích những ghi chép của năm bốn mốt • Из блокнота сорок первого года
    1
  45. Tuổi trẻ • Молодость
    1
  46. Xêvaxtopôn • Севастополь
    1

Linh cảm - Предчувствие

Khởi đầu - Начало

Trận chiến - Бой

Chiến thắng - Победа

Ký ức - Память

 

 

Ảnh đại diện

Olga Berggoltz - “cây ngải đắng” của nền Thi ca Xô Viết (phần 1)

LỜI NGƯỜI VIẾT: Đã có biết bao huyền thoại được thêu dệt về mối tình kéo dài trong ký ức (cho dù cuộc hôn nhân lại vô cùng ngắn ngủi) của nữ sĩ người Nga Olga Bergholtz (1910-1975) và nhà thơ Nga sớm nổi danh nhưng cũng sớm chịu số phận đắng cay Boris Kornilov (1907-1938). Nhiều thế hệ người yêu thơ Việt Nam từng yêu cùng “nàng Olga” qua những bản dịch Việt ngữ ngọt ngào của nhà thơ Bằng Việt, và cũng chỉ thường chỉ nhớ đến cái tên Olga Bergholtz qua những bài thơ tình mơ mộng đầy nữ tính của bà.

Mấy ai biết rằng, đường đời của Olga không chỉ có những mối tình. Bà đã trải qua vô vàn thử thách của số phận: sự ghẻ lạnh, hắt hủi của người đời, sự phản bội của bạn bè, những tháng ngày tủi nhục trong tù ngục, sự đau đớn khi mất những đứa con còn trứng nước… Song, điều đáng quý của Olga Bergholtz mà chúng ta đọc được đằng sau những dòng viết quằn quại bật máu của bà, là Olga vẫn giữ được tình yêu nồng nàn trong trái tim người phụ nữ, giữ được những suy nghĩ tha thiết với cuộc đời, giữ được niềm hy vọng đôi khi tưởng chừng đã tắt trong tâm. Chính nhờ những điều đó mà thơ của bà gần gũi với người đọc Việt Nam, một dân tộc luôn trân trọng tình người, và nhiều khi, phải nương vào tình người mà vượt lên trên mọi đau khổ.

Viết về nữ sĩ Olga Bergholtz không dễ dàng vì tư liệu thì nhiều, nhưng có vô số hướng gợi mở, phân tích khác nhau. Song, là một người vốn hâm mộ nhà thơ, tôi thấy bất kỳ thông tin nào về Olga cũng đầy hấp dẫn, từ những mẩu chuyện về thời thơ ấu ngắn ngủi của bà cho đến những chuyện “hậu trường” của nền thi ca Xô-viết, gắn liền với những năm tháng đầy đau khổ hậu bán thập niên 30 và thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại (1) sau đó. Lần giở lại một số trang nhật ký của Olga, đọc một số đoạn trích trong “Những ngôi sao ban ngày”, hồi ký của những người trong gia đình, của mẹ và em gái bà, của các nhà văn Nga đương thời và cả những nhà văn Nga hiện đại, tôi thử ghép lại thành một bức chân dung tỉ mỉ về người con gái Nga kỳ lạ này.

Thực ra, tôi không muốn dùng từ “bà” để viết về Olga Bergholtz, mặc dù khi nằm xuống, Olga đã bước vào tuổi xế bóng đời người. Nhưng cuộc đời của nữ sĩ cùng những vần thơ Nàng viết không bao giờ “có tuổi” trong tâm khảm những người yêu mến Nàng, mặc dấu ấn của thời gian. Olga Bergholtz mãi mãi là “Nàng Thơ” của thành Petrograd của thành Len ngày nào. Nàng trẻ mãi. Và bất tử.

Nghĩ đến Olga Bergholtz, không hiểu sao tôi lại muốn nhớ đến một loài cỏ dại đã từng xuất hiện trong thơ của Nàng: “Cây ngải đắng” – loài thảo mộc có mùi hương gợi niềm bất trắc nhưng lại có sức sống bền bỉ và kiên cường đã từng là ám ảnh Olga suốt nhiều năm. Và ngải đắng cũng đã từng là biểu tượng cho sự dằn vặt trong Tình yêu của người con gái nồng nàn nhưng can trường ấy:

Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh
Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau
Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu
Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?

Chẳng làm gì nữa đâu lời âu yếm vô ngần
Của người dưng hay người tôi thương mến
Muôn nẻo quanh tôi loài cỏ hoa quyến luyến
Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!
(trích “Cây ngải đắng”, 1928 - Thuỵ Anh dịch)



Phần 1: TUỔI THƠ NGẮN NGỦI VÀ HẠNH PHÚC

Ngắn ngủi… vì Olga Bergholtz rời bỏ những ngây thơ thiếu nữ rất sớm: 16 tuổi yêu và 17 tuổi đã lấy chồng, 18 tuổi sinh con… Bà cũng sớm bước vào cuộc đời sáng tác mà ban đầu tưởng chừng chỉ có những niềm vui lấp lánh đầy mê hoặc.

* Những người thân

Olga Bergholtz sinh ngày mùng 3-5-1910 (theo lịch mới là ngày 16-5) tại Saint Peterburg (Petrograd). Thân phụ bà - Phedor Kristophorovich Bergholtz - mấy chục năm là bác sĩ của một nhà máy, chữa bệnh cho công nhân, nhưng trước đó ông từng là bác sĩ phẫu thuật phục vụ trong quân đội, kinh qua chiến tranh chống Đức dưới đế chế Nga hoàng, rồi tham gia chống Bạch vệ thời Nội chiến. Sau thời nội chiến loạn lạc, năm 1921, ông cùng vợ là bà Maria Timopheevna, hai con gái Olga và Maria tái đoàn tụ ở thành phố bên dòng sông Neva. (Trước đó, năm 1918, vợ ông đưa hai con nhỏ lánh về thành phố nhỏ yên tĩnh Uglich, tiếng là tránh tên rơi đạn lạc nhưng kỳ thực là để tránh nạn đói!)

Ngôi nhà của gia đình Bergholtz ở cửa ô Nevski là một căn nhà gỗ hai tầng xinh đẹp với tám cửa sổ, nằm giữa những tán cây phong lớn và một mảnh vườn con trồng đủ các loại hoa. Phía sau nhà còn có một vườn táo với con đường mọc nhiều tử đinh hương thơm ngát. Cuối con đường, có một nhà bát giác nhỏ bằng kính nhiều màu, nơi mọi người có thể ngồi uống trà và trò chuyện cả trong những ngày Đông giá rét. Bây giờ, con phố nằm đằng sau ngôi nhà này được mang tên bà - phố Olga Bergholtz! Đại gia đình của Olga sống trên tầng hai, diện tích còn lại thì cho thuê. Gọi là cho thuê, nhưng quan hệ giữa chủ nhà và người thuê rất ấm áp như người một nhà. Căn nhà thuở ấu thơ ấy đã được Olga nhắc đến không ít lần một cách thân thương trong “Những ngôi sao ban ngày” (2), một cuốn sách có thể coi là tự truyện của bà.

Tâm hồn nhạy cảm và gần gũi thiên nhiên mà Olga nhận được từ thuở thiếu thời, đôi khi khiến bà mềm yếu nhưng sau này, lại chính là sức mạnh tiềm tàng giúp bà trụ lại trước những thử thách của cuộc đời. Nếu không có những mùa hè rớt dưới mái nhà cha mẹ êm ấm chở che, chắc hẳn Olga không cảm nhận được sự chuyển động kỳ diệu của thiên nhiên như thế này:

Có một mùa trong ánh sáng diệu kỳ,
Cái nắng êm ru, màu trời không chói,
Mùa hè rớt cho những người yếu đuối,
Cứ ngỡ ngàng như lúc mới vào xuân.

Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng,
Se sẽ như không, nhẹ nhàng, phơ phất...
Lanh lảnh bầy chim bay đi muôn nhặt,
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu.

Những trận mưa rào đã tắt từ lâu,
Tất cả thấm trên cánh đồng lặng sẫm,
Hạnh phúc nhiều hơn mắt nhìn say đắm,
Ghen tuông dù chua chát... cũng thưa hơn.
(trích “Mùa hè rớt” - Bằng Việt dịch)

Sau này, hình ảnh ngôi nhà thân thiết của cha mẹ còn xuất hiện nhiều lần trong thơ Olga, luôn là gam màu ấm nóng, trầm xuống bồi hồi trong bức tranh sôi động về cuộc chiến hoặc công cuộc lao động xây dựng đất nước, lắm khi đầy những khẩu hiệu, những lời tung hô:

Chúng tôi ra mặt trận theo những đường phố quen thuộc
Nhớ đến mỗi con đường như một giấc chiêm bao
Đây hàng giậu của mái nhà tổ phụ
Đây, trước kia, có cây phong to lớn lá rì rào.

Xuân khi ấy, cây vươn tới chúng tôi qua cửa sổ
Buổi sớm mai, óng ánh, mát tươi
Nhưng đông này lạnh lùng u tối
Bạn xanh ơi, bạn cũng chết rồi.
(trích “Đường ra mặt trận”, 1942 - Xuân Diệu dịch)

Những năm ấu thơ, Olga sống khá đầm ấm và hạnh phúc trong vòng tay của những người ruột thịt: cha mẹ; hai người bà: bà Olia nghiêm khắc và bà Masha hiền hậu (tên của hai bà được trân trọng đặt cho hai chị em nàng); và những cô, chú, bác dịu dàng khác - thường gọi nàng với cái tên rất âu yếm là Lialia, còn cô em gái của nàng là Musia... Hai chị em có bà vú Avdochia, người đã ôm chặt lấy Olga khi năm 1917, thành phố quê hương nàng rung chuyển trong tiếng súng vang rền, khiến tâm hồn non nớt của bé Lialia đầy lo sợ. Sau này, khi ở trong nhà lao, nàng đã nhớ về mái ấm của mình, về hạnh phúc êm ả tuổi thơ:

Chị từng mơ thấy mái nhà xưa
Nơi tuổi thơ ngây mình đã sống
Nơi trái tim như thuở nào trông ngóng
Một tình yêu, một hơi ấm chốn nương lòng

Thấy cả đêm Giáng sinh và cả cây thông
Thấy em gái cười to vui thích
Thấy dịu dàng và đầy phấn khích
Ô cửa hồng mới sáng sớm đã rực lên

Và những món quà tặng nhau buổi đêm
Lá thông toả mùi hương cổ tích
Những đốm sao vàng đêm tĩnh mịch
Ngay trên mái nhà của chị em ta …
(trích “Gửi em gái”, 1939 - Thuỵ Anh dịch)

Olga được thừa hưởng từ người cha mái tóc vàng và chiếc mũi hếch nghịch ngợm, đôi mắt xanh biếc trong vắt và bướng bỉnh. Nhưng nàng lại là đứa trẻ sớm nhạy cảm, gương mặt đôi khi mang một nỗi buồn kỳ lạ không lý giải nối. Nỗi buồn ấy được nhà văn Anninski (3) gọi là “nỗi sầu không lời và vô duyên cớ của tâm hồn Nga”. Nó len lỏi vào lòng Olga sau những lần chứng kiến cảnh bà vú Avdochia trong những ngày lễ tết, sau khi đã uống vài ba chén thường cất giọng hát một bài dân ca có lời buồn da diết, mặc dù âm điệu lại rất đỗi nhịp nhàng. Thế rồi nửa chừng, bà vú lại ôm mặt thổn thức. Những giọt nước mắt đầy cay đắng chẳng hiểu vì sao cứ rơi ra, tuồng như chẳng ai và chẳng có gì an ủi được.

Olga - còn có tên thân mật là Olia hay Lialia - là cháu yêu của ông của bà, còn cô em gái Maria (Masha, Musia) là con yêu của mẹ của cha. Gia đình Bergholtz thường đùa như vậy, không phải vì Olia chỉ được ông bà yêu và Masha chỉ được cha mẹ chiều mà chỉ để nhấn mạnh sự quan tâm chiều chuộng của hai người bà đối với đứa cháu gái đầu Olia xinh xắn. Bà nội cũng tên là Olga có tính cách khá khắc nghiệt, và còn khắc nghiệt hơn nữa từ khi có con dâu (tức thân mẫu của Olga Bergholtz). Điều đó có thể lý giải bằng một sự ghen tuông rất thường tình của bà mẹ khi chứng kiến con trai yêu quý đắm đuối bên người vợ trẻ. Mọi tình cảm của bà dồn vào đứa cháu gái yêu như  một sự “trả thù ngọt ngào”. Nhưng cũng chính điều này khiến tình cảm của Olia không được ổn định: nàng luôn bị giằng xé trong những cảm nhận hạnh phúc, vui sướng lẫn lộn với lo lắng và căng thẳng.

Trong “Những ngôi sao ban ngày”, cô bé Olia nhận xét về bà mình: “Bà có những bức tranh thánh giống y nhau - toàn những gương mặt tối sầm giận dữ và dài ngoẵng… Bà chẳng cho chúng tôi động vào đồ vật gì trong nhà…- Bọn bay làm vỡ mất thôi, làm hỏng mất, làm sứt mất! Tránh tránh nào… Đừng động vào!”… Kể cả đồ chơi mà mọi người và chính bà tặng cho tôi bà cũng giữ gìn cấm đoán!” Nhưng rồi trong nhật ký ngày 20-1-1923, Olga lại ghi: “Hôm nay Olga Mikhailovna (bà nội nàng - ND) đã mở lòng với mình. Điều này khiến mình cảm động quá - Hoá ra bà nội thực chất rất bất hạnh và cô đơn khủng khiếp trong tâm hồn…”

Ông bà nội thay nhau mua tặng Lialia của ông bà hết nơ lại tất chân, lại cả găng tay ren điệu đà nữa khiến cô bé đôi khi cảm thấy mình như một nàng công chúa nhỏ xinh đẹp vậy.

Nhưng Olga cũng từng rất buồn, tâm trạng đôi lúc trầm uất khi bà nội luôn luôn tìm đủ mọi cớ để dày vò mẹ nàng, người mà bà cho rằng là nguyên nhân khiến cha nàng ngày càng gày yếu, vất vả đi… (đầu những năm 20, ông bị lâm bệnh sốt phát ban và nhiều thứ bệnh khác). Mẹ của Olia và Masha là một phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng và chịu đựng. Sau mỗi lần mẹ chồng nổi cơn thịnh nộ thì Maria Timopheevna lại nhẫn nhịn xin lỗi, bắt chuyện làm hoà bằng giọng nói nhỏ nhẹ, hiền lành.

Bà ngoại của Olia và Masha cũng rất hiền hậu. Sau khi sinh con gái đầu lòng, Maria Timopheevna trở nên ốm yếu, lại bị không khí căng thẳng trong quan hệ mẹ chồng nàng dâu “đầu độc”, bà ốm liên miên, mấy lần phải nằm bệnh viện. Bà ngoại của Olia và Masha luôn có mặt chăm sóc con gái mình, nâng đỡ con về mặt tinh thần. Những năm bước vào tuổi 60, bà ngoại vẫn làm việc không ngừng, ít khi tỏ ra u sầu. Bà là người kiên cường trong vỏ bọc một phụ nữ lam làm, nhường nhịn.

Năm 1941, khi Olga Bergholtz đã bị cuốn vào vòng quay của cuộc sống đầy phức tạp trên thành phố, hiếm khi có dịp trở lại thăm cửa ô Nevski yêu dấu, bà ngoại ốm nặng rồi mất. Trong “Những ngôi sao ban ngày”, Olga tả những giây phút cuối cùng được gặp bà với nhiều xúc động:

“Bà nằm trên chồng gối, choàng chiếc khăn ren màu trắng móc theo kiểu nông dân. Gương mặt bà trở nên bé nhỏ, teo tóp với những nếp nhăng ngang dọc. Đôi mắt trũng sâu nhưng ánh nhìn từ dưới hố mắt sâu thẳm ấy rất sáng và minh mẫn, lấp lánh sống động kỳ lạ. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên rung động hơn cả là đôi tay đang đặt trên ngực bà: sao đôi bàn tay của bà có vẻ như to quá cỡ, biết bao nhiêu là vết chai và cục sần gồ lên, những sợi gân xanh lớn quấn quanh chúng. Đó là đôi tay của người đàn bà đã làm việc không nghỉ trọn vẹn 80 năm trời trong tổng số 87 năm sống trên đời, đôi tay của người mẹ đã sinh nở, chăm chút, thay tã, bế ẵm 14 đứa con và nhiều cháu chắt, đã từng tự mình chôn cất cho cả cháu, cả con. […] Tôi chợt nhớ đến những lần bà đưa tôi đi tắm hơi, đặt tôi ngồi trong chậu gỗ đựng đầy nước lạnh, lau bọt xà phòng làm xốn mắt tôi… khi ra khỏi nhà tắm hơi công cộng, bà còn mua kem ốc quế cho tôi ăn và cho uống nước kvas chua nữa… Còn tôi? Tôi đã làm được điều gì tốt đẹp cho bà, cho dì Vera, cho cha tôi? Chẳng có gì hết…”

Trong gia đình, Olga rất gần gũi với cha, ông Phedor Kristophorovich. Giữa hai cha con có mối dây liên hệ vô thức nào đó khiến họ thông hiểu nhau, từ khi nàng còn là cô bé Lialia dễ vui sướng lại hay hờn giận cho đến lúc đã trở thành nữ sĩ tên tuổi. Thân phụ Olga cũng là người biết chịu đựng, không bao giờ than vãn về sự vất vả hay khổ sở của mình. Ngoài ra, ông còn không biết che giấu tình cảm, ông sôi nổi và đôi khi nông nổi nữa. Cả hồi nhỏ cho đến khi đã là quả phụ, Olga vẫn thường tìm về bên cha để hai cha con cùng ngồi im lặng trong căn phòng đạm bạc của ông. Khi đã rời mái nhà thân yêu bất chấp sự phản đối kịch liệt của cha, rồi bị bắt, nàng từng nhắc đến ông với niềm thương xót khôn nguôi trong bài “Gửi em gái”:

Trong chật chội và bực mình khổ sở
Nơi căn phòng đồ gỗ cũ mèm
Vò võ sống cô đơn mỏi mệt
Người cha mà ta đã nỡ bỏ quên

Cha Olga cũng rất chăm chút gia đình, yêu vợ và chiều chuộng hai cô con gái. Trong trí nhớ của Olga, cha nàng thời trẻ rất… điển trai và phong độ trong bộ quần áo nhà binh, nhất là hồi ông trở về sau cuộc chiến với nước Đức thời Nga Hoàng. Ông có mái tóc vàng xoăn xoăn, có bộ ria rậm như các binh sĩ Nga thời đó, bộ ria mà chị em Olga hay đùa là “chiếc đuôi thò ra từ dưới mũi cha!” Mỗi lần nghe con gái nói vậy, ông Phedor Kristophorovich lại xoắn xoắn bộ ria và cất giọng hát vui vẻ một bài ca vui nhộn của lính: “Râu hỡi, ria ơi, sao ngừng xoắn lại – cô nàng của ta lại sắp ba hoa…” Trong truyện vừa “Uglich” (4) và tác phẩm “Những ngôi sao ban ngày”, Olga có nhiều trang thuật lại những mẩu chuyện thật thân mật về cha và các con gái. Đoạn hồi tưởng về cuộc gặp gỡ với cha sau khi cuộc nội chiến kết thúc rất ngộ nghĩnh:

“Hai chị em chúng tôi đờ người ra vì sợ hãi: đầu cha nhẵn bóng, gương mặt gày tiều tuỵ, đen sạm và chẳng có tí ria nào, mà chúng tôi vẫn nghĩ là cha phải có bộ ria rất đẹp và mái tóc bồng bềnh cơ…

- Bác là cha chúng cháu ạ? - Musia trịnh trọng hỏi…”

Nhưng điều khiến Olga nhớ và ngưỡng mộ nhất là tình yêu giữa cha mẹ nàng. Họ yêu nhau nồng nàn, có ghen tuông, hờn giận, nhưng vẫn đầy lãng mạn trong khung cảnh thời chiến đói khổ. Những năm mẹ và hai cô con gái sống ở thành phố Uglich bên bờ sông Volga yên tĩnh, ông Phedor Kristophorovich có xin phép về thăm gia đình hai lần. Lần đầu tiên ông về có báo trước, khỏi phải nói thân mẫu Olga đã hồi hộp mong đợi thế nào! Bà viết trong nhật ký:

“Tôi sắp xếp lại phòng cho tôi và Phedia (tên thân mật của Phedor – ND) - phòng chúng tôi có cầu thang riêng dẫn lên. Căn phòng bé xíu sơn đỏ xanh, chẳng có cái gì thừa cả: một cái giường, cái bàn con…Tôi mang vào đây những bông cúc dại, cắm khắp nơi những bó hoa cúc tuyệt diệu vì chính sự giản dị của mình… Khi Phedia cùng tôi bước vào phòng, anh thốt lên:

- Trời, thật tuyệt! Anh rất thích!

Bỏ áo bành-tô ra, anh ôm tôi vào ngực. Trời ơi, tôi hạnh phúc quá! Cả thế giới này đang ở trong hai chúng tôi, và chúng tôi đã ngập chìm trong thế giới ấy…”

Có lẽ, sẽ không còn gì khó hiểu khi về sau, chúng ta được đọc những vần thơ viết về tình yêu say đắm và quay cuồng, như quên hết thảy mọi khái niệm không gian và thời gian, quên cả mọi lý lẽ… của nữ sĩ Olga Bergholtz:

Không phải thế! Anh được yêu, anh có biết
Vĩnh viễn anh là yêu dấu của em
Em không tha thứ cho anh điều gì hết
Cũng chẳng buông đôi tay ấm dịu hiền
(trích “Không phải thế! Anh được yêu!”, 1940 - Thuỵ Anh dịch)

Cảnh ấy, người ấy, không gian ấy... của tuổi ấu thơ đã như một tiền đề làm nên tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, khao khát yêu thương của nàng!

* Tiếp nhận lý tưởng mới, cuộc sống mới

Gia đình Bergholtz tiếp nhận những biến đổi của thời cuộc một cách nhẹ nhàng, như thể cuộc sống vốn vậy. Họ không cần nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ sống giản dị cùng với mạch sống của đất nước. Sau đây là một đoạn cảm động trong hồi ký của bà Maria - em gái của Olga Bergholtz - viết năm 1942, miêu tả cuộc đối thoại giữa người cha và cô con gái Olia khi ông chuẩn bị lên đường ra mặt trận sau một vài ngày được về thăm gia đình ở thành phố Uglich:

“Cha ngồi bên giường Olia, tôi thấy ông xoa cái đầu bé nhỏ trăng trắng của chị và nói: “Cha không ở lại được, con ạ” - Olia không khóc, nhưng hỏi với vẻ buồn rầu, không, đau buồn thì đúng hơn..: “Người bênh đợi cha?” Ông nói: “Thương binh, con ạ”. Và rõ ràng có thể hiểu rằng như thế là sự việc quan trọng hơn nhiều. Olia nói câu gì đó rồi cả hai người ngồi im lặng rất lâu…”

Rõ ràng, từ rất nhỏ, Olga đã cảm nhận được sâu sắc nghĩa vụ của người công dân đối với đất nước, con tim bà ngay từ hồi ấy đã biết buồn đau và biết dũng cảm chịu đựng nỗi buồn đau của mình vì những điều lớn lao hơn. Những điều này vẫn còn đó trên con đường mà Olga đã chọn, đã đi suốt cuộc đời mình, mặc cho những oan ức và dối lừa bà sẽ gặp... Chúng ta sẽ có dịp quay lại tìm hiểu sâu hơn “cảm hứng công dân” xuyên suốt một đời thơ Olga Bergholtz ở các phần sau.

Khi Lenin mất, bà nội của Olga đã thắp nến trong nhà để tưởng nhớ, và Olga thì cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc mà thời ấy những người công nhân vùng quê nàng đều cảm nhận. Thực ra, đó là âm hưởng chung của con người của một thời đại. Thậm chí, người ông của nàng với dòng dõi quý tộc xa xưa cũng từng giảng giải cho cô cháu gái bé nghe về trạm thuỷ điện đầu tiên của chính quyền Xô-viết xây dựng ở Volkhov, rằng nhờ có Lenin và chính quyền mới mà họ sẽ có một dòng điện công suất mạnh hơn, những cái bóng điện sẽ “to hơn, tròn hơn, sáng hơn và cả ngày có điện, khắp nơi có điện...”  (“Những ngôi sao ban ngày”, trang 18).

Niềm tin ấy có chút ngây thơ, nhưng là cái nhìn trong trẻo của những con người mở lòng với cuộc sống mới. Cũng vậy, còn rất non nớt với tuổi 15, 16 của mình, Olga đã mang niềm tin ấy trong tâm, hăm hở bước vào cuộc đời lao động và cống hiến:

Thậm chí lũ chúng tôi còn cùng tưởng lại tuổi thơ xa vắng
Ôn lại thời nội chiến năm nao, lời hiệu triệu cứu đói năm nào
Rồi ánh điện đầu tiên từ Volkhov dâng trào
Rọi thẳng vào tuổi thanh xuân
Rọi vào ngôi trường yêu dấu

Tưởng lại ngày rời chiếc bàn học sinh thơ ấu
Bỏ lại cho các em, chúng tôi bước vào đời
Đến với hăng say lao  động, trải trước mắt sáng ngời:
Tấm bản đồ khai hoang đất ông cha máu thịt
Lấp lánh ngọn lửa nhiều màu vui say nồng nhiệt

(trích “Lại một mình đơn độc lên đường”, 1952 - Thuỵ Anh dịch)

* Tập làm thơ

Olga say mê văn học và đến với thi ca từ rất sớm. Người cha đóng vai trò quan trọng trong những sáng tác đầu tiên của cô thi sĩ bé bỏng, luôn muốn biết ý kiến của cha về những “tác phẩm” của mình.

Olga viết trong “Những ngôi sao ban ngày” về thời điểm đầu năm 1924 như sau:

“Trong gia đình mỗi người nhìn việc tôi làm thơ theo một kiểu khác nhau. Cha thì có bài thích bài không. Khi tôi đọc cho cha nghe bài thơ về khu vườn nhà chúng tôi, ông đã xoa đầu tôi rối bù cả lên và nói: “Tuyệt lắm… Y như Pushkin vậy!” và cả buổi chiều đi đi lại lại trong nhà theo thói quen, vò đầu tóc rối bù mà lẩm nhẩm dòng thơ đầu tiên trong bài ấy:

“Người mơ màng, khu vườn cổ phủ đầy băng giá…”

Khi tôi phải lòng một cậu chàng lớp chín bên cạnh thì tôi viết:

“Hoa chuông ơi! Nồng nàn
Ơi loài hoa dịu dàng
Lóng lánh như lệ bạc
Mộng thiếu nữ đa mang”

Cha nghe rồi nói “Hừm... Ờ…” rồi lầm bầm hát một đoạn ca cổ:

“Đa cảm! Đa cảm!..
Đa cảm quá, các ngài ơi..”

Tôi khóc oà lên vì buồn giận. Mẹ thì dịu dàng an ủi và nói là thơ “xúc động, tình cảm” lắm, chỉ có điều cha không hiểu được thôi. Mẹ thì thấy tôi viết cái gì cũng khen, còn cha thì khác… Tôi biết là cha hiểu hết!

Cha thường bảo: “Lialia, học đi con, học không phải với mục đích là sau này bị chồng bỏ thì có thể tự lo liệu cuộc sống cho mình. Con hãy học không phải vì cái tương lai kiểu ấy! Đừng có lúc nào cũng nghĩ ngợi và tấp tểnh chuyện chồng con, nghe chửa!”
(trích “Những ngôi sao ban ngày”)

Khi Lenin qua đời (năm 1924), Olga ngồi trong xó bếp, giấu mọi người viết những vần thơ:

Những tiếng còi nhà máy chúng tôi
Đang ca lên vang dội
Hình như tất cả các nhà máy
Đều quỳ gối
Bởi chúng đã mồ côi
Bởi Lenin đã mất
Lenin thân yêu đã mất…

Ấy thế mà chỉ lướt ngang qua sau lưng con gái đang ngồi thu lu với cây bút trong tay và cuốn vở nhỏ, ông Phedor đã hiểu ngay vấn đề. Ông động viên: “Con cứ viết đi, cha không làm phiền đâu. Nhưng nếu mà viết được thì cho cha xem nhé!”

Và “tôi đã đọc cho cha nghe khi chỉ có hai cha con, không có mẹ, không có Musia, không có Avdochia bên cạnh. Tim tôi đập mạnh kinh khủng và khi đọc xong bài thơ thì tim còn nhảy loạn cả lên, mà cha thì vẫn chưa nói gì, chỉ nhìn tôi với ánh mắt rất chăm chú và mới lạ, sau đó đưa tay ra cầm trang viết im lặng đọc rồi nói nghiêm túc:

- Con chép lại đi con, chép đẹp vào nhé. Cha sẽ đưa cho bích báo của nhà máy. Có thể họ sẽ in đấy. Cha cảm thấy là họ sẽ in…”
(“Những ngôi sao ban ngày”, trang 114)

Khi người cha sôi nổi thông báo tin bài thơ của cô con gái lần đầu tiên được đến với công chúng: “Chúc mừng con! Mọi người bảo là hay… Con đã trở thành thi sĩ thực thụ rồi đấy - họ đã in thơ con!”, không hiểu sao lúc ấy, cô bé Olga 14 tuổi cùng với sự vui sướng tột độ lại cảm thấy đôi chút sợ hãi, lo âu. Một linh cảm kỳ lạ chăng?

Dầu thế nào mặc lòng, từ bấy giờ, Olga đã thề sẽ trở thành một nhà thơ thực sự, hơn thế nữa, là một nhà thơ của giai cấp vô sản. Mặc dù luôn có những linh cảm lạ lùng, khi ấy, người thiếu nữ trong sáng không hề biết rằng cuộc đời đầy biến động phía trước đang chờ đợi nàng với tất cả nỗi thống khổ cùng cực.

Và, không phải ai cũng đứng vững được như bà, kiên cường đối mặt với mọi bất hạnh để giữ được trái tim tha thiết với tình yêu, với Tổ quốc, với số phận những con người…


(Còn nữa...)

Thuỵ Anh

(1) Người Nga phân biệt Chiến tranh Vệ quốc 1812 (chống quân đội của hoàng đế Pháp Napoleon) với Vệ quốc Vĩ đại 1941-45 (chống phát-xít Đức).

(2) “Những ngôi sao ban ngày” (1959) là cuốn sách văn xuôi tự sự trữ tình, tự truyện của Olga Bergholtz. Năm 1968, sách được chuyển thể thành kịch bản và dựng thành bộ phim cùng tên về nữ sĩ Olga.

Tác phẩm đã được Phan Quang dịch ra tiếng Việt (dựa trên bản tiếng Pháp của Jean Cathala), Nhà xuất bản Văn học in lần đầu năm 1963 (những đoạn thơ dài trong sách do Chế Lan Viên dịch).

3) Lev Alechsandrrovich Anninski (1934-): nhà phê bình văn học và điện ảnh Nga, tác giả bài nghiên cứu “Olga Bergholtz: “Tôi... người vợ goá của thành Leningrad” (tạp chí “Neva” số 6, 2005).

(4) Uglich là một thành phố nhỏ bên bờ sông Volga. Đây cũng là tên một truyện vừa của Olga Bergholtz, viết năm 1932.

Những đoạn dịch hồi ký, tư liệu... trong bài là của tác giả. Trong phần trích dẫn thơ, những phần có in đậm là tác giả mạn phép sửa của các dịch giả khác, mong được thể tất!
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Olga Berggoltz và một vài nghi án văn chương

Trong văn chương từ xưa đến nay, không hiếm những nhầm lẫn về tác giả, tác phẩm mà chúng ta vẫn hay gọi là kỳ án hay nghi án văn chương.

Ở bài viết này, tôi xin nói đến trường hợp một số bài thơ đã và đang được gắn liền với tên tuổi của nữ sĩ Nga Olga Berggoltz. Là một người hâm mộ nhà thơ và có cất công tìm hiểu một phần di cảo thơ văn của bà, tôi muốn góp chút ý kiến nhằm cải chính một vài “nghi án” liên quan đến những thi phẩm rất quen thuộc, vốn được coi là của bà.

1. Đầu tiên là về hai bài thơ, được rất nhiều bạn đọc - trong số đó, có những thành viên nhiều diễn đàn thơ văn - cho rằng tác giả của chúng là Olga Berggoltz. Thậm chí, một trong hai bài thơ đó còn được in trang trọng một cuốn niên giám về Phụ nữ nào đó dưới tên của Olga. Đó là bài “Anh đi tìm em trên bán đảo Bancăng” của tác giả Khổng Văn Đương, một lưu học sinh Việt Nam từng học tập tại Romania. Điều này, về sau đã được làm rõ trên báo chí. (*)

Tuy vậy, không ít địa chỉ trên mạng, các bạn trẻ vẫn tiếp tục nhầm lẫn.

Đến hôm nay, đọc bài thơ này, tôi chợt nhớ có lần trên diễn đàn 3M, có bạn đã tự tin phán rằng, đó là sáng tác của Olga Berggoltz.

Thông tin trên mạng lan rất nhanh, gần như ít ai nghĩ đến chuyện kiểm chứng nó, khiến một lần nữa, nữ sĩ Olga lại “được” đứng tên một tác phẩm “chưa chắc” đã phải của bà. Sở dĩ ở đây tôi nói “chưa chắc”, vì chưa dám khẳng định rằng mình thuộc nằm lòng hết các tác phẩm của nữ sĩ này. Song, có rất nhiều điều khiến tôi cảm nhận rằng, đó không phải là hơi thơ của Olga, kể cả là qua một bản dịch:

NHỮNG NGƯỜI ĐÃI CÁT TÌM VÀNG

Trên những dòng sông thế giới
có những kẻ đãi cát tìm vàng
năm tháng dài kiên nhẫn bền gan
nhặt từng mười phần một
người đãi vàng không bao giờ nóng ruột
năm tháng không hề nghiền nát niềm tin

tôi không tìm vàng, tôi chỉ tìm tình em
vất vả gấp trăm nghìn lần đãi cát
cát ở bờ sông lấy bao nhiêu chẳng được
người ở thế gian chẳng của riêng mình

tìm được một người yêu xây một mối tình
rung động, yêu thương, giận hờn, nung nấu
lúc điên cuồng như nước biển trào dâng
lúc âm thầm như sương đọng long lanh
không dám động sợ tan thành giọt nước

người đãi vàng quý chút vàng tìm được
anh thương em, anh quý mỗi nụ cười
gom góp bao nhiêu để có một cuộc đời
có giây phút rạng ngời hạnh phúc

đời quá chua cay
anh biến chua cay thành sức mạnh
cho đường đi dài rộng thênh thang
đời éo le nhiều ngõ dọc đường ngang
anh kiêu hãnh vững vàng bước tới
vì bên anh có tay em đón đợi
bàn chân anh không mỏi bao giờ

tôi từng lọc từng ý nghĩ vần thơ
trăn trở suốt đêm dài thao thức
để ca ngợi một mối tình đẹp nhất
mà khó khăn hơn đãi cát tìm vàng.
Đọc những tập thơ, ký, kịch bản của Olga Berggoltz xuất bản trong nhiều năm, tôi chưa một lần bắt gặp bài thơ nào bà viết đứng ở vị trí người con trai. Có thể tôi chưa được đọc hết, nhưng theo tôi được biết, nhân vật “tôi” trữ tình trong thơ Olga luôn luôn là nữ. Thơ tình của bà không nhiều. Những bài thơ viết trước khi bà bị rơi vào vòng oan ức thường mê đắm say sưa, nhưng không hề đơn giản. Chúng có tầng, có lớp, có thấp thoáng hình ảnh người con gái Nga đôi bím tóc vàng, có dòng Neva, ánh sao băng, những con đường mòn đầy hoa cỏ dại của rừng Nga, có tiếng lau sậy bên đầm lầy, những sân ga cô quạnh buổi chiều tà, v. v.

Những thi phẩm sáng tác sau năm 1938 mang nối đau âm thầm, tuy vẫn trong trẻo và sôi nổi, kể cả những bài thơ sau này được nhiều người gọi là “thơ công dân”, thơ “khẩu hiệu”. Không bài nào thiếu hình ảnh đặc trưng cho nước Nga như những cánh rừng thân trắng lá xanh, chiếc gàu bạch dương, rặng anh đào, cây thuỳ dương…

Vì những lý do ấy, bài thơ trên - hoàn toàn không có một hình ảnh, ý tứ nào gần gũi với tâm hồn Nga của Olga - cho tôi cảm nhận rõ rệt rằng, đó không phải là thơ viết ra từ ngòi bút sôi nổi yêu đời nhưng cũng mang nỗi đau day dứt trong tâm của nữ sĩ người Nga này.

2. Hai “nghi án” khác gián tiếp liên quan đến tên tuổi của Olga Berggoltz.

VỀ “BÀI THƠ CUỘC ĐỜI”
(được coi là do Bằng Việt dịch)

Đừng nhắc nữa em ơi
Lỗi lầm thời quá khứ.
Ngôi sao bùng đốm lửa
Đâu còn nữa màu xanh.

Con chim nhỏ chuyền cành
Cũng bay theo tiếng hát,
Tìm một chiều giá buốt
Hoa sặc sỡ lo âu.

Dòng sông trôi về đâu
Nói làm chi cho khổ
Tình yêu con thuyền nhỏ
Buồm trôi nơi xa khơi.

Gặp gỡ, rồi chia phôi
Yêu thương rồi oán trách
Bây giờ đã xa cách
Nhắc lại mà làm chi.

Thời gian mãi trôi đi
Buồn vui thành kỷ niệm
Bài thơ là câu chuyện
Của ban đầu tình yêu.
Bài thơ này cũng được “phát tán” qua mạng, xuất phát từ một vài bản chép trong sổ tay của những người yêu thơ từ thập kỷ 70, trong đó có dòng chú thích: “Bài thơ Kornilov gửi Olga Berggoltz để đáp lại bài “Bài thơ cuộc đời” của bà”. Thế nhưng, xét theo năm mất của nhà thơ Kornilov (1938) và năm Olga viết bài “Gửi Kornilov” mà nhà thơ Bằng Việt đặt tên là “Bài thơ cuộc đời” (1940) thì câu trả lời cho “nghi án” này đã quá rõ ràng: tác phẩm ấy không phải do ngòi bút của nhà thơ tài danh và bạc mệnh ấy viết, đơn giản vì khi ấy ông đã qua đời!

Vì thế, cho dù trong bài thơ “Về “Bài thơ cuộc đời” trên có nhắc đến rất nhiều những chi tiết quen thuộc từng xuất hiện trong thơ Olga (“ngôi sao bùng đốm lửa…”, “hoa sặc sỡ lo âu”) thì đó cũng không phải là cơ sở để nói rằng đây là thi phẩm của nhà thơ.

Rất tiếc, thông tin phát tán trên mạng, chẳng có gì kiểm chứng được. Trong cuốn “Thơ trữ tình thế giới” do nhà thơ Bằng Việt dịch và giới thiệu (Nhà xuất bản Văn học, 2005), tôi cũng không thấy có mặt bài thơ này, mặc dù ở những nơi khác mà nó xuất hiện, người ta vẫn ghi bên cạnh bài thơ dòng chữ: “Người dịch: Bằng Việt”!

Một bài thơ khác cũng gây nên những hoài nghi về nguồn gốc của nó, là bài “Chuyện mười năm trước”:

CHUYỆN MƯỜI NĂM TRƯỚC
(Người dịch: chưa rõ)

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi anh im lặng,
Thế mà em hờn giận,
Để chúng mình xa nhau.

Biết đi đâu về đâu,
Con thuyền không bến đợi?
Ôi cây xanh tình đời,
Có nghe lòng ta gọi?

Những mùa xuân đã qua,
Tiếng ve về thổn thức,
Gió thổi vào đêm hè,
Kể chuyện mười năm trước.

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi anh im lặng,
Thế mà em hờn giận,
Để chúng mình xa nhau.

Nơi tình yêu bắt đầu,
Cũng là điều khó nhất!
Trái tim dù biết hát,
Nhưng tình đời dễ đâu!

Những đôi lứa yêu nhau,
Có nghe tôi kể lại,
Chỉ một lần trót dại,
Thế mà thành chia phôi.

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi, anh im lặng...
Trên nhiều diễn đàn, thậm chí tuyển thơ, người ta thường ghi chú rằng đó là tác phẩm của một tác giả Bessonov nào đó, người yêu Olga! Nhưng thông tin này cũng có cơ sở để bác bỏ, vì trong tất cả các ghi chép, hồi ký của Olga và của những người đương thời, chưa ai nhắc đến nhân vật kỳ lạ này. Rất có thể do một sự nhầm lẫn nào đó từ phía người Việt. Người Nga hẳn không thể ngờ rằng nhà thơ nữ Olga Berggoltz của họ đã có thêm một mối tình nữa, mối tình do những người yêu quý Olga ở Việt Nam “thêu dệt” nên! Cho đến khi, một số người lại gán bài thơ ấy cho Kornilov, người chồng đầu tiên của Olga.

Âm hưởng bài thơ, theo tôi, rất gần gũi với cách viết của người Việt Nam: những “con thuyền không bến đợi”, những “tiếng ve”, “đêm hè”… khiến tôi chạnh nghĩ, phải chăng đây là thi phẩm của người Việt?


Thêm nữa, văn phong và giọng thơ của cả hai bài thơ trên (“Về bài thơ cuộc đời” và “Chuyện mười năm trước”) hoàn toàn không phải của Kornilov! Boris Kornilov (1907-1938) là một nhà thơ sớm nổi danh, hồn thơ phóng khoáng, chịu ảnh hưởng rất lớn của Yesenin, song vẫn có những đột phá riêng, gần như không theo khuôn mẫu nào cả, nhất là về vần điệu. Những bài viết về Olga sau khi họ chia tay, tình cảm nồng nàn bị nén giữa những giận hờn, day dứt:

... Thôi thế là xong.
Khi người đã lên đường
Anh chạnh nghĩ,
chỉ có điều không nói
Anh nghĩ về dòng sông,
về sân ga anh đã tới
Và về miền đất của mình giống hệt một nhà ga….
(trích “Que diêm nhỏ cháy bùng rồi tắt lịm...” *)
giữa những hằn học, bất cần:

Tôi sẽ im, không còn tin nữa
Vào tình yêu. Cô ấy đã đi rồi
Theo bông tuyết đầu mùa.. Chao, diệu vợi
Những nhảm nhí tràn vào óc tối hoang mang
...

Chia tay em, tôi sẽ cúi đầu chào
Thoải mái nhé em, được một mình một bóng
Tặng lại tôi chai dầu thơm mùi nóng
Kỷ niệm tôi cả những thỏi son môi

Bóng đèn cong quầng sáng mặt bàn tôi
Giường tôi nằm trên tầng ba cô độc
Còn cần gì nữa đâu? Hai lăm xuân lộc ngộc
Giờ tôi đã vui và dễ chịu lắm rồi.

(“Tôi sẽ im, không còn tin nữa”, 1933)
và cả những ghen tuông, giận dỗi:

Người thương ơi, em tìm được ai rồi?
Mà ngân nga bài ca trong trẻo
Thủ thỉ tâm tình, thay thế cho kẻ
U uẩn một thời… là tôi
Em đã hôn ai rồi
Bên dòng Dunai, bên dòng Oka nước mát?

(trích “Tôi từng có người thương”, 1935)
Trích dẫn những câu thơ trên để thấy rằng, giọng thơ của Boris Kornilov không êm ả như những gì ta đọc được trong “Về bài thơ cuộc đời” và “Chuyện mười năm trước”. Cái lý “gặp gỡ, chia phôi… nhắc lại làm chi”… không nằm trong “logic thơ” của ngòi bút sắc sảo này. Hơn nữa, cũng để thấy rằng, Olga Berggoltz  và Boris Kornilov có thời gian sống chung rất ngắn ngủi, nhưng chuyện hai người chia tay không đơn giản là “một lần trót dại: anh hỏi, em yên lặng”. Lý do họ chia tay, cho đến tận bây giờ vẫn được những nhà nghiên cứu tiểu sử phân tích và phỏng đoán. Một trong những giả thiết đặt ra, đó là sự khó hoà hợp giữa hai con người tài hoa, nhạy cảm trong khi cuộc sống sinh hoạt khi ấy đầy rẫy những khó khăn…
 
Qua những “nghi án” vừa nêu trên đây, tôi nghĩ: chúng ta may mắn được sống trong một thời đại “mở” về thông tin, có điều kiện tiếp xúc với thông tin nhiều chiều. Song, nếu không có bản lĩnh tiếp nhận và xử lý thông tin, không sàng lọc, so sánh, đã vội tin theo, và, thậm chí còn tiếp tục góp phần “dĩ ngoa truyền ngoa” thì thật là nguy hiểm.

Như trong trường hợp này, còn thật đắc tội với hai nhà thơ mà chúng ta yêu mến! (***)

Thuỵ Anh

(*) “Nhà thơ Khổng Văn Đương và mối tình đẹp trong ký ức” (“VnExpress” ngày 23-1-2005)

(**) Các bản dịch trong bài không đề tên dịch giả, là của người viết bài này.

(***) Để có thêm thông tin và “rộng đường dư luận”, người viết bài này đã xin thỉnh giáo nhà thơ, dịch giả Bằng Việt về những dịch phẩm được coi là của ông kể trên. Ông cho biết: hai bài thơ trên chắc chắn không phải của Olga Berggoltz và cũng không phải của một Bessonov nào cả. Và, cũng không phải ông đã dịch các bài đó.
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Olga Berggoltz, cây ngải đắng của nền thi ca Xô Viết (2)

(NCTG) “Khi người cha sôi nổi thông báo tin bài thơ của cô con gái lần đầu tiên được đến với công chúng: “Chúc mừng con! Mọi người bảo là hay… Con đã trở thành thi sĩ thực thụ rồi đấy - họ đã in thơ con!”, không hiểu sao lúc ấy, cô bé Olga 14 tuổi cùng với sự vui sướng tột độ lại cảm thấy đôi chút sợ hãi, lo âu. Một linh cảm kỳ lạ chăng?
Dầu thế nào mặc lòng, từ bấy giờ, Olga đã thề sẽ trở thành một nhà thơ thực sự, hơn thế nữa, là một nhà thơ của giai cấp vô sản. Mặc dù luôn có những linh cảm lạ lùng, khi ấy, người thiếu nữ trong sáng không hề biết rằng cuộc đời đầy biến động phía trước đang chờ đợi nàng với tất cả nỗi thống khổ cùng cực” (trích Phần 1 của bài viết)



Phần 2: NHỮNG MỐI TÌNH TRONG ĐỜI: SAY MÊ VÀ THỐNG KHỔ

Và thế là Olga dấn thân vào con đường xa xôi, kỳ ảo của Thi Ca.
Những năm đầu tiên bước vào đời, Olga đã từng rất thân thiết và ý hợp tâm đầu với người bạn thơ Iaroslav Smeliakov (1913-1972), nhưng đến khi gặp chàng trai 19 tuổi Boris Kornilov trong một lần sinh hoạt với bút nhóm có tên “Kế tục” vào tháng 2-1926, nàng đã rơi vào ánh hào quang của một tình yêu “từ cái nhìn đầu tiên”.


Vẫn còn là trẻ thơ, non nớt nhưng say đắm, cô thiếu nữ 16 tuổi Olga Berggoltz đã đón nhận tình yêu đầu như đón nhận số phận của mình. Chàng trai trẻ có vóc dáng nhỏ bé, đội mũ kepka, biết đọc thơ mình sáng tác một cách lôi cuốn và say sưa đã khiến trái tim nàng rung động. Họ yêu nhau và chỉ mấy tháng sau đã thành vợ thành chồng. Olga sinh được một cô con gái Irina, nhưng về sau bé bị bệnh mà mất khi mới tròn 8 tuổi (1936).
“Tính cách khắc nhau”, thậm chí thơ của họ cũng mang những đặc điểm đối chọi nhau, nói như Lev Anninsky (1), nhịp thơ nặng nề, trơn chuội của Kornilov ít có thể hoà hợp với cung đàn dâng trào thẳng băng của Berggoltz. Và vì thế (mà cũng chẳng chắc đã vì thế, bởi chuyện yêu đương rồi xa cách vốn dĩ luôn là điều bí ẩn), đôi tình nhân mê đắm này đã chia tay. Họ xa nhau, nhưng mối dây liên hệ sâu sắc giữa hai người vẫn còn, không lời, không hình ảnh, nhưng thiêng liêng đến mức khó hiểu. Mãi đến sau này, Olga vẫn không nguôi nhớ và đây đó trong các bài thơ, người ta vẫn mơ hồ hiểu Olga nhắc đến mối tình đầu của mình với niềm day dứt khôn nguôi. Sở dĩ người viết bài này dùng từ “mơ hồ” vì chỉ duy nhất có một bài thơ nữ sĩ ghi rõ “Gửi Boris Kornilov” (mà nhà thơ Bằng Việt tạm đặt tên là “Bài thơ cuộc đời”), sáng tác năm 1940, sau khi Kornilov đã mất được hai năm. Bài thơ này đã trở thành huyền thoại trong lòng người yêu thơ Việt Nam, qua bản dịch uyển chuyển và rất thành công của nhà thơ Bằng Việt (2).
Khi viết bài thơ này, Olga mất liên lạc với Boris đã lâu, chỉ được biết rằng anh bị bắt – không ai rõ Kornilov bị đi đày giữa chốn Gulag xa hút, hay đã bỏ mình? Olga kiên nhẫn chờ đợi tin người, và không một phút nào tin vào cái chết của Boris Kornilov:

Không, chẳng bao giờ em chấp nhận nổi đâu
rằng anh đã qua đời, anh hãy tin em nhé
Ranh giới giữa sáng tâm và loạn trí
em bây giờ thường nhìn thấu được ra
(“Không, chẳng bao giờ em chấp nhận nổi đâu”, 1938*)

Đến Leningrad vào năm 1925, chàng trai 18 tuổi từ thành phố bên sông Volga đã từng rất nổi tiếng, là “cái hy vọng” của nền Thi ca Xô-Viết trẻ như lời khẳng định của nhiều người tại Đại hội lần thứ I các nhà văn Xô-Viết. Tháng 4-1925, “Ra biển!”, bài thơ đầu tiên của Boris Kornilov được đăng tải và rất được khen ngợi. Ảnh hưởng khá sâu sắc phong cách Esenin, nhưng anh vẫn giữ được cho mình nét riêng không trộn lẫn. Đó là những câu thơ mang nhịp điệu khá gập ghềnh, đôi lúc trúc trắc, khó đọc. Thi phẩm nổi tiếng nhất thời đó của Kornilov là “Bài ca chào đón” (1931) được nhạc sĩ tài danh Shostakovich (cũng là nhạc sĩ yêu thích nhất của Olga) phổ nhạc trong bộ phim “Người đón chờ” (1932):
Ban mai đón ta bằng hơi giá
Dòng sông đón ta bằng gió xa
Cô gái tóc quăn hỡi, cớ sao em vẫn
Không vui nghe tiếng còi tàu?
Đừng ngủ nữa, tóc quăn ơi, hãy dậy mau
Những đội thợ đã vào phân xưởng
Đất nước bừng dậy cùng vinh quang
Đón chào ngày mới
(Olga có mái tóc xoăn vàng óng rất đẹp và ngay ở bài thơ mang âm hưởng ngợi ca cuộc sống mới này, nàng vẫn hiển hiện bên chàng!)

Suốt hơn hai thập niên, cả nước hát bài ca ấy, ngợi ca nhịp điệu làm việc sôi nổi của một ngày mới trên đất nước Xô-viết. Có ai ngờ, chờ đón tác giả của nó lại là một ngày đen tối! Boris trở thành một trong những cái đích ngắm của nạn bạo hành thời Stalin sau khi anh viết bài thơ “Ngày cuối cùng của Kirov” (3). Vì bài thơ này, anh bị khép vào tội “phản cách mạng”. Năm 1936, Kornilov bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Xô-viết. Tháng 3-1937, nhà thơ bị bắt. Thi phẩm cuối cùng của anh được đăng là những vần thơ về A. Pushkin. 20-2-1938, nhà thơ vĩnh viễn không bao giờ còn được làm thơ nữa: Boris Kornilov bị xử hình. (4)

Từng là người thân của Boris, mặc dù đã rất xa, Olga Berggoltz vẫn không tránh khỏi liên luỵ. Bà cũng rơi vào chốn ngục tù khi đang mang thai đứa con trai nhỏ, để rồi vĩnh viễn mất đứa bé cùng quyền làm mẹ. Về điều này, chúng ta sẽ còn trở lại vào các phần sau.
Trong một tác phẩm của mình viết năm 1935, Boris Kornilov nhắc đến Olga với giọng thơ tha thiết đầy tiếc nuối:
Người thương ơi, em tìm được ai rồi?
Mà ngân nga bài ca trong trẻo
Thủ thỉ tâm tình... thay thế cho kẻ
U uẩn một thời… là tôi
Em đã hôn ai rồi
Bên dòng Dunai, bên dòng Oka nước mát
Trên bến đợi, bên bờ đổ nát
Bên dốc đứng kia nơi ào ạt sông này
Anh chàng ấy sẽ cao thấp béo gầy?
Xuân tới chàng ta bao nhiêu tuổi?
Có dám bước đến đây đàng hoàng không bối rối
Giản dị cất tiếng chào tôi?
(“Tôi từng có người thương”, 1935)

Có một điều thú vị là, cho dù bài thơ được viết từ năm 1935, nhưng nhiều hình ảnh nhắc nhở về cô đoàn viên Olga trẻ trung, trong sáng như thiên thần mà Boris gọi là “người vợ có đôi cánh trắng”, cũng như những nơi nàng bước chân qua trong trí tưởng tượng của anh - tất cả đều từng có thực trong cuộc đời của Olga sau này, hệt như một sự tiên tri, một điềm báo.

Chúng ta gặp lại những “bến đợi, bờ đổ nát, dốc đứng, dòng sông” trong thơ của Olga viết trong thập kỷ 40-50 của thế kỷ trước. Đó cũng là tiếc nuối:
Tìm về bờ dốc cũ xưa
Đối mặt tận cùng số mệnh
Hạnh phúc một thời chống chếnh
Là tôi... nhiều năm qua rồi
Biển xanh biếc tận chân trời
Hoàng hôn màu đồng ngút ngát
Hoa cỏ dưới chân xào xạc
Lại như... nhiều năm qua rồi
Cũng hương bạc hà khắp nơi
Cũng tiếng én kêu não ruột
Làm sao lấy lại, anh ơi
Những gì thân thương đã mất?
( “Cánh én bên bờ dốc đứng”, 1940)

Đó cũng là một giấc mơ yêu:
Một bến đợi lạ lùng trong đêm tối cuối trời
Lửa sáng trên bờ, lửa ở sâu đáy nước
Ai đó tôi không quen đứng chờ đây từ trước
Mà từ xa tôi cũng có thể nhận ra
Chỉ một phút nữa thôi tôi sẽ nghe thấy người ta:
“Em đây rồi. Anh đến với em, em có biết?”
Phút đầu tiên tôi không thốt nên lời gì hết
Chỉ chìa tay đón số phận của mình...
(“Lại một mình đơn độc lên đường”, trích “Chùm thơ về sông Đông – sông Volga”, 1950)

Phải chăng, nàng Olga năm nào và mối tình say đắm đầu tiên vẫn thấp thoáng sống dậy trong suốt cuộc đời gian truân của nữ sĩ Berggoltz?
Và mãi về sau, Olga vẫn thường xuyên qua lại thăm nom thân mẫu của Kornilov, âu yếm gọi bà là “mẹ”.
*
Mối tình thứ hai - Nikolai Molchanov - đến với Olga rất giản dị, nhưng lâu bền, và, như bà nói, là “mãi mãi”.
Em lấy được anh của cuộc đời
Như tia lửa bắn ra từ đá cuội
Để rồi chẳng chia rời,
Để rồi anh yêu em mãi mãi.
(“Em lấy được anh của cuộc đời”, 1936)

“Mãi mãi” – từ này tưởng chừng dễ nói ra giữa những người đang yêu, cũng dễ trở thành là “đầu môi chót lưỡi”. Nhưng với Olga, đến cuối đời, bà đã một lần nữa nhắc đến người chồng thứ hai của mình với từ “mãi mãi”. Bà luôn cảm thấy mình là “người vợ goá” của ông, kể cả khi bà đang hạnh phúc với mối tình thứ ba, mối tình cuối đời:
Hôm nay đây em đã ngoái nhìn.
Và bỗng thấy: hướng về mình từ lòng băng giá
Người bạn đời còn sống với đôi mắt có hồn rất lạ
Người duy nhất của em – mãi mãi, muôn đời

Là vợ người ta - với tất cả những ai đang sống
Với riêng chúng mình – em là vợ goá của anh.
(“Ôi xin đừng ngoái lại phía sau”, 1947)


Năm 1926, Olga Berggoltz theo học khoá nghiên cứu Lịch sử nghệ thuật và năm 1927, bà được tuyển vào học ngành báo chí khoa Ngữ Văn trường Đại học Tổng hợp Leningrad. Ở đó, sau khi chia tay với Kornilov năm 1930, bà gặp Nikolai Molchanov (1909-1942) và đi bước nữa cùng ông. Buổi đầu bày tỏ tình yêu giữa đôi trai gái cũng vẫn xúc động không khác gì lần yêu đầu: một buổi sớm mai trên con đường dọc bờ sông vắng thưa người qua lại, không khí nao niết mùi hương toả ra từ những rặng thông, tiếng hải hâu kêu chao chác từ xa… thấp thoáng cánh trắng dập dềnh phía bầu trời ửng đỏ của rạng đông. Cảnh tượng ấy đã chứng kiến mối tình “mãi mãi” của Olga Berggoltz và Nikolai Molchanov. Hai con người trẻ tuổi cùng làm việc miệt mài bên nhau ở Alma-Ata (Kazakhstan) - khi ấy Olga là phóng viên báo “Thảo nguyên Xô-viết”, cùng chiến đấu trong vòng phong toả của phát-xít Đức ở Leningrad và cùng chung sức trong rất nhiều dự định.

Nikolai là nhà nghiên cứu văn học. Tác phẩm cuối cùng của ông - “Năm nhà thơ” - vẫn còn dang dở vì chiến tranh, và vì… cái chết! Đầu năm 1942, khi nạn đói hoành hành đến cực điểm trong thành Len, Nikolai Molchanov đã qua đời, trong đau đớn. Olga, người phụ nữ kiên gan chịu đựng đói, khổ, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần trong những ngày đêm Leningrad bị bao vây, đã “khóc một lần cho cả 900 ngày đêm ấy”. Người vợ goá của Molchanov, khi đó tuyệt vọng cùng cực, đã đi bộ băng qua nửa thành Len chết chóc để đến ngồi bên cha - bởi lẽ, cũng như thời thơ ấu, người cha vẫn là nơi bấu víu về tinh thần của bà. Trong hồi ký “Những ngôi sao ban ngày”, Olga kể:
“Cha im lặng, tôi có cảm tưởng, im lặng rất lâu, mà cũng có thể là chỉ vỏn vẹn vài giây thôi. Cha hiểu tại sao tôi lại tìm đến người. Cha vẫn biết Nikolai đã vào viện. Và người chậm rãi bước ra khỏi cái barie, đứng trước mặt tôi và, cúi đầu rất thấp, yên lặng hôn tay tôi. Đoạn, ngẩng phắt đầu lên, nhìn vào mắt tôi bằng ánh nhìn điềm tĩnh, hình như có đôi chút lảng tránh sang hướng khác và khẽ nói:
- Nào, đi thôi bé con, cha sẽ cho con uống chút nước nóng. Có thể cha con mình chế món gì ăn nhỉ!... – Rồi ông nói thêm, hơi nhếch mép cười: “Món shi thì lại hơi mặn…” (5)

Tôi hiểu câu lẩy đó của ông và nghe thấu được tất cả sự cay đắng. Cha rất yêu quý Nikolai. Nhưng cha con tôi không nói thêm lời nào nữa, kể cả về anh lẫn về cái chết.”
Số phận quả đã cay nghiệt với Olga. Bi kịch của người chồng đầu tiên Boris Korinilov, cái chết của hai bé gái: Irina và Maia (Maia là con gái của Olga với Nikolai Molchanov, cô bé mất vì bạo bệnh khi vừa mới biết cất lời gọi “Mẹ”), mất đứa con út ở trong tù khi còn là một bào thai..., và bấy giờ, mất người bạn đời tri kỷ. Không phải ngẫu nhiên mà sau này, Olga luôn luôn lo sợ, rằng tất cả những người bà yêu mến đều bỏ bà mà ra đi.
Thế nhưng, cuộc sống dẫu vô vàn khó khăn, khốc liệt, nhưng quý giá vô cùng, vẫn còn đang ở phía trước. Và Olga Berggoltz đã sống, đã đứng vững một cách xứng đáng, là chỗ dựa tinh thần của biết bao con người thành Len năm ấy. Bà làm được tất cả những điều ấy nhờ có tình yêu:
Tình yêu của anh kỳ diệu vô chừng
Khiến em phải ngẩng cao đầu và sống
(“Ngày 29 tháng Giêng năm 1942”)
*

Về sau, không chỉ một lần, Olga đã nhắc đến việc viết tiếp phần hai cuốn “Những ngôi sao ban ngày”, trong đó, bà nói, “tôi sẽ viết nhiều về người bạn, người chồng của tôi – Nikolai Stepanovich Molchanov. Tôi chưa từng biết người nào tuyệt vời và cao cả hơn con người ấy. Phóng khoáng, độ lượng, tuyệt vời, một con người rất kiêu hãnh”.
Và cũng không phải một lần, Olga cảm thấy mình có lỗi với người, khiến những giấc mơ không tròn và trái tim không thôi thao thức:
Anh đi qua những trận chiến, trại tập trung Maidanek, địa ngục tối mò
xuyên qua những lò thiêu say lửa cười nghiêng ngả
qua cái chết của chính mình anh tìm về thành Len sỏi đá
đến được nơi này vì anh rất yêu em
Anh tìm được nhà em, em đang sống êm đềm
không ở nhà chúng mình xưa mà trong ngôi nhà khác,
và người chồng mới bên em – thực tại làm anh ngơ ngác,
ôi sao anh chẳng ngờ đến sự hiện diện của người?!

Bạn đời của em ơi, - xin tha thứ cho em tiếng nghẹn ngào vô tình không trông đợi,
từ lâu rồi em không biết nữa đâu là thực là mơ…
(“Bội bạc”, 1946)


“Người chồng mới” mà Olga nhắc đến trong bài thơ trên là nhà ngôn ngữ học Georgi Makogonenko (1912-1986), người mà, không hiểu sao, sau này các nhà viết tiểu sử Olga thường tránh nhắc đến tên. Dường như người ta ngầm lên án ông về sự dằn vặt tâm hồn của Olga thể hiện trong các bài thơ viết về tình yêu cuối đời, về sự cô đơn của bà lúc tuổi già. Mà chính Olga cũng chưa bao giờ đề tặng ông bất cứ một bài thơ tình nào, cho dù, vì ông, bà đã từng viết những vần thơ “âm thầm ghen tuông cay đắng”. Thế nhưng, không thể phủ nhận được một điều rằng, tình yêu thứ ba này, tuy không làm mờ đi mối tình âu yếm trong quá khứ với Boris Kornilov, không khiến bà nguôi quên mối tình sâu đậm kéo dài “mãi mãi” với Nikolai Molchanov, thì vẫn từng là bàn tay chìa ra nâng đỡ tinh thần bà trong những giờ khắc hoang mang:
Anh đã nhận lấy người đàn bà u sầu, không mềm dịu
Người có ý nghĩ tối tăm, cơn mê dại nặng nề
Có nỗi niềm goá bụa không xoá được đau tê
Có nghiêm túc một tình yêu chưa từng qua đi hết
Nhận lấy về mình không mưu cầu niềm hoan hỉ
Miễn cưỡng nhưng vì yêu anh đã nhận về….
(“Đã nhận lấy…”, 1942)

Theo Lev Anninsky, Georgi Makogonenko đã làm mọi cách để Olga bình tâm lại, thậm chí, lấy quyền của một phó Phòng Văn nghệ BBT Đài Phát thanh Leningrad (nơi Olga làm việc suốt thời gian thành Len bị phong toả), ông đã “lệnh” cho bà phải viết cho xong thi phẩm “Trường ca tháng Hai” kịp ngày lễ Quân đội 23-2-1942. Bởi ông nhìn rõ, chỉ có công việc mới cứu được Olga khỏi nỗi đau riêng. Bản trường ca ấy đã cứu được Olga, trả lại sự bình tâm cho bà, cũng như cứu được rất nhiều người đàn bà goá khác của Leningrad khỏi chìm đắm trong hồi ức đau thương. Và tình yêu, cho dẫu đầy ắp ghen tuông, day dứt, thì vẫn cứ là “hạnh phúc”.

Hai người chính thức hoá quan hệ vợ chồng vào ngày 20-2-1949 (một sự trùng hợp kỳ lạ: đây cũng chính là ngày mất của Boris Kornilov!) mặc dù trước đó, ngay từ năm 1942, họ đã chung sống dưới một mái nhà. Con trai riêng của Georgi và thân phụ ông cùng sống với họ. Tổ ấm mới của Olga có đầy đủ những gì từ lâu bà thầm mơ ước. Đó là một căn hộ xinh xắn với những tiện nghi thường nhật của một gia đình, với “bàn giải khăn ren hoạ tiết nhẹ nhàng” (6), với những buổi tối tiếp đón khách thơ đông vui sôi nổi. Và hai vợ chồng cùng viết chung những vở kịch về Leningrad thời chiến; “Họ đã sống ở Leningrad” (1944), “Trên mảnh đất của chúng tôi…” (1947), kịch bản phim “Bản hợp xướng Leningrad” (1945), những trang bút ký đăng tải nhiều kỳ trên tờ “Tin tức” (Izvestia) “Dòng thơ Nga” (13-8-1944), “Phụ nữ Nga” (19-8-1944)…

Theo hồi ký của I. Glikman, nhà nghiên cứu nghệ thuật Nga, thì thời bấy giờ, Georgi thường tham gia làm việc ở xưởng “Lenfimlm”: “Những cô diễn viên trẻ đẹp thường tìm mọi cách làm quen với Iura (tên thân mật của Georgi) Magokonenko. Họ mê không phải là cái sự hoạt động nghệ thuật của ông mà là vẻ bề ngoài của Iura. Ông cao lớn, cân đối, đẹp trai, có đôi mắt xám tuyệt diệu, mái tóc dày tuyệt vời, những ngón tay dài thanh mảnh. Mà ăn mặc thì rất đỏm dáng”.
Từ tháng Năm đến tháng 10-1949, Olga đi thực tế ở làng Rakhino tỉnh Novgorod. Tại đây, bà đã viết những dòng lo âu vào nhật ký của mình, linh cảm về sự không bền vững của mối tình này:
“… Những cô gái trẻ dễ thương – những cô giáo có khi còn ít tuổi hơn Irka (tên gọi âu yếm của con gái đầu lòng đã mất) – giờ là những đứa con của mình.
Nhìn họ, điều đầu tiên cảm thấy là sự ghen tị với sức trẻ tươi mới của họ, với sự quyến rũ của họ - chắc là tuổi già đã chớm đến rồi, và mình cảm thấy rất rõ là Iura – người hãy còn trẻ và rất đẹp trai, rồi cũng sẽ muốn có những cô nàng như thế…, mà biết đâu anh đang có rồi chăng…[…] Mình ở đây đã 7 ngày rồi mà Iurka chẳng gửi lấy một tấm bưu thiếp, chẳng có lấy một bức điện. Ôi, rồi mình sẽ được nhận từ anh ấy điều tệ hại cuối cùng, nỗi buồn đau kinh khủng nhất – anh ấy sẽ bỏ mình, sẽ đi theo cô khác…
Giá mà được tự do! Muốn quá tự do, thoát được những ghen tuông, thoát được cả tình yêu, thoát khỏi những ý nghĩ về anh ấy!”
Không phải ngẫu nhiên mà Olga đã viết trong thi phẩm “Em thầm cay đắng ghen tuông” (1949), tả lại tâm trạng khổ sở luỵ tình của một người đàn bà:
Em giấu giếm nỗi niềm khổ sở
Của hờn ghen xuống tận đáy tâm hồn
Tưởng tới anh cùng một cô gái nhỏ
Không phải mình - tươi sáng, đáng yêu hơn!
và hoang mang:
… Giờ thốt nhiên em như chẳng là em
Ít nói, ít cười, đùa những lời cay độc
Mọi người thương hại em, và bỗng chốc
Họ không còn chia sẻ những niềm vui
Giữa cuộc chơi em chợt nghẹn lời
Đưa mắt nhìn về miền mông lung bí ẩn
Trong giây lát em đã xa vạn dặm
Cô độc vô cùng với nỗi lòng riêng
Nơi nhạt nhoà ánh sáng không tên
Khẽ run rẩy trong khí trời ẩm ướt
Nếu khi ấy anh gọi em thảng thốt
“Em ở đâu?”… Em cũng chẳng quay về
để rồi cất lời khẩn khoản người thương:
Anh yêu ơi giữa bao điều vô thức
Hãy nhắc thật nhiều rằng anh rất yêu em
Em lại trở về giản dị đáng yêu thêm
Em sẽ không còn ghen tuông cay đắng nữa

Những câu thơ này không phải được thốt ra vào một giây phút bất chợt, chúng phản ánh sự dằng xé day dứt trong tâm hồn của bà từ rất lâu.
Đó là bản đầu tiên của bài thơ “Em thầm cay đắng ghen tuông” in trên tạp chí “Thế giới mới” (Novyi Mir). Sau này, khi in cuốn “Nút thắt” (Uzel) (7), Olga đã sửa lại một cách cay đắng như thế này: “Em sẽ thôi không còn bất hạnh, nghiệt ngã và đau buồn…”

Bà sống những ngày sau với Makogonenko bằng một tình yêu thái quá và bất an. Và cái kết cục bà luôn lo sợ đã đến. Năm 1959, tình yêu cuối cùng trong đời nữ sĩ đã ra đi. Makogonenko bỏ người vợ thi sĩ để đến với một cô gái trẻ “tươi sáng, đáng yêu hơn”. Dù đã linh cảm trước được mất mát bằng trái tim nhạy cảm với khổ đau của mình, thì Olga vẫn rơi vào trạng thái trầm uất. Không chịu nổi, bà từng kêu lên trong những trang nhật ký của mình: “Đừng giày vò tôi nữa, hỡi người/ Người không bị lãng quên, người không xứng với dòng thơ tôi viết/ Người không khiến ai phải than tiếc,/ không bị giặc giết/ Không rơi vào vòng tay của bất hạnh khốn cùng…”
Có cảm giác rằng, những tủi khổ trong đoạn đời cũ chưa bao giờ làm bà kiệt quệ về tinh thần đến thế. Lẽ chăng là, mọi bất hạnh đều có thể chịu đựng được nếu trong tim lưu giữ được tình yêu? Chỉ đến bấy giờ, tình yêu hiện tại lụi tắt, bà mới rơi vào mép vực của cái chết – cái chết về tinh thần. May thay, Olga đã chạm được “bàn tay giải cứu” chìa ra với mình từ… những vần thơ. Bà đặc biệt xúc động khi đọc Marina Svetaeva, những vần thơ về sự chia ly:
Mới hôm qua còn chìm trong mắt em đây
Bây giờ đã nhìn sang phía khác
Mới hôm qua còn ngồi bên em đợi tiếng chim gọi sáng
Giờ sơn ca thành quạ cả rồi anh.

Những con tàu đưa người yêu dấu đi rồi
Con đường trắng mang người đi mất hút
Và tiếng nức nở ngân vang khắp nơi trên trái đất:
“Anh yêu, em đã làm gì anh?”
(“Mới hôm qua”, 1920)


Những ngày này, trên môi Olga không ngừng ngân lên những bài thơ tình yêu của Martynovski, của Pasternak, của Marina Svetaeva… Dường như, đó là “liệu pháp tinh thần” của bà vậy, để thấy mình không đơn độc chịu đựng nỗi đau chia lìa. Và cuối cùng, đương nhiên, bà tìm quên trong… thuốc lá và rượu. Thực ra, bà bắt đầu uống từ lâu, ngay từ khi bắt đầu chung sống với Georgi Makogonenko và thói quen xấu này đã khiến miệng lưỡi thế gian xúc xiểm bà khá nhiều. Họ thêu dệt đủ điều. Thật đau lòng khi tưởng ra cảnh người phụ nữ phúc hậu dịu dàng này chìm trong cơn mộng của ma men. Nhưng, nhìn lại những gì bà trải qua, chúng ta hoàn toàn hiểu bà. Đôi khi, cơn mê lại đem tới cho tâm hồn những khoảng lặng cứu rỗi vô cùng cần thiết.

Tuy vậy, Olga không chìm mãi trong “rượu, mê, quên”. Bà còn làm việc, làm việc say mê, hết lòng, hết sức cho đến cuối đời. “Cây ngải đắng” của nền Thi ca Xô-viết trong mọi nỗi bất hạnh vẫn sống, vẫn nở hoa, vẫn toả mùi hương cay cực cùng đời:
Đời đã chia cắt đôi ta đã khiến mình xa mãi
Em vẫn tin anh sáng trí sáng lòng
Nhưng chưa bao giờ chạm tay vào mảnh đất kiệt cùng
Hẳn anh chưa từng biết mùi ngải đắng
Tôi mải mê hít căng mùi hương sâu lắng
Ngải đắng đây, đắng ngắt tình đời
Nỗi đau của loài người giản đơn vô hạn
Đã trở thành niềm cay cực của riêng tôi
Từ những cửa đập bê tông vẫn thoảng đưa về mùi hoa ngải
Mùi hương yêu bất tử bay đến tận nhà tôi
Thử hỏi làm sao tôi có thể chẳng cất lời
Trở về sau đắng cay nói lời yêu khác trước.
(“Những lá thư viết trên đường”, 1952-1960)
(*) Những đoạn thơ dịch trong bài viết này là của Thuỵ Anh.

Thuỵ Anh, từ Liên bang Nga, 1-2008 – Còn tiếp

(1) Lev Aleksandrovich Anninski (1934-): nhà phê bình văn học và điện ảnh Nga, tác giả bài nghiên cứu “Olga Berggoltz: “Tôi... người vợ goá của thành Leningrad” (tạp chí “Neva” số 6, 2005).

(2) Tuy nhiên, ở đây, tôi vẫn muốn nhắc đến một câu trong nguyên bản chỉ để thấu hiểu thêm số phận của một con người và, hơn thế, cả một mối tình. Dịch ý câu thơ ấy: “Bây giờ, anh có lý, ơi người đầu tiên, người đã xa mất dấu của em!” Ý thơ này nằm trong đoạn:
Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn
Em mới hiểu, bây giờ anh có lý
Dù chuyện xong rồi, Anh đã xa cách thế!
“Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo...”
(“Bài thơ cuộc đời”, 1940 - Bằng Việt dịch)
Xin nhấn mạnh: “Người đầu tiên, người đã xa mất dấu” (dịch sát nghĩa hơn là “mất tích”) - Olga muốn ngầm nhắc ý “mất tích”, không có tin tức gì về Kornilov thời gian từ sau ngày ông bị bắt.

(3) Sergei Kirov (1886-1934), lãnh tụ Xô-viết, giữ chức bí thư Thành uỷ Leningrad từ năm 1926. Từ đầu thập niên 30 thế kỷ trước, Kirov rất được ưa chuộng trong Đảng Cộng sản Liên Xô và vì thế, trở thành đối thủ của Stalin. Cái chết của ông vào đầu tháng 12-1934 (nhiều sử liệu cho thấy có thể Stalin đã tổ chức vụ ám sát này) được coi là sự kiện mở đầu của chiến dịch đại thanh trừng, đại khủng bố xảy ra ở Liên bang Xô-viết những năm sau đó.

(4) Ngày 5-1-1957, Boris Kornilov được phục hồi danh dự sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, sau khi bản báo cáo mật của Khrushchev về Stalin được công bố.

(5) Lấy từ tích truyện “Shi” (món xúp bắp cải chua) của văn hào Nga Ivan Turgenev (1818-1883), viết năm 1878. Đó là câu chuyện kể về nỗi đau của người mẹ trong ngày chôn cất đứa con trai độc nhất của mình. Khi đó, người nhà giàu ngạc nhiên thấy bà ngồi ăn món shi, và nói rằng: “Món shi hơi mặn” mà không hiểu rằng nó mặn vì đẫm nước mắt của người mẹ, không phải do muối.

(6) Ý trong bài thơ “Chẳng có gì trở lại…” (1947).

(7) Xuất bản năm 1965, tuyển các thi phẩm của Olga sáng tác trong giai đoạn 1937-1964.
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Nhà thơ “công dân” Olga Berggoltz, ngôi sao vụt bay lên từ đáy giếng

Nữ sĩ người Nga – Xô Viết Olga Fiodorovna Berggoltz (1910-1975) từ lâu đã không còn xa lạ với chúng ta qua những bản dịch mềm mại của nhà thơ Bằng Việt. Từ một số ít tác phẩm được chọn dịch ấy, đối với phần đông bạn đọc Việt Nam, Olga là một nhà thơ của tình yêu, của những rung động tinh tế và những dự cảm mong manh về sự mất mát trong tình yêu ở một người con gái:

Ở đây tôi cần ai khi xuôi ngược một mình?
Tôi có thể yêu ai? Ai làm tôi vui sướng?
“Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng” -
Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi!
(Mùa lá rụng – Bằng Việt dịch)

Kỳ thực, lần giở lại những trang hồi ký, những bài viết, những bức thư của Olga và về Olga, theo chân nhà thơ bắt đầu từ thời thơ ấu ngắn ngủi vô lo, qua tuổi trẻ nhiệt tình sôi nổi và cũng đầy thống khổ, đến ngày cuối cùng của cuộc đời, mới thấy được hết diện mạo văn chương của Olga Berggoltz trong nền văn học Nga Xô Viết. Đó là một nhà thơ luôn song hành với hiện thực cuộc sống của đất nước, chân thành và trung thực phản ánh hiện thực ấy, với một trái tim không bình lặng. Những nhà phê bình văn học Nga cùng thời thường nhắc đến cảm hứng công dân, những vần thơ công dân của bà. Chúng chiếm đến 90% gia tài văn học của nữ sĩ. Olga Berggoltz đã từng tuyên bố lý tưởng cầm bút của mình như sau:

“Nỗi buồn này tôi giấu nổi Người chăng
niềm vui sống cũng chẳng hề che đậy.
Lồng ngực nóng ngay buổi đầu xé toang ra bỏng cháy,
lời trần tình trung thực của Người đây!
….
Hiển hiện tự nhiên hơn tiếng thở tự cõi lòng
như máu trong tôi sục sôi rồi lắng lại,
thì khi ấy tôi đã là Người, hỡi Hồn Thời Đại,
qua trái tim này truyền tiếng nói đến hư không”

(Nỗi buồn này tôi giấu nổi Người chăng? – Thuỵ Anh dịch)

Lịch sử văn học và lịch sử đất nước đã cho thấy, Olga Berggoltz đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh mà bà đã tự đặt ra cho mình, với tư cách là một nhà thơ – người viết nên những dòng trần tình trung thực của Thời đại. Thế nhưng, cũng như Olga đã viết, những dòng trần tình ấy lại thấp thoáng nỗi buồn không giấu nổi, tuy người đọc phải thật tinh tường mới cảm nhận được.

Cách mạng tháng 10, lý tưởng của Lenin… sự khởi đầu sôi nổi


Olga Berggolz sinh năm 1910 tại Saint Peterburg (Petrograd) trong một gia đình trí thức. Thân phụ bà mấy chục năm là bác sĩ của một nhà máy, chữa bệnh cho công nhân, nhưng trước đó ông từng là bác sĩ phẫu thuật phục vụ trong quân đội, kinh qua chiến tranh chống Đức dưới đế chế Nga hoàng. Khi cách mạng tháng 10 nổ ra rồi qua thời nội chiến, gia đình Olga tiếp nhận cuộc sống mới, lý tưởng mới đầy hồ hởi. Sau này, Olga đã ghi lại cuộc sống lao động say mê của những người dân Xô Viết thời ấy thế này:

“… Thậm chí lũ chúng tôi còn cùng tưởng lại tuổi thơ xa vắng
Ôn lại thời nội chiến năm nao, lời hiệu triệu cứu đói năm nào
Rồi ánh điện đầu tiên từ Volkhov dâng trào
Rọi thẳng vào tuổi thanh xuân
Rọi vào ngôi trường yêu dấu

Tưởng lại ngày rời chiếc bàn học sinh thơ ấu
Bỏ lại cho các em, chúng tôi bước vào đời
Đến với hăng say lao động, trải trước mắt sáng ngời:
Tấm bản đồ khai hoang đất ông cha máu thịt
Lấp lánh ngọn lửa nhiều màu vui say nồng nhiệt

(Trích “lại một mình đơn độc lên đường” – 1952)*

Khi Lenin mất, bà nội của Olga đã thắp nến trong nhà để tưởng nhớ. Còn cô bé Olga 14 tuổi đã viết những vần thơ giản dị và xúc động, nói về nỗi buồn chung mà những người công nhân vùng quê nàng cảm nhận khi vị lãnh tụ Cách mạng tháng 10 qua đời: “Hình như tất cả các nhà máy/ Đều quỳ gối/ Chúng đã mồ côi/ Bởi Lenin đã mất/ Lenin thân yêu đã mất”.
Bài thơ đã được đăng trên báo của nhà máy, nơi cha Olga làm việc. Và Olga không ngờ rằng, với bài thơ đầu tiên này, cô đã bắt đầu con đường văn chương say mê và thống khổ.

Cô nàng Olia xinh đẹp mơ mộng đã tự cắt đuôi sam vàng rực của mình, choàng chiếc khăn hoa lên cho gọn gàng, hăm hở bước vào cuộc sống mới đầy sức trẻ và niềm tin.

Năm 1925, Olga tham gia bút nhóm “Kế tục”, nơi cô đã gặp mối tình đầu - nhà thơ Boris Kornilov. Không lâu sau, họ nên vợ nên chồng, có một con gái tên là Irina. Năm 1926, hai vợ chồng trẻ cùng theo học khoá nghiên cứu Lịch sử nghệ thuật. Olga được tuyển vào học ngành báo chí khoa Ngữ Văn trường Đại học Tổng hợp Leningrad. Olga được biết đến đầu tiên như một nhà văn nữ viết cho trẻ em. Những truyện ngắn và truyện vừa của nữ sĩ được nhà thơ thiếu nhi Samuel Marshak rất chú ý và ông đã từng có ý định đưa Olga vào đội ngũ kế cận mình. Chia tay với Kornilov năm 1930, nàng gặp Nikolai Molchanov (1909-1942), đi bước nữa cùng ông. Họ cũng có một con gái, bé Maia. Tràn đầy nhiệt tình cống hiến, hai vợ chồng lên đường đến Kavkaz, rồi Kazakhstan. Ở Alma- Alta, Olga được nhận làm phóng viên cho báo “Thảo nguyên Xô Viết”. Một năm sau họ lại quay trở về thành Len. Olga từng làm biên tập viên báo “Những trang sử Đoàn thanh niên cộng sản” của nhà máy Điện lực và báo “Văn nghệ Leningrad”. Olga viết rất nhiều về con người Xô Viết mới trong thời kỳ thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, qua các truyện ngắn trong tập “Đêm ở Tân thế giới” và những ghi chép, phóng sự, hồi ký mang đầy chất thời sự, phục vụ kịp thời cho công cuộc xây dựng đất nước.

Với thơ ca, trong số những bài thơ đầu tay non nớt viết năm 15, 16 tuổi, Olga đã khẳng định phong cách nghệ thuật của mình bằng bài thơ về cây sáo đá: “Tôi là chiếc sáo đá/ Tôi hát một bài ca/ Thật thà và giản dị/ Hãy đặt lên môi đi/ Nhè nhẹ thôi hãy thổi…”. Quả vậy, bài ca mà Olga hát cho mọi người, cho dù thời thế thay đổi, vẫn là bài ca của một chiếc sáo, một cây đàn trung thực, không màu mè làm điệu: “Bài ca của tôi bây giờ/ cung đàn trong sương mờ mịt,/nhưng nó chẳng dối lừa/không một ai trong các bạn” (Cung đàn trong sương – 1940)*

Cuốn thơ đầu tiên có cái tên rất giản dị “Thơ” của Olga ra đời năm 1934. Nhà văn Xô Viết Maksim Gorki đã ngay lập tức viết thư khen ngợi. Ông nhận xét rằng thơ của Olga không hề có tiểu xảo, không câu nệ kỹ thuật, không chơi chữ, không có sự “ồn ĩ lạnh lùng” của các nhà thơ trẻ cùng thời, cách viết chân thành khiến người đọc có thể tin vào con đường chân lý giản dị của người nghệ sĩ – đó là đất nước, công việc và tình yêu.


Hiện thực nghiệt ngã

Sự thăng hoa nghệ thuật của nữ sĩ trẻ bất thần bị gián đoạn bởi những sự kiện đau buồn. Tháng 3 năm 1937, trong làn sóng khủng bố văn nghệ sĩ dưới thời Stalin, nhà thơ Boris Kornilov bị bắt, bị khép vào tội phản cách mạng. Tháng 2-1938, anh bị xử hình. Tuy hai người đã chia tay từ sớm, nhưng giữa họ vẫn có mối liên hệ tinh thần không lời, khó lý giải. Đối với Olga, anh vẫn là một người bạn song hành với cuộc đời cô, người “không quên tôi dù trong vài khắc lẻ/ Không phản bội tôi dù cổ dao kề”…

Olga không được biết ngay tin dữ ấy mà chỉ có thể cảm thấy, cho dù luôn luôn không muốn tin vào linh cảm của mình. Và rồi, là vợ cũ của Kornilov, Olga cũng bị liên luỵ.. Ngày 13-12-1938, Olga bị kết án và rơi vào chốn ngục tù trong khi đang mang thai đứa con trai nhỏ, chịu đựng chuỗi ngày đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần cho đến khi được phục hồi danh dự vào tháng 7 năm 1939. Trước đó ít lâu, hai đứa con gái Irina và Maia đều lần lượt mang bệnh và qua đời. Trong tù, Olga đã sinh non và đứa bé chết. Còn nhớ, trong một bức thư gửi cho người bạn thân thiết - nhà ngôn ngữ học Georgi Makogonenko (1912-1986), về sau là người chồng thứ ba của bà, Olga viết: “Tôi chưa kể anh nghe, hai đứa con gái bé bỏng của tôi đã chết khổ sở thế nào. Irina cả tám tiếng đồng hồ trước khi tắt thở đã van xin tôi cứu lấy nó. Nó hiểu rằng mình đang hấp hối. ..Cả Maia cũng thế. Bé con lần đầu tiên biết gọi tôi là “mẹ” một ngày trước khi nó mất, lúc ấy cũng đã bắt đầu chạm đến cái chết. .. Và rồi, ở trong tù…”

Nhưng Olga vẫn không nguôi hy vọng có được một đứa con. Sau khi ra tù, Olga mang thai nhưng do ảnh hưởng của thời kỳ tù đày, bà lại mất đứa con trong bào thai này. Sau đó, Olga vĩnh viễn không còn được làm mẹ. Đọc kỹ những lá thư Olga trao đổi với Makogonenko (bà là người thích viết thư, và coi thư từ là một thể loại văn học quan trọng, cũng như hồi ký và ghi chép), khi hai người đã về ở với nhau, có một đoạn khiến người đọc không khỏi trào nước mắt. Đó là lá thư bà kể về những ngày ngắn ngủi bà cùng một số văn nghệ sĩ rời Leningrad về Matxcơva báo cáo tình hình chiến sự (tháng 3-1942). Olga vui sướng đón nhận những triệu chứng thai nghén, ở tuổi 32. Bà khoe lời chúc mừng của nhà văn Sholokhov: “mừng sức khoẻ của người phụ nữ sẽ sinh con trong chiến trận”. Nhưng, trớ trêu thay, đó chỉ là tín hiệu giả về một sự sống mới tượng hình bên trong người phụ nữ, là triệu chứng phù nề sau những tháng ngày đói và rét ở thành Len bị phong toả. Olga đã kêu lên đầy thất vọng: “Em đã mong chờ bé con biết bao, đã không giấu giếm ai điều đó, đã vui sướng vì sắp có nó, đã hãnh diện về nó…”

Số phận quả đã rất cay nghiệt đối với người đàn bà bé nhỏ xinh đẹp này. Năm 1938 trong ký ức nhà thơ kéo dài dằng dặc hơn cả một đời người. Khổ hơn, là những đau đớn, tủi hổ, hoang mang của thời kỳ ấy, Olga không thể chia sẻ cùng ai. Những bài thơ bà viết trong tù, rất nhiều bài bà lưu lại cho riêng mình. Người đọc chỉ hiểu hết những gì nhà thơ trải qua rất lâu sau khi bà qua đời, khi em gái bà, Maria Berggoltz, đã tập hợp và công bố toàn bộ di cảo của Olga. Trong bài thơ “Năm 1938”, bà ví năm ấy như “con đường xuyên qua hoang mạc” mà bà sẽ chẳng kể cho ai nghe, tự cho rằng nó như định mệnh tất yếu:
“Không, tôi chẳng chia bôi,
Không đổi chác
Cái năm cực nhục tất yếu phải trải qua
Và có ai tự biết được điều này
Thì trong lặng im hồn tôi
Hẳn sẽ đọc được thôi
Tất cả.“*

Im lặng. Nhưng vết khắc khủng khiếp của số phận mà năm 1938 đã để lại tâm hồn Olga có lẽ không bao giờ phai mờ. Bà chỉ gắng nhìn nhận nó một cách biện chứng, để không làm mất đi nét hồn hậu vốn có trong tâm hồn mình.
Nhà nghiên cứu nghệ thuật Nga I.D. Glikman hồi tưởng lại một lần cùng Olga đi lên Matxcơva bằng tàu hoả. Đêm ấy, họ uống một chút rượu và Olga ngủ mê mệt. Khi tàu đến nơi, người bạn đường không thể đánh thức nổi bà. Bấy giờ, trưởng tàu thấy các hành khách khác đã xuống hết, bèn bước vào khoang, và quát to: “Dậy!”. Tức thì, Olga bật dậy, đứng nghiêm. Một vài thứ đồ trang sức rơi xuống. Bà cúi xuống nhặt vội vàng và lại trở về vị trí, cổ vươn dài, hai tay để dọc thân mình, căng thẳng, trong lúc tinh thần vẫn mơ màng chưa tỉnh hẳn. Trong vô thức, bà đã hành động như khi ở trong tù, những ngày đã xa….

Hiểu biết về quãng đời này của Olga Berggoltz, ta càng thấm thía cảm thức “công dân” trong tác phẩm sau này của bà. Cảm thức ấy là điểm tựa để bà vượt lên trên mọi đau khổ cá nhân mà lao động và chiến đấu cùng nhân dân, lao vào cuộc sống gian khó không một lời oán thán. Với đất nước mình, bà vẫn giữ trọn niềm yêu, bởi “Tôi hiểu người chẳng ác độc cùng ai/ Chỉ ấu trĩ thôi những tháng năm dài…” (Ghi chép trong tù). Cũng vì thế, người đọc có thể tận hiểu bài thơ Olga viết cho Tổ Quốc khi cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại đang đến gần, tận hiểu để mà cảm động sâu sắc trước tấm tình của một công dân dành cho đất nước:
“…
Không, Tổ Quốc ơi, dù ký ức đau thương chưa bao giờ dịu vợi
Dù đã chết đi hay oan trái tù đày
Theo tiếng gọi của Người tôi vẫn đội mồ đứng dậy
Không phải chỉ mình tôi, ai cũng dậy mà đi…

Tôi yêu Người không tính toán điều chi
Tình mới mẻ, đắng cay, độ lượng
Ôi Tổ Quốc đẹp xinh trong tâm tưởng
Với tràng hoa mận dại trên đầu
và cầu vồng tối thẫm phía trời cao

Giờ đã điểm.
Giờ khắc này còn có nghĩa gì sao –
Chỉ có tôi và Người hiểu hết
Tôi yêu Người – Không thể khác hơn, tôi biết:
Tôi và Người vẫn là một như xưa”
(Với Tổ Quốc – 6-1941)*

Nàng thơ của thành phố bị phong toả

Tháng 6 năm 1941, chiến tranh đã chạm tới đất nước Xô Viết.

V.K. Ketlinskaja, nữ văn sĩ đã từng là chủ nhiệm chi nhánh Hội nhà văn ở Leningrad năm 1941 đã hồi tưởng lại: Những ngày đầu chiến tranh bùng nổ, Olga Berggolz, khi ấy mọi người gọi nàng là Olenka đầy âu yếm, đã đến gặp bà trong dáng vẻ của một cô gái còn rất trẻ, trong sáng với đôi mắt đầy tin cậy, “một sự kết hợp giữa vẻ nữ tính yêu kiều với vẻ phóng khoáng hào sảng, giữa cái sắc sảo với sự non nớt ngây thơ trẻ nhỏ” – cô gái lúc này rất xúc động và nghiêm trang. Cô hỏi xem mình có thể đóng góp được gì. Ketlinskaja đã điều cô vào làm việc tại tổ biên tập Văn học sân khấu của Đài phát thanh Leningrad.

Ngày ấy, người Leningrad nhận biết được mình còn sống nhờ những chương trình phát thanh trên sóng radio. Không có nhạc, chỉ có tiếng đì đùng từ phía quân Đức. Chủ yếu người ta thông báo tin chiến sự và … đọc thơ! Chẳng bao lâu sau, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng rành rọt và chân tình của Olga Berggoltz đã trở thành giọng nói của một người bạn thân thiết mong đợi trong những ngôi nhà lạnh lẽo và tăm tối của thành Len giữa vòng phong toả, giọng nói ấy đã trở thành tiếng nói của chính Leningrad, đã nâng được những con người kiệt sức đứng lên từ hoang tàn đổ nát và cầm cự với giặc trong 900 ngày đêm nóng bỏng, trong nạn đói và cả dịch bệnh ốm đau. Đó là tiếng nói của sự sống vẫn tồn tại mạnh mẽ và dâng trào đâu đó, dưới lớp băng tuyết, trong những cành cây xám, từ bên ngoài, nơi đồng bào họ đang dõi về thành Len. Các bạn văn cùng thời với Olga Berggoltz còn kể cho nhau nghe một giai thoại thế này: Lần ấy, Olga trên đường đi bị vấp ngã vào đống tuyết, đổ ập lên xác một người đã chết cóng. Sợ hãi cùng cực, Olga không đứng dậy nổi, nhà thơ cũng bắt đầu lạnh cứng. Đúng lúc ấy, trên loa phóng thanh vọng ra một giọng nói. Giọng nói đã truyền sức mạnh cho người đang sợ hãi. Olga đứng dậy được và đi. Giọng nói ấy là giọng đọc của chính Olga, đọc một bài thơ mới làm. Chương trình được người ta phát lại!
Chính những ngày tháng khốc liệt này đã đem tới cho Olga hạnh phúc. Nàng lấy lại được niềm tin đã mất, được nhận cả vòng nguyệt quế vinh quang. Trong lao động không ngừng và trải qua thử thách vật chất, Olga được nhận được sự thăng hoa lớn về tinh thần. Nữ sĩ sau này đã nhớ lại thời gian đó: “Lúc ấy tôi hiểu ra rằng thời khắc của mình đã đến, rằng chỉ lúc này tôi có thể dâng hiến cho Tổ Quốc tất cả những gì mình có: lao động miệt mài và những vần thơ”. Nàng viết: “Chưa bao giờ tôi sống hăng say/ Như những ngày mùa Thu năm ấy/ Chưa bao giờ từng trẻ xinh như vậy/ Chưa từng yêu say đắm thế trên đời…”(Trích những ghi chép năm Bốn mốt)*.

Olga viết nhiều và viết nhanh. Từ những lá thư nhận được, từ những thông tin về sự bất khuất của mỗi người dân Leningrad, Olga nhanh chóng chuyển chúng thành thơ để kể với mọi người. Cũng thời kỳ này, hình thành một phong cách sáng tác đặc thù cho Olga Berggoltz – Rất nhiều bài thơ như lá thư “gửi” một người, như cuộc “trò chuyện” với một nhân vật cụ thể, có một số phận cụ thể (Gửi người em gái, Gửi cô gái Leningrad, Trò chuyện với bà hàng xóm…) Thơ để đọc cho muôn người, nhưng lại có sức lay động sâu xa vì được viết như lời tâm tình gan ruột giữa người và người, qua nỗi đau có thật của chính mình. Nỗi đau và mất mát chỉ khiến cho những con người gần gụi nhau hơn về tinh thần, nâng đỡ lẫn nhau, khiến dự cảm về những điều tươi sáng, tốt đẹp vẫn lớn hơn tất cả.

Olga đã chia sẻ đau thương cùng thành Len bằng chính sự mất mát người thân yêu của mình. Đầu năm 1942, khi nạn đói hoành hành đến cực điểm trong thành Len, Nikolai Molchanov, người bạn đời mà bà yêu quý, tôn thờ, hàm ơn… đã qua đời. Olga, từng kiên gan chịu đựng đói, khổ, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần trong những ngày đêm Leningrad bị bao vây, bấy giờ đã “khóc một lần cho cả 900 ngày đêm ấy”. Để đứng vững được, Olga đã miệt mài viết trường ca “Nhật ký tháng Hai”, vẽ nên toàn cảnh thành Len qua chưa đầy một năm chịu đựng. Những toà nhà đổ nát, những đường ray tàu điện bị đạn cày xới, những đống tuyết xám vun cao… Và những người sống kéo người chết trên những chiếc xe cút kít, băng qua thành phố đến những nghĩa trang buồn bã… Bằng những dòng thơ này, nhà thơ an ủi những người vợ goá của thành Len, trong đó có chính bản thân mình. Olga vẫn trung thành với cách viết không “ồn ĩ lạnh lùng”. Viết như kể chuyện, như tâm tình, giản dị, từ gọi từ, dòng gọi dòng:
“Một ngày bình thường như bao ngày khác
Cô bạn đến gặp tôi, chẳng khóc
Chỉ kể rằng vừa đó hôm qua
Đã tiễn đưa người bạn đời duy nhất đi xa
Và cả đêm hai chúng tôi cùng ngồi im lặng

Còn tìm được lời gì để nói nữa chăng
Bởi tôi cũng là người vợ goá của thành Leningrad

Chúng tôi ăn hết bánh mì dành dụm cho ngày
Ủ hơi nhau trong khăn choàng ấm
Thành Len bỗng lặng đi chiều về chầm chậm
Có người nào gõ nhịp mãi bên tai


Chân đã lạnh đi, ngọn nến mệt nhoài
Quanh quầng sáng đang hắt ra leo lét
vòng nguyệt cầu dịu hiền tha thiết
Từa tựa như một áng cầu vồng

Khi trời hửng lên một chút hừng đông
Chúng tôi cùng đi kiếm bánh mì và nước uống
Bỗng nghe thấy ầm ầm tiếng súng
Đại bác trầm hùng, đều đặn, đớn đau
Là tiếng quân đội ta phá vỡ tuyến đầu
Vòng phong toả… Và bắn vào lũ giặc”
(Trích “Nhật ký tháng hai” 2- 1942)*

Về cuộc tấn công chọc thủng vòng vây phong toả Leningrad của quân đội Xô Viết, Olga kể trong thư gửi em gái ngày 24 tháng 1 năm 1943:
“Chị cũng là một trong những người phải phát biểu đầu tiên. Chị nhắc lại rằng mặc dù đêm trước bọn chị cũng đã phong thanh biết tin nhưng khi nghe tiếng súng đại bác của ta thì mới hiểu tiếng súng ấy có nghĩa gì – Tin đó khiến chị vẫn bàng hoàng sung sướng. Mọi người bảo chị làm thơ, nhưng chẳng ghép nổi vần vèo gì cả…. Chị đã viết những gì đang kêu gào lên trong lòng này, cùng với những hồi tưởng của chị về anh Kolia (chồng thứ 2 của Olga – ND), chị đã trích hai đoạn từ ‘Nhật ký tháng Hai’ và dường như là ổn. Khi ngồi trước micro, chị run ghê lắm, và rồi bỗng tim đập thình thịch mạnh đến nỗi chị nghĩ nếu chị không đọc hết thì sẽ chết mất. Thật đấy. ..Chị thấy hơi ngại khi viết cho em về điều này nhưng mà đó là sự thực , mà lại là sự thực mà chị không ngờ tới: hôm sau ai cũng nói về lời phát biểu của chị (“cô ấy đã nói ra những gì chúng ta đang nghĩ và nói xúc động như cảm xúc của chúng ta vậy”) – và cho đến tận bây giờ chị vẫn liên tục nhận được thư từ bày tỏ tình cảm đối với bài phát biểu đó bằng cả văn xuôi lẫn thơ. Một số người viết như thế này: Ngay sau khi biết tin chiến thắng, chúng tôi đã chờ được nghe chị nói – và chúng tôi đã không nhầm: chúng tôi đã được nghe giọng nói thân thương quen thuộc vô cùng của chị, và chị đã nói lên cái điều đang cháy bỏng trong tim tất cả chúng tôi.

Em biết không, đồng chí chỉ huy khi chuẩn bị cho cuộc tấn công giải cứu Leningrad, họ phải nổ súng từ rạng sáng và đồng chí ấy thảo lời nói với đồng bào trước khi bắt đầu trận chiến – đó lại là những vần thơ của chị. Ta cũng có thể tự hào về điều đó lắm chứ, phải không em? Chị nghĩ chị không phải là đứa tự kiêu tự mãn dù chị rất tự hào, nhưng chị cũng không biết phải làm gì cho họ - những người lính tuyệt vời đầy tri ân đang bước vào trận chiến với những vần thơ trên môi.”

Đọc lá thư này của Olga, ta hiểu tại sao cái tên bình dị của người con gái Nga này đã từng có trong sổ đen của phát xít Đức – là một trong những người đầu tiên sẽ bị xử bắn nếu chúng chiếm được thành phố.
Sau này, những kỷ niệm gắn liền với những chương trình phát sóng radio thời ấy đều được Olga đưa vào cuốn sách “Tiếng nói Leningrad” của mình “Tôi nói cùng người từ Leningrad – Hỡi Tổ quốc của tôi, Tổ quốc muộn phiền…”. Ngoài ra, Olga còn viết “Trường ca Leningrad”, những vở kịch, kịch bản phim, những trang bút ký về Leningrad đăng tải nhiều kỳ trên tờ “Tin tức” (Izvestia)… Đó là tư liệu vô giá, sống động và chân thực về Leningrad trong vòng phong toả.

Olga được tặng thưởng Huân chương Lên nin, Huân chương Lao động cờ đỏ và nhiều huy chương. Song, tấm huân chương rực rỡ và lâu bền nhất mà Định mệnh đã trao tặng cho “Nàng Thơ” lại nằm trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Leningrad, những người thuộc và yêu thơ của nàng, nằm trong cả từng tấc đất, phiến đá của thành Len, nơi có dấu ấn nàng để lại. Nếu bạn từng đến thăm thành phố Saint Peterburg, từng đến nghiêng mình trước bức phù điêu có hình người Mẹ - Tổ quốc ở Nghĩa trang Piskarriov, nơi yên nghỉ gần nửa triệu quân dân thành phố Leningrad đã hy sinh trong vòng phong toả, hẳn bạn sẽ đọc được những dòng tưởng niệm sau:

Nơi đây yên nghỉ những người con Leningrad
Nơi đây yên nghỉ những người dân thành phố - đàn ông, đàn bà, con trẻ
Bên cạnh họ là những người lính Hồng quân cận vệ
Bằng cả cuộc đời mình Họ bảo vệ Người, hỡi Leningrad,
Cái nôi của Cách mạng
Ta không thể kể hết ra đây tên tuổi Họ vẻ vang
Bởi Họ biết bao người nằm dưới phiến đá kia ngàn đời ôm ấp
Nhưng hãy lắng nghe những tảng đá kể chuyện đời cao thấp:
Không ai bị lãng quên và không điều gì bị quên lãng *

“Không điều gì, không ai bị quên lãng”, vì bằng thơ, Olga đã lưu giữ lại tất cả. Cả niềm tự hào chiến thắng, lẫn những nỗi đau mà nhân dân đã trải qua. Nhà thơ Xô-Viết Evgheni Evtushenko đã hoàn toàn có lý khi viết: “Chiến Thắng mang gương mặt khổ đau cùng cực/ Của Olga Fiodorovna Berggoltz”!


Vẫn còn đó tình yêu, nỗi buồn và những hoang mang

Như đã thấy, Olga Berggoltz không phải là tác gia chuyên viết về tình yêu. Bà là nhà thơ “công dân”, lấy mục đích bám sát hiện thực cuộc sống của đất nước làm cái đích của thơ ca. Thế nhưng, trong tất cả các thi phẩm của bà, kể cả những vần thơ công dân, những bài thơ viết về chiến tranh, những trường ca lấy đề tài là công cuộc xây dựng xã hội của nhân dân Xô- Viết, thì vẫn thấp thoáng hình ảnh của một mối tình sâu bền giữa một đôi trai gái. Chính điều này khiến những bài thơ công dân của bà đậm chất nhân bản, không biến thành lời hô khẩu hiệu suông ngay cả khi… bà hô khẩu hiệu:
… Xuyên suốt tháng năm dài trong tôi vẫn sáng
Vĩnh viễn sáng ngời qua hạnh phúc, đau thương
Là mùa Xuân năm bốn mươi hai – xuân ấy khác thường
Trong thành phố bốn bề phong toả

Cánh én nhỏ nhoi trên lồng ngực tôi buốt giá
Làm bằng miếng sắt tây… tôi tự gắn cho mình
Đây dấu hiệu riêng của tin tức tốt lành
Và có nghĩa “Em chờ thư anh đấy” …
…Có bao nhiêu lá thư đã ghi tên
Tên của tôi, đến với tôi từ bấy
Vì đâu lòng tôi luôn cảm thấy
Đến tận giờ chưa nhận được lá thư yêu?

Để lương tâm được chạm tới mọi điều
Tới cuộc sống bừng lên sau câu chữ
Tới sự thật chảy từng dòng tư lự
Như giữa trưa hè ghé miệng mạch nguồn trong

Ai đã không viết, không gửi đi lá thư tôi mỏi mòn trông?
Kẻ mang tên Hạnh phúc? Khổ đau? Hay Chiến Thắng?
Hay chính là người bạn tôi không tìm ra trong xa vắng
Mãi mãi tôi chẳng nhận ra người? …
(Cánh én trong vòng vây – 1945)*

Những vần thơ sau chiến tranh của Olga có cả tình yêu, cả nỗi buồn và những hoang mang. Một lần tôi được nghe các em học sinh một trường phổ thông ở Nga, khi học đến tác phẩm ba bài thơ về thời kỳ xây dựng thuỷ điện ở sông Đông, sông Volga, đã nhận xét: “Sao thế nhỉ? Rõ ràng là viết về lao động vĩ đại của con người, làm chủ thiên nhiên, mà sao đọc cứ thấy buồn…”. Nỗi buồn ấy là nỗi buồn “sau chiến tranh”, với những vết thương chưa lành, những mất mát vẫn còn đeo đuổi, với sự gồng mình lên để tiếp tục cuộc sống mới, cuộc sống hoà bình nhưng đôi khi còn xa lạ, khó quen với những con người vừa trải qua bom đạn, hy sinh. Điều này cũng là một cảm nhận của Olga, khi nhà thơ đi thực tế rất nhiều nơi, cùng sống và làm việc với nhân dân mình. Trong nhật ký từ tháng 5 đến tháng 10-1049, bà viết: “Cậu lái máy kéo Sukhov cứ hay than thở với bạn là thấy buồn bã trong lòng, đầu óc cũng làm sao ấy, rằng “không thể sống được, như đánh mất bản thân”… Sau này biết ra, hình như cậu ấy cũng có vấn đề gì đó trong cuộc sống, vợ chồng cự nhau suốt… Chị Zemskova thì hôm qua lại than: “Sau chiến tranh tôi thấy sống khó quá. Vì lão chồng. Đàn ông quen với chiến tranh, mất thói quen với nhà cửa gia đình rồi…”

Những vần thơ vì thế, đầy ắp nỗi niềm rất riêng tư, nỗi hoang mang lo lắng về tương lai:
Lại một mình đơn độc lên đường
Đường mong ước mà lắc lơ, bất trắc
Niềm phóng khoáng, nỗi âu lo cùng đốt tim bỏng rát
Đứng bậc cửa toa tàu, nỗi ớn lạnh rít qua tai

Dường như tôi đang tìm đến tuổi xuân ở cuối chặng đường dài
Nơi nào nhỉ? Bao giờ? Liệu tôi có nhận ra người khi gặp mặt?
Buổi chiều ấy có xanh biếc lên khao khát?
Ngôi sao mai có hiền dịu như xưa?
(Lại một mình đơn độc lên đường – 1952)*

Hoặc thấm thía “nỗi buồn chiến tranh”, để rồi sống khác đi với cuộc đời mới, những quan tâm mới:
Nơi cửa sông, khắp vùng đất cháy
thoảng mùi hương hoa ngải đắng ngắt lòng
Có mùi hương nào xa vắng thế này không
như điềm báo tai ương,
và chỉ còn lại tình yêu bên tôi như người lính canh áp giải…

…Tôi mải mê hít căng mùi hương sâu lắng
ngải đắng đây, đắng ngắt tình đời
Nỗi đau của loài người giản đơn vô hạn
đã trở thành niềm cay cực của riêng tôi

Từ những cửa đập bê tông vẫn thoảng đưa về mùi hoa ngải
mùi hương yêu bất tử bay đến tận nhà tôi
Thử hỏi làm sao tôi có thể chẳng cất lời
trở về sau đắng cay nói lời yêu khác trước?
(Những lá thư viết trên đường – 1952, 1960)*
Hay thậm chí, cả những phẫn nộ của một công dân trung thực, lên tiếng trước sự chuyên quyền của thời Stalin:
Cả ngày trong cuộc họp tôi ngồi
Rồi biểu quyết, rồi nói điều giả dối
Lời hổ thẹn sao chưa làm tôi chết nổi?
Nỗi chán chường không khiến bạc đầu thêm?

Ai đó được tung hô sau khốc liệt chiến trường
Số còn lại đã nằm đây lặng thầm mãi mãi
Máu đổ xuống đất lành không mưu toan lời lãi
Có hay đâu để chuộc mọi lỗi lầm
Chưa bao giờ phạm phải với lương tâm!
(Cả ngày trong cuộc họp tôi ngồi… - 1948, 1949)

… Rõ ràng, các tác phẩm của Olga Berggoltz, dù trong chiến tranh hay khi cuộc sống đã trở về bình lặng, vẫn mãi là “hồn Thời đại – qua trái tim này truyền tiếng nói đến hư không” như bà đã viết!

Luôn luôn là một công dân yêu nước, bà vượt qua nỗi niềm riêng để lớn lên cùng đất nước, đồng hành cùng dân tộc. Chính vì thế, tôi những muốn dùng hình ảnh “ngôi sao ban ngày” trong tác phẩm văn xuôi tự sự trữ tình của bà “Những ngôi sao ban ngày” (1959) để nói về bà, nữ sĩ xinh đẹp của nước Nga. Bà như ngôi sao xuất hiện dưới đáy giếng, vượt mọi khổ ải, để bay lên.

Thuỵ Anh, 22-10-2009

* Những vần thơ được trích trong bài do Thuỵ Anh dịch.

Tư liệu tham khảo:
1. Olga Berggoltz, ba tập. Leningrad; NXB “Văn học nghệ thuật”, 1988
2. Những ngôi sao ban ngày. Olga Berggoltz. NXB “Nhà văn Xô Viết”, 1959
3. Tiếng nói Leningrad. Olga Berggoltz. NXB Lenizdat, 1946
4. Nhớ Olga Berggoltz. Nhiều tác giả. NXB Lenizdat, 1979
5. Gặp gỡ - thơ, hồi ký, ghi chép của Olga Berggoltz. NXB Sách Nga, 2000

Bài đã đăng tạp chí Văn nghệ quân đội, số đầu tháng 11-2009
"Xin anh đừng hỏi vì sao
Tên anh em để lẫn vào trong thơ..."
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook