Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

1 bài khác trùng tên trong cùng mục tác giả: 

鎮寺歸僧(I)

一簇名藍瑩玉冰,
斜陽影帶暮歸僧。
沿湖杖倒千尋碧,
向寺關通第幾層。
貝葉夜宣人入定,
松濤風響月初昇。
江湖城市無多遠,
僧與閒雲喜共朋。

 

Trấn tự quy tăng

Nhất thốc danh lam oánh ngọc băng,
Tà dương ảnh đới mộ quy tăng.
Diên hồ trượng đảo thiên tầm bích,
Hướng tự quan thông đệ kỷ tằng.
Bối diệp dạ tuyên nhân nhập định,
Tùng đào phong hưởng nguyệt sơ thăng.
Giang hồ thành thị vô đa viễn,
Tăng dữ nhàn vân hỷ cộng bằng.

 

Dịch nghĩa

Một toà danh lam giữa lòng hồ như tâm băng, bầu ngọc,
Ánh tà dương dẫn nhà sư chiều tối trở về.
Chống gậy đi ven hồ giữa muôn tầm sóng biếc,
Hướng tới chùa đường lối cửa thông suốt mấy tầng.
Đêm tụng kinh lá bối người nhập định,
Tiếng gió cành tùng với sóng nước giữa lúc trăng mới lên.
Cảnh thành thị với cảnh sông hồ xa nhau chẳng mấy,
Chỉ có nhà sư với đám mây nhàn du vui vẻ cùng làm bạn.


Bài thơ này chép trong Hà Thành thi sao 河城詩抄 (ký hiệu VHb.319, do Trần Duy Vôn, hiệu Nhàn Vân Đình 閒雲亭 soạn trước năm 1975, chép các bài thơ viết về Hà Nội từ đời Trần đến đời Nguyễn hiện còn được giữ lại trong Hoàng việt thi tuyển, Truyền kỳ lục, Thăng Long cổ tích khảo...).

Chùa Trấn Quốc ( 21.048,105.837): Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía đông Hồ Tây, gần đường Thanh Niên, thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa có lịch sử gần 1500 năm và được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Thời nhà Lý và nhà Trần, đây là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa được dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng, nguyên tên là chùa Khai Quốc. Đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thuý Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Chùa Trấn Quốc
Hình: Chùa Trấn Quốc



[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh

Danh lam cổ sái giữa ngọc hồ,
Trong ánh tà dương bóng thầy tu.
Chống gậy ven hồ muôn tầm biếc,
Cửa chiền thông suốt mấy lần vô.
Tụng kinh lá bối đêm nhập định,
Cành tùng lay gió sóng trăng nhô.
Giang hồ thành thị xa nhau mấy,
Mây nhàn vui bạn với nhà sư.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Một cụm danh lam sáng ngọc băng
Chiều tà đường về bóng lão tăng
Men hồ gậy đảo ngàn tầm biếc
Hướng chùa cửa thông suốt mấy tầng
Kinh bối đêm truyền người nhập định
Vừa lên, thông reo gió đón trăng
Giang hồ thành thị không xa lắm
Sư với mây nhàn kết thân bằng


Chưa có đánh giá nào
Trả lời