Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Từ phẩm
Thời kỳ:
10 bài trả lời: 7 bản dịch, 3 thảo luận
2 người thích
Từ khoá: sứ Trung Quốc (90) sứ nhà Tống (1) Lý Giác (1) Nguyễn lang quy (6)

Đăng bởi Vanachi vào 26/05/2006 16:32, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 13/06/2019 23:09

玉郎歸

祥光風好錦帆張,
神僊復帝鄉。
千重萬里涉滄浪,
九天歸路長。
人情慘切對離觴,
攀戀星星郎。
願將深意為邊疆,
分明報我皇。

 

Ngọc lang quy

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,
Thần tiên phục đế hương.
Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang (lãng),
Cửu thiên quy lộ trường.
Nhân tình thảm thiết đối ly trường!
Phan luyến tinh tinh lang.
Nguyện tương thâm ý vị biên cương,
Phân minh báo ngã hoàng.

 

Dịch nghĩa

Trời đẹp, gió thuận, giương cánh buồm gấm
Bậc thần tiên trở lại chốn đế đô
Nghìn trùng muôn dặm vượt qua sóng biếc
Đường về nơi cung thất xa xôi
Lòng người bịn rịn trước chén rượu biệt ly
Lưu luyến vin xe sứ giả
Mong đem ý nghĩa sâu xa về chuyện cương giới
Tâu lại rành mạch với hoàng đế chúng ta


Theo sử liệu thì bài từ này được sáng tác theo lệnh của vua Lê Ðại Hành trong dịp tiễn sứ thần nhà Tống là Lý Giác về nước năm 987. Bài này có một số dị bản, nhưng trong các văn bản còn lại tới nay chỉ Thiền uyển tập anh có tiêu đề, trong đó bản đời Lê là Ngọc lang quy, bản đời Nguyễn là Vương lang quy (có thể do chép chữ “ngọc” thành chữ “vương”). Nội dung của bài khá tương đồng với từ điệu Nguyễn lang quy.

Ở trên là bản được chép trong Thiền uyển tập anh (tờ 9a). Một số dị bản:
- Ðại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, q. I, tờ 18b):
祥光風好錦帆張
遙望神僊復帝鄉
萬重山水涉滄浪
九天歸路長
情慘切
對離觴
攀戀使星郎
願將深意為邊疆
分明奏我皇

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,
Dao vọng thần tiên phục đế hương.
Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lang (lãng),
Cửu thiên quy lộ trường.
Tình thảm thiết
Ðối ly trường!
Phan luyến sứ tinh lang.
Nguyện tương thâm ý vị biên cương,
Phân minh tấu ngã hoàng.
- Việt sử tiêu án (tờ 70a):
祥[?]風好錦帆張
遙望神仙復帝鄉
萬重山水涉滄浪
九天歸路長
情慘切
對離觴
攀戀使星郎
願將深意為邊方
分明奏我皇

Tường [?] phong hảo cẩm phàm trương,
Dao vọng thần tiên phục đế hương.
Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lang (lãng),
Cửu thiên quy lộ trường.
Tình thảm thiết
Ðối ly trường!
Phan luyến sứ tinh lang.
Nguyện tương thâm ý vị biên phương,
Phân minh tấu ngã hoàng.
- Lịch triều hiến chương loại chí (tr. 151, mục Bang giao chí, q. 48, Khoản tiếp chi nghi):
祥光風好錦帆張
遙望神仙復帝鄉
萬重山水泛滄浪
九天歸路長
情慘切
對離觴
攀戀使星郎
願將深意歸邊疆
分明奏我皇

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,
Dao vọng thần tiên phục đế hương.
Vạn trùng sơn thuỷ phiếm thương lang (lãng),
Cửu thiên quy lộ trường.
Tình thảm thiết
Ðối ly trường!
Phan luyến sứ tinh lang.
Nguyện tương thâm ý quy biên cương,
Phân minh tấu ngã hoàng.
Nguồn:
1. Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học Xã hội, 1977
2. Tạp chí Hán Nôm, số 5(72), 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Trời quang, gió thuận, cánh buồm giương
Dõi theo sứ thần về cố hương
Ngàn trùng non nước vượt đại dương
Xa xôi hút dặm trường
Tình thắm thiết, xin nâng chén rượu lên đường
Cầm tay nhau, lòng vấn vương...
Nhờ đem ý nguyện người biên cương
Bày tỏ với thượng hoàng.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Thanh Mại

Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương,
Ngóng vị thần tiên lại đế hương.
Non nước nghìn trùng vượt đại dương,
Trời xa bao dặm trường!
Tình thảm thiết,
Chén đưa đường.
Vin xe sứ giả vấn vương!
Dám xin tâu rõ cùng thánh thượng:
Lưu ý chốn biên cương.


Nguồn:
1. Giai thoại văn học Việt Nam, Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch biên soạn, in lần thứ 2, NXB Văn học, 1988
2. Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học Xã hội, 1977
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Duy Tân

Gió xuân đầm ấm cánh buồn giương,
Xa ngóng thần tiên lại đế hương.
Muôn dặm sóng xanh vượt trùng dương,
Trời xa về đường trường!
Tình thảm thiết,
Chén đưa đường,
Vin xe sứ giả vấn vương
Xin đem thân ý vì Nam cương
Tâu rõ cùng thánh hoàng.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 5(72), 2005
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về bài từ “Ngọc lang quy” của Khuông Việt (Nguyễn Đình Phức)

Sách Thiền uyển tập anh ngữ lục, mục Khuông Việt Đại sư truyện chép: “(Thiên Phúc) thất niên, Tống nhân Nguyễn Giác lai sính, thời Pháp sư Đỗ Thuận diệc hữu thạnh danh, Đế mệnh biến phục vi giang lệnh, nghinh ư Giang Khúc. Giác kiến kỳ thiện ư văn đàm, dĩ thi tặng chi, hữu “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” chi cú. Đế dĩ thị sư, đối viết: ‘Thử tôn Bệ hạ dữ kỳ chủ bất dị’. Giác hoàn, sư tác từ viết Ngọc lang quy tống chi, kỳ từ vân: ‘Tường quang phong hảo cẩm phàm trương, thần tiên phục đế hương. Thiên trùng vạn lý thiệp thương lương, cửu thiên quy lộ trường. Nhân tình thảm thiết, đối ly thương. Phan luyến tinh tinh lang, nguyện tương thâm ý vị nam cương, phân minh báo ngã hoàng’ ”.

Dịch nghĩa:

Đời Lê, năm Thiên Phúc thứ 7 (968), Nguyễn Giác sang sứ nước ta. Thời ấy pháp sư Đỗ Thuận nổi tiếng văn chương, vua (chỉ Lê Đại Hành) bèn sai Thuận mặc thường phục, giả làm người chèo đò, đón Giác ở Khúc Giang. Giác thấy Thuận giỏi văn chương, bèn làm thơ tặng, trong thơ có câu “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu”. Vua đem thơ ấy hỏi Khuông Việt, Khuông Việt nói: ‘Bài thơ này có ý tôn Bệ hạ như chúa của nó vậy’. Khi Giác về nước, Khuông Việt làm bài từ Ngọc lang quy để tiễn. Bài từ như sau:

“Gió xuân đầm ấm gấm buồm gương, thần tiên về đế hương.
Non nước nghìn trùng vượt đại dương, trời xa bao dặm trường.
Tình thảm thiết, chén bi thương.
Vin xe sứ vấn vương, dám xin tâu rõ cùng Thánh thượng, lưu ý chốn biên cương”.

Cùng sự kiện trên, Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư, quyển I, phần Lê kỷ chép: “(Thiên Phúc), Đinh Hợi bát niên, Tống Ung Hy tứ niên xuân,... Tống phục khiển Lý Giác lai. Chí Khúc Giang tự, Đế khiển pháp sư danh Thuận, giả vi giang lệnh, nghinh chi. Giác thậm thiện văn đàm, thời hội hữu lưỡng nga phù thuỷ diện trung, Giác hỷ ngâm vân: Nga nga lưỡng nga nga, ngưỡng diện hướng thiên nha’. Pháp sư ư bả trạo, thứ vận thị chi viết: ‘Bạch mao phô lục thuỷ, hồng trạo bãi thanh ba’. Giác ích kỳ chi. Cập quy quán, dĩ thi dị chi viết: ‘Hạnh ngộ minh thời tán thịnh du, nhất thân nhị độ sứ Giao Châu. Đông Đô lưỡng biệt tâm vưu luyến, Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu. Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch, xa từ thanh chướng phiếm trường lưu. Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu, khê đàm ba tĩnh kiến thiềm thu’. Thuận dĩ thi hiến, Đế triệu tăng Ngô Khuông Việt quan chi. Khuông Việt viết: ‘Thử thi tôn Bệ hạ dữ kỳ chủ vô dị’. Đế gia kỳ ý, hậu dị chi. Giác từ quy, chiếu Khuông Việt chế khúc dĩ tiễn, kỳ từ viết: "Tường quang phong hảo cẩm phàm trương, diêu vọng thần tiên phục đế hương. Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lương, cửu thiên phục lộ trường. Tình thảm thiết, đối ly thương. Phan luyến sứ tinh lang, nguyện tượng thâm ý vị biên cương, phân minh tấu ngã hoàng".

Dịch nghĩa:

Năm Đinh Hợi Thiên Phúc thứ 8 (987), Tống lại sai Lý Giác sang sứ. Giác tới chùa Khúc Giang, vua sai pháp sư tên Thuận, giả làm người chèo đò nghênh đón. Giác vốn giỏi văn chương, vừa khi có hai con ngỗng bơi trên mặt nước, bèn ngâm vui: ‘Ngỗng kia đôi con ngỗng, ngửng mặt ngó ven trời’. Pháp sư đang cầm chèo, cũng tiếp vận đọc: ‘Lông trắng phô nước biếc, chèo hồng rẽ sóng bơi’. Giác càng lấy làm lạ. Đến khi về đến sứ quán, Giác làm thơ tặng Thuận, thơ rằng:

May gặp thái bình giúp trí mưu,
Một thân hai lượt sứ Giao Châu.
Đông Đô lưỡng biệt se lòng khách,
Nam Việt nghìn trùng mỏi mắt nhau.
Ngựa đạp khói mây băng đá hiểm,
Xe bon rừng biếc vượt dòng dâu.
Ngoài trời lại có trời nên chiếu,
Sóng lặng khe đầm rọi mảnh thâu.

Thuận đem bài thơ dâng lên vua. Vua triệu Khuông Việt đến hỏi. Khuông Việt nói: ‘Bài thơ này có ý tôn Bệ hạ như chúa của nó vậy’. Vua khen ý ấy, tặng thưởng trọng hậu. Đến khi Giác về nước, vua xuống chiếu cho Khuông Việt viết một bài khúc để tiễn đưa. Bài khúc thế này:

Gió xuân đầm ấm gấm buồm giương, xa ngóng thần tiên về đế hương.
Non nước nghìn trùng vượt đại dương, trời xa bao dặm trường!
Tình thảm thiết, chén bi thương.
Vin xe sứ giả lòng vấn vương, dám xin tâu rõ cùng Thánh thượng, lưu ý chốn biên cương.

Ngoài hai tài liệu trên, Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án cũng chép sự việc trên, nhưng về cơ bản thống nhất với Đại Việt sử ký toàn thư. Ở đây bởi lý do trên, chúng tôi tạm thời không đưa Việt sử tiêu án vào phạm vi khảo sát. Lý Giác sang sứ Việt Nam là việc có thật, được ghi vào tín sử, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Trung Quốc (xem Tống hội yếu tập cảo, Tục tư trị thông giám trường biên, Tục tư trị thông giám, v.v...). Hai tài liệu của Việt Nam nói trên tuy cùng chép một sự việc, nhưng bộc lộ không ít mâu thuẫn, nhất là phần liên quan đến bài từ Ngọc lang quy. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ lần lượt đi giải quyết những mâu thuẫn nói trên.

1. “Thất niên” hay “bát niên”?

Thiền uyển tập anh ngữ lục chép: “(Thiên Phúc) thất niên, Tống nhân Nguyễn Giác lai sính...” Đại Việt sử ký toàn thư chép: “(Thiên Phúc) Đinh Hợi bát niên, Tống Ung Hy tứ niên xuân... Tống phục khiển Lý Giác lai...” Nguyễn Giác tức Lý Giác. Đại Việt sử ký toàn thư quyển 5 Trần Thái Tông kỷ chép: “(Kiến Trung Nhâm Thìn bát niên) hạ lục nguyệt, ban quốc huý, miếu huý, nguyên tổ huý Lý, nhân cải Lý triều vi Nguyễn triều, thả tuyệt dân chi vọng Lý thị dã”. (Năm Nhâm Thìn Kiến Trung thứ tám), mùa hạ tháng sáu, ban quốc huý, miếu huý, vì nguyên tổ nhà Trần có tên huý là Lý, nhân đó đổi họ Lý ra họ Nguyễn, cũng là để bách tính không còn nhớ đến nhà Lý nữa). Thiền uyển tập anh ra đời vào đời Trần, việc chép Lý Giác thành Nguyễn Giác là điều có thể hiểu được. Thiên Phúc thất niên, tức năm 986 sau công nguyên, ứng với năm thứ ba niên hiệu Ung Hy đời Tống. Sách Tục tư tự thông giám chép: (Ung Hy tam niên đông thập nguyệt) Canh Thân, dĩ Lê Hoàn vi Tĩnh Hải Tiết độ sứ, mệnh Tả bổ khuyết kinh triệu Lý Nhược Chuyết, Quốc tử giám ích đô Lý Giác, lãi chiếu vãng sứ”. {(Mùa đông tháng mười năm Ung Hy thứ ba) ngày Canh Thân, sai Tả bổ khuyết kinh triệu Lý Nhược Chuyết và Quốc tử giám ích đô Lý Giác đem chiếu sang phong cho Lê Hoàn chức Tĩnh Hải Tiết độ sứ}. Phần khảo dị sách ấy chép tiếp: “Giác sứ Giao Châu, Thực lục tại thập nhị nguyệt Tân Tỵ, kim bính thư chi”. [Việc Giác đi sứ Giao Châu, sách<i> Thực lục</i> (tức<i> Tống Thái Tông thực lục</i>) chép vào ngày Tân Tỵ tháng 12, nay chép chung ở đây]. Có thể thấy Nhược Chuyết và Giác không cùng sang sứ nước ta. Theo sách Nhị thập sử sóc nhuận biểu của Trần Viên, tháng 12 năm Ung Hy thứ ba không có ngày Tân Tỵ, chỉ có ngày Tân Tỵ vào tháng 1 năm Ung Hy thứ tư, tức ngày 18 tháng 1. ở đây có lẽ Thực lục đã chép nhầm, nhưng dù cho việc đi sứ của Giác vẫn ở tháng 12, thì đoạn đường mà Giác phải trải qua từ Biện Kinh đến nước ta cũng chiếm thời gian không ít. Như vậy, khi Giác cùng đoàn tuỳ tùng đặt chân lên đất Giao Châu, thời gian khi ấy ắt đã là mùa xuân năm Ung Hy thứ tư. Có thể nói Đại Việt sử ký toàn thư đã thấy được mối quan hệ trên, việc chép “Đinh Hợi bát niên, Tống Ung Hy tứ niên xuân” là hợp lý.

2. “Ngọc lang” hay “Vương lang”?

Sách Thơ văn Lý - Trần (Tập 1) do Viện Văn học thuộc uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1977, khi đề cập đến tác phẩm nói trên của Khuông Việt, ghi là Vương lang quy, đồng thời chua thêm rằng: “Đầu đề này chỉ chép ở Thiền uyển tập anh, Đại Việt sử ký toàn thư không chép. Vương lang quy có thể chỉ là tên khúc ca, chứ không hẳn là đầu đề”.

Quan điểm của chúng tôi về căn bản đi ngược với những nhận xét trên đây. Trước hết, liên quan đến truyền bản của Thiền uyển tập anh, giới nghiên cứu đa số đều công nhận sách này hiện có hai hệ thống truyền bản, tức truyền bản đời Lê và đời Nguyễn. Trong truyền bản đời Lê, “Vương lang” được chép thành “Ngọc lang”. Theo Hán Ngữ đại từ điển (Thượng Hải Từ Thư xuất bản năm 2002) hai chữ “Ngọc lang” thường dùng để tôn xưng người đàn ông. Ở đây Khuông Việt dùng “Ngọc lang” theo nghĩa ngoại giao, có ý tôn trọng Lý Giác. Giác họ Lý, dùng “Ngọc lang” để tôn xưng là hợp logic, giữ lại hai chữ “Vương lang” thật khó có thể lý giải mối quan hệ nói trên. Học giả Hồng Kông - Trịnh Vĩnh Thường trong Hán văn văn học tại An nam đích hưng thế dẫn theo bản Đại Việt sử ký toàn thư, mặc dù tác giả đã biết rõ tác phẩm này viết cho ai, nhưng khi đề cập đến tên của tác phẩm vẫn chép là “Tống ngọc lang”. Như vậy chữ “vương” trong truyền bản đời Nguyễn thực chất chỉ là chữ “ngọc”, ấy là do thợ khắc khắc thiếu một dấu chấm mà ra.

3. “Từ” hay “khúc”?

Ngọc lang quy là từ hay khúc, đây là một trong những vấn đề mấu chốt để giải quyết sự khác biệt về văn tự giữa Thiền uyển tập anh Đại Việt sử ký toàn thư. Về việc quy loại Ngọc lang quy, trước nay giới học thuật có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung có ba loại ý kiến cơ bản như sau:

Thứ nhất, coi Ngọc lang quy là một bài từ. Đây là quan điểm chiếm số đông, mà đại diện tiêu biểu là tác giả Thiền uyển tập anh Lê Quý Đôn. Lê Quý Đôn trong Toàn việt thi lục, phần Lệ ngôn chép: “Ngã bang triệu khải văn minh, vô tốn Trung Quốc. Lê Tiên Hoàng tống Tống sứ Lý Giác nhất từ, uyển lệ khả cúc”. (Nước ta từ khi gây dựng, văn minh không kém gì Trung Quốc. Bài từ vua Tiền Lê tiễn sứ Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể vốc được).

Thứ hai là quan điểm cho Ngọc lang quy là một bài khúc. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Chiếu Khuông Việt chế khúc dĩ tiễn”. Trịnh Vĩnh Thường trong Hán văn học tại An nam đích hưng thế nói: “Khuông Việt Tống ngọc lang nhất khúc, vô luận thị áp vận, dụng từ, giai huy sái tự như, một hữu điêu trác chi tích”. (Khúc Tống ngọc lang của Khuông Việt bất luận ở mặt dùng từ, hiệp vận đều tự nhiên thoải mái, không chút dấu vết của sự gọt đẽo).

Thứ ba là quan điểm cho Ngọc lang quy là biến thể của từ điệu Nguyễn lang quy. Học giả Trung Quốc Hà Thiên Niên trong Việt Nam cổ điển thi ca truyền thống đích hình thành, Mạc tiền thi ca nghiên cứu(1) sau khi dẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư nói: Giá thị Việt Nam khả kiến đích tối tảo đích từ, Đại Việt sử ký toàn thư vị tái thử từ đích từ điệu, Thiền uyển tập anh tác Ngọc lang quy. Tra Từ phổ thư vô Ngọc lang quy nhất điệu, Nguyễn Lang quy tứ thập thất tự, tiền đoạn tứ cú bình vận, hậu đoạn ngũ cú tứ bình vận. Đán Thiền uyển tập anh cập Đại Việt sử ký toàn thư sở tái văn tự giai dữ thử bất thậm hợp, thượng khuyết đệ nhị cú ưng vi ngũ tự, nhi Đại Việt sử ký toàn thư vi thất tự; hạ khuyết thủ lưỡng cú các tam tự, nhi Thiền uyển tập anh hợp vi nhất cú thất tự, toàn từ thành tứ đối thất ngũ cú. Giá chủng bất đồng, khả thị vi Ngọc lang quy đích biến cách”. (Đây là bài từ sớm nhất còn thấy ở Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư không ghi từ điệu, Thiền uyển tập anh chép là Ngọc lang quy. Qua tra sách Từ phổ, không thấy có điệu Ngọc lang quy. Điệu Nguyễn lang quy 47 chữ, đoạn trước bốn câu vận bằng, đoạn sau năm câu bốn vận bằng. Bài từ chép trong Thiền uyển tập anh Đại Việt sử ký toàn thư khác xa điệu này, (bài ấy) đoạn trên câu thứ hai đáng lý phải năm chữ, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư chép đến bảy chữ; đoạn dưới hai câu đầu mỗi câu đáng lẽ phải ba chữ, nhưng Thiền uyển tập anh gộp thành một câu bảy chữ, cả bài thành bốn cặp câu năm và bảy chữ. Sự khác biệt này, có thể xem là biến thể của điệu Ngọc lang quy). Cùng quan điểm với Hà Thiên Niên, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa trong bài viết Việt Nam Từ nhân Bạch Hào tử cập kỳ Cổ duệ từ(2) cũng nói: “Việt Nam tối tảo đích từ đề vi Tống Lý Giác, hệ Lý triều từ nhân phỏng Nguyễn Lang quy nhi tác”. (Bài từ sớm nhất của Việt Nam là bài Tống Lý Giác, đó là từ, nhân đời Lý phỏng theo điệu Ngọc lang quy mà làm ra).

Theo quan niệm truyền thống, từ được coi là “thi dư” (từ là do thơ mà ra), khúc được coi là “từ dư” (khúc là do từ mà ra). Quan niệm này tuy không phản ánh đúng nguyên nhân hình thành và phát triển của từ và khúc, nhưng ở góc độ khác, nó phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa chúng. Từ khác thơ ở cấu trúc câu dài ngắn (so sánh với thơ luật), khúc khác từ ở việc thêm chữ, tức từ có số câu chữ hạn định, tối kỵ thêm bớt, khúc thì có thể thêm bớt tuỳ theo nhu cầu biểu đạt. Từ tiêu chí này có thể thấy được lý do tại sao Ngô Sĩ Liên, Trịnh Vĩnh Thường coi Ngọc lang quy là khúc, cũng bởi lý do này mà khi họ Trịnh đề cập đến sự ra đời của từ Việt Nam đã đem cái mốc ấy kéo mãi tới giữa thế kỷ thứ XIX, tức đánh dấu bằng Cổ duệ từ của Thương Sơn, đây là điều vô cùng bất hợp lý, hoàn toàn trái ngược với thực tế phát triển của từ tại Việt Nam.

Quan điểm biến thể và mô phỏng của Hà Thiên Niên và Nguyễn Thị Quỳnh Hoa đã nêu trên tuy mới mẻ, nhưng cũng bộc lộ rất nhiều hạn chế, nhất là sự thiếu thốn trong tra cứu tư liệu và việc đưa ra nhiều phán đoán mang tính võ đoán. Ví dụ Hà Thiên Niên cho rằng: Thiền uyển tập anh chép gộp “nhân tình thảm thiết đối ly thương” là bất hợp lý, nhưng không hề biết cổ nhân viết sách, nhưng ngắt câu bởi ở người sau, trách như thế há chẳng phải là “vô trung sinh hữu”! Nguyễn Thị Quỳnh Hoa đem chữ “Giác” 覺 trong “cảm giác” viết thành chữ “giác” 角 trong “tam giác”, lại đem bài từ ấy gán cho từ nhân đời Lý, nhưng bài viết này trọng tâm không ở Ngọc lang quy nên chúng tôi tạm thời không xét.

Lê Mạnh Thát trong Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh viết: “Ngọc lang quy, mà bản đời Nguyễn tờ 5b10 gọi Vương lang quy, là tên Khuông Việt đặt cho bài từ, chứ đúng ra nó phải có tên Nguyễn lang quy, bởi vì thể tài âm luật và nhạc điệu của nó hoàn toàn đồng nhất với Nguyễn lang quy” (trang 32). Sau giải thích trên, tác giả tiếp tục giải thích nguồn gốc của từ điệu Nguyễn lang quy, đồng thời đem Ngọc lang quy so sánh với âm luật của điệu Nguyễn lang quy chép trong sách Từ luật của Vạn Thụ. Đối với chữ “nhân” dư ra trong bản Thiền uyển tập anh, tác giả cho rằng “chữ ấy là một diễn tự từ chữ “trường” đi trước đó mà ra” (trang 344). Ở đây tuy chúng tôi nhất trí với cách lý giải này của tác giả, nhưng cũng còn không ít điểm cần trao đổi. Thứ nhất, Ngọc lang quy Nguyễn lang quy nên là hai khái niệm tách biệt, trong đó Nguyễn lang quy đóng vai trò từ điệu (cũng gọi là từ bài), còn Ngọc lang quy đóng vai trò từ đề (tức tên do tác giả đặt cho bài từ). Thứ hai, như chúng ta đều biết, ranh giới giữa từ và khúc rất mỏng manh, trong tình trạng hai chữ “diêu vọng” (遙望) chưa được giải quyết ổn thoả, chưa định một tiêu chí phân biệt giữa từ và khúc, chưa biết Nguyễn lang quy có chăng được dùng cho khúc điệu, hay một biến điệu khác của từ, thì việc căn cứ theo âm luật của điệu Nguyễn lang quy để cắt xén văn tự quả là gượng ép. Thứ ba, Nguyễn lang quy là bài từ xưa nhất hiện còn của Việt Nam, khái niệm này không thể áp dụng cho Từ học Trung Quốc, những tuyển tập từ mà tác giả dẫn ra đa số tuyển chọn Tống từ, mà điệu Nguyễn lang quy lại định thể ở Nam Đường và tác phẩm thời ấy đến nay vẫn tồn tại không ít.

Tổng hợp những ý kiến đã xét ở trên, quan điểm của chúng tôi về Ngọc lang quy như sau: Thứ nhất, Ngọc lang quy là một bài từ, trong đó Nguyễn lang quy đóng vai trò từ điệu, Ngọc lang quy đóng vai trò từ đề. Thứ hai, văn tự bài từ nên lấy bản Thiền uyển tập anh làm chuẩn sau khi đã loại trừ một chữ “nhân”. Thứ ba, Ngọc lang quy là bài từ cổ nhất hiện còn của Việt Nam, nó không chỉ đánh dấu sự ra đời của từ Việt Nam mà cũng đánh dấu Từ học Trung Quốc chính thức truyền vào Việt Nam.


(1) Luận văn tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Văn học cổ đại, Đại học Dương Châu, Trung Quốc, đệ trình ngày 06 tháng 5 năm 2003, trang 30.

(2) Đăng trên Cổ điển Văn học Tri thức số 3, năm 2001, tr.97 -100.



Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 5(72), 2005
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Lê Sáng

Trời đẹp gió lành cánh buồm giăng,
Xa ngóng thần tiên, lại đế hương.
Vượt sóng xanh, muôn trùng non nước,
Về phương trời, đường trường.
Tình thảm thiết!
Chén ly biệt,
Vin xe sứ vấn vương.
Xin đem thân ý vì biên giới,
Tâu vua thật tỏ tường.


Nguồn: Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 1), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, 2000
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Trời trong, gió thuận, cánh buồm giương,
Ngóng bậc thần tiên lại đế hương,
Non nước nghìn trùng qua sóng biếc,
Về nơi cung thất dặm đường trường.
Bịn rịn lòng người rượu ly biệt,
Lưu luyến vin xe sứ giả thương,
Đem ý sâu xa về cương giới,
Tỏ bày rành mạch cùng đế vương.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cao Tự Thanh

Nắng tươi gió ấm cánh buồm giương,
Đưa tiễn thần tiên lại đế hương.
Qua muôn sông núi vượt trùng dương,
Xa xôi bao dặm trường.
Tình thâm thiết, chén lên đường,
Vin xe sứ vấn vương.
Sẽ đem ý tốt vì biên cương,
Tâu vua ta tỏ tường.


Nguồn: Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nam Long

Gió căng buồm gấm nắng lành soi,
Thần tiên lại nước trời.
Rẽ làn sóng biếc vạn trùng khơi,
Nẻo về mấy diệu vời.

Lòng ủ rũ,
Chén chia phôi.
Xe mây vịn chẳng rời.
Mong đem tình ý chốn xa xôi,
Tâu vua rõ chúng tôi.

Du ư nghệ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nam Long

Bài từ này đã được chứng minh là chép nhầm tên "từ điệu". Cần sửa tên điệu là "Nguyễn lang quy" chứ ko phải "Ngọc lang", "Vuơng lang".
http://www.hannom.org.vn/...?param=1312&Catid=540

Du ư nghệ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tiêu đề

Việc từ điệu là Nguyễn lang quy thì đã nhiều người chỉ ra và không có gì phải bàn thêm. Tuy nhiên:
- Ở đây mục đích chính là cung cấp thông tin, sách có sao thì viết vậy, chứ không muốn tự ý sửa chữ, trừ khi có bản nào viết là Nguyễn lang quy. Vả lại nếu đó là lỗi của sách, thì sao trải qua mấy trăm năm mà không ai sửa lại. Ngay kết luận trong bài viết đã dẫn cũng chỉ dưới dạng nghi vấn “Như vậy, không loại trừ khả năng ban đầu bài từ trên...”
- Tiêu đề của bài (trong sách và ở đây) là đề mục, tên gọi, không nhất thiết phải là từ điệu. Nó có thể được đặt với mục đích hay hàm nghĩa khác. Trong thực tế nhiều bài từ cũng được chép với tiêu đề khác với tên từ điệu.

Tuy vậy tôi sẽ bổ sung thêm chú thích cho rõ ràng hơn.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời