金陵圖

江雨霏霏江草齊,
六朝如夢鳥空啼。
無情最是臺城柳,
依舊煙籠十里堤。

 

Kim Lăng đồ

Giang vũ phi phi, giang thảo tề,
Lục triều như mộng, điểu không đề.
Vô tình tối thị Đài Thành liễu,
Y cựu yên lung thập lý đê.

 

Dịch nghĩa

Mưa sông tầm tã cỏ bên sông mọc đều
Sáu triều qua như giấc mơ, chim kêu không (biết gì)
Vô tình nhất là rặng liễu ở Đài Thành
Vẫn như xưa rủ xuống như làn khói phủ trên con đê dài mười dặm


Kim Lăng nay là Nam Kinh, tỉnh Giang Tô. Tiêu đề có bản chép là Đài Thành 臺城. Đài Thành tức Uyển Thành, xây đắp từ đời Đông Ngô, trải thêm 5 triều đại nữa là Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần đều đóng đô tại đây, cuối đời Đông Tấn đổi thành Đài Thành. Di chỉ nay còn tại ven hồ Huyền Vũ, thành phố Nam Kinh.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (13 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Mưa sông dầy hạt, cỏ sông tươi
Chim hót buồn cho triều đại trôi
Rặng liễu Đài Thành xanh sắc cũ
In trong ráng khói dải đê dài

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn phước Hậu

Mưa bay bay, cỏ sông đều
Sáu triều giấc mộng, chim kêu trên trời
Vô tình rặng liễu thành Đài
Như xưa mười dặm đê dài khói vương.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Mưa bến bay bay, cỏ bến đều,
Lục triều như mộng, rộn chim kêu.
Vô tình số một Đài thanh liễu,
Mười dặm đê xưa khói toả nhiều.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trọng Đức

Cỏ đầy sông lạnh mưa bay bay
Sáu triều như giấc mộng đêm dài
Đài thành hàng liễu vô tình lắm
Đê xưa mười dặm khói buông dài

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Trọng San

Phơi phới mưa bay trên cỏ sông
Sáu triều như mộng tiếng chim suông
Đài Thành liễu vẫn xanh hờ hững
Mười dặm đê xa khói vẫn lồng.


Nguồn: Thơ Đường bình chú, Nguyễn Tuyết Hạnh, Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2009
Môn toả hoàng hôn,
Nguyệt tẩm mai hoa lãnh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Khánh Đản

Phơi phới mưa sông cỏ ngập bờ
Chim kêu Lục Đại đã như mơ
Vô tình thay giống Đài Thành liễu
Tha thướt đê dài vẫn rũ tơ.


Nguồn: Thơ Đường bình chú, Nguyễn Tuyết Hạnh, Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2009
Môn toả hoàng hôn,
Nguyệt tẩm mai hoa lãnh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Mưa lả tả cỏ sông một sắc
Mộng Lục Triều một giấc muồn tênh
Liễu Đài Thành thật vô tình
Y Nguyên như cũ rủ mành trên đê.


Nguồn:
1. Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB Văn hoá thông tin, 1995
2. Nguyễn Tuyết Hạnh, Thơ Đường bình chú, Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2009
Môn toả hoàng hôn,
Nguyệt tẩm mai hoa lãnh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Mưa sông lất phất, cỏ sông đều
Như mộng sáu triều, nay tịch liêu
Dương liễu thành Đài vô cảm nhất
Khói sương bao phủ như xưa nhiều

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Lất phất mưa sông đám cỏ bằng,
Sáu triều như mộng, tiếng chim vang.
Đài thành rặng liễu thờ ơ thế!
Mười dặm đê xưa lớp khói giăng.


Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Mưa sông lất phất, cỏ đều,
Sáu triều như mộng, chim chiều hót inh.
Đài Thành liễu đứng vô tình,
Như xưa khói phủ khuất hình đê xa...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (13 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối