
鎮國歸僧
水遶叢林澈底澄,
斜楊影裏見歸僧。
煙波一徑初回錫,
雲售重樓正上燈。
沙界回頭生慧覺,
物華隨處晤真乘。
寒锺聲送入禪院,
身在人天第幾層。
Trấn Quốc quy tăng
Thuỷ nhiễu tùng lâm triệt để trừng,
Tà dương ảnh lý kiến quy tăng.
Yên ba nhất kính sơ hồi tích,
Vân thụ trùng lâu chính thượng đăng.
Sa giới hồi đầu sinh tuệ giác,
Vật hoa tuỳ xứ ngộ chân thừa.
Hàn chung thanh tống nhập thiền viện,
Thân tại nhân thiên đệ kỷ tằng.
Dịch nghĩa
Sóng nước bao quanh chùa, nước trong thấu đáy,
Trong bóng trời chiều, thấy nhà sư trở về.
Trên con đường khói sóng mới thấy tích trượng quay lại,
Những toà lầu trong rặng cây cao, đúng lúc lên đèn.
Quay đầu về thế giới trần tục, vẫn nảy sinh tuệ giác,
Nơi xứ sở phồn hoa vẫn giác ngộ chân thừa.
Tiếng chuông lạnh lẽo vang vào trong thiền viện,
Thân ở tầng thứ mấy của cõi người, cõi trời?
鎮國歸僧
Trấn Quốc quy tăng
Nhà sư trở về chùa Trấn Quốc
水遶叢林澈底澄,
Thuỷ nhiễu tùng lâm triệt để trừng,
Sóng nước bao quanh chùa, nước trong thấu đáy,
斜楊影裏見歸僧。
Tà dương ảnh lý kiến quy tăng.
Trong bóng trời chiều, thấy nhà sư trở về.
煙波一徑初回錫,
Yên ba nhất kính sơ hồi tích,
Trên con đường khói sóng mới thấy tích trượng quay lại,
雲售重樓正上燈。
Vân thụ trùng lâu chính thượng đăng.
Những toà lầu trong rặng cây cao, đúng lúc lên đèn.
沙界回頭生慧覺,
Sa giới hồi đầu sinh tuệ giác,
Quay đầu về thế giới trần tục, vẫn nảy sinh tuệ giác,
物華隨處晤真乘。
Vật hoa tuỳ xứ ngộ chân thừa.
Nơi xứ sở phồn hoa vẫn giác ngộ chân thừa.
寒锺聲送入禪院,
Hàn chung thanh tống nhập thiền viện,
Tiếng chuông lạnh lẽo vang vào trong thiền viện,
身在人天第幾層。
Thân tại nhân thiên đệ kỷ tằng.
Thân ở tầng thứ mấy của cõi người, cõi trời?
Chùa Trấn Quốc (
21.048,105.837): Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía đông Hồ Tây, gần đường Thanh Niên, thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chùa có lịch sử gần 1500 năm và được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Thời nhà Lý và nhà Trần, đây là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa được dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng, nguyên tên là chùa Khai Quốc. Đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thuý Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Hình: Chùa Trấn Quốc
[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.