Trang trong tổng số 2 trang (20 bình luận)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2]
Đăng bởi hongha83 vào 04/02/2026 14:52
CẢM NHẬN VỀ NHÀ THƠ ĐỖ TOÀN DIỆN
Nguyễn Giang (Nhạc sĩ)
Tôi gặp nhà thơ Đỗ Toàn Diện khi anh về học khoá I, Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du
của Hội Nhà văn Việt Nam. Gặp nhau rồi thân nhau từ đấy.Đỗ Toàn Diện là một trong những
nhà thơ hiếm hoi viết thơ thiếu nhi thời nay. Một lần, anh đưa cho tôi chùm thơ thiếu nhi mới viết, đọc xong tôi mừng quá. Để viết được thơ cho thiếu nhi đã khó, viết hay lại càng khó. Lúc ấy tôi đang công tác ở Báo Văn nghệ Trẻ. Tôi chọn ba bài đưa cho nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn, Trưởng ban biên tập và được in ngay trên báo. Cái hay của nhà thơ Đỗ Toàn Diện là có nhạc. Tôi đã phổ
nhạc cho một số bài thơ hay của anh.
Tôi vô cùng vui mừng khi thấy Đỗ Toàn Diện luôn phấn đấu vươn lên không ngừng. Khả năng sáng tạo của anh ngày một phát triển, vững vàng trong lĩnh vực đầy cam go, vất vả của một nhà thơ đích thực. Tôi luôn mong muốn nhà thơ Đỗ Toàn Diện đóng góp nhiều hơn nữa cho nền văn học nước nhà, xứng đáng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Một ngày của Đà Lạt, Đỗ Toàn Diện đến từ Đắk Lắk mang theo nhiều nỗi niềm. Chúng tôi gặp
nhau giữa đất trời mát dịu của thành phố mộng mơ và sớm tìm gặp nhau, gần nhau, đồng điệu, sẻ chia trong gần nửa thế kỷ qua. Tôi không nghĩ, cuộc đời của Đỗ Toàn Diện lại trải qua nhiều thăng trầm như thế. Từ bài viết “Một bài thơ kích hoạt đời thơ” của Diện viết cho riêng tôi, tôi ngỡ ngàng và thán phục khi Diện đang đối mặt với rất nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi.
Đỗ Toàn Diện tâm sự về hoàn cảnh gia đình và nỗi niềm của mình: “Gia đình tôi vốn dĩ sống lênh đênh trên sông bằng nghề đánh bắt cá. Bố mẹ tôi có bảy người con. Tôi là con thứ năm nhưng là trai trưởng. Sau tôi, có thêm một em gái và một em trai. Chiến tranh diễn ra ác liệt, gia đình tôi rời thuyền lên bờ sinh sống rồi tham gia vào Hợp tác xã xe trâu Quyết Tiến của xã. Thời niên thiếu cuộc đời tôi vô cùng cơ cực, bi đát. Tôi vừa học xong lớp Bảy, thì bố bị bệnh qua đời. Tôi thay bố gánh vác mọi công việc nặng nhọc của gia đình.
Thời ấy, tôi điều khiển một chiếc xe trâu cùng với bà con xã viên trong Hợp tác xã Quyết Tiến, bất kể ngày hay đêm chuyên chở đủ các loại mặt hàng, như: cát, đá, luồng, nứa, gạo, muối, sắt, thép, xi măng... Tôi vốn dĩ gầy gò ốm yếu, nhưng luôn phải khuân vác từng bao gạo nặng 60, 70 kg trên đôi vai nhỏ bé. Một tuần đi học, tôi phải nghỉ từ một đến hai buổi học để lao động kiếm thêm công điểm nuôi gia đình.
Thời gian thấm thoát trôi đi, tôi học xong 10/10, thi đại học khối C và đậu vào Cao đẳng sư phạm Đắk Lắk. Tôi suy nghĩ nhiều lắm, bởi trên vai là gánh nặng gia đình, là ánh mắt đầy mong đợi
của các em, là nỗi nhọc nhằn hằn sâu trên đôi vai gầy của mẹ. Nhưng muốn thoát khỏi cảnh cơ cực, tôi quyết chí ra đi, rời xa rừng núi nghèo khó Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá lên Tây Nguyên theo học.
Cuộc sống của cậu sinh viên xa nhà ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, là buổi sáng lên lớp nghe thầy cô giảng bài, buổi chiều tự học hoặc vào thư viện của trường đọc sách. Từ đây, tôi không phải thức khuya, dậy sớm ra đồng lao động, hay đánh xe trâu đi chở hàng, lấy sức người đổi công điểm. Tôi không còn phải lo cái ăn, cái mặc. Nhiệm vụ của tôi là phải học cho tốt.
Thời gian học phổ thông tôi chỉ có sách giáo khoa, ngoài ra không có tiền mua báo, mua sách để tham khảo v.v... kiến thức rất hạn hẹp, thầy cô dạy được chữ nào biết chữ ấy. Vào đây tôi như “cá
gặp nước”, cả một thư viện rộng lớn toàn sách là sách, tha hồ mà đọc. Không có thời gian ở thư viện, chúng tôi được phép mượn sách về phòng nội trú, tranh thủ đêm khuya đọc thêm, sáng mai mang trả cho thư viện trường. Kiến thức dần hé lộ, sự hiểu biết qua từng trang sách, báo càng được nâng cao. Nhiều vấn đề dần dần sáng tỏ
không còn mù mờ như ngày còn ở nhà nữa.
Tốt nghiệp, tôi được Sở Giáo dục tỉnh điều động về dạy ở huyện Krông Bông, Đắk Lắk. Tại đây, tôi được điều về dạy học tại xã Ea Yiêng, phần lớn là đồng bào dân tộc Sê Đăng. Một thời gian sau,
tôi lập gia đình và xin chuyển công tác ra dạy ở huyện Krông Pắk cùng vợ. Nhân có đợt học đại học thư viện được tổ chức tại Hà Nội, tôi làm đơn xin đi học và được cấp trên chấp thuận. Học xong
ra trường, tôi được điều về làm cơ sở vật chất, thư viện tại Phòng Giáo dục huyện Krông Pắk năm 1985”.
Đọc đến những dòng này, tôi vỡ ra nhiều điều. Diện đã đứng dậy bằng đôi chân và nghị lực của mình, không chịu khuất phục trước những khó khăn, thử thách của cuộc đời.
Ngày Diện rời xa vợ con để qua Đà Lạt theo học lớp tại chức Ngữ văn đầu tiên của Đại học Đà Lạt, theo như Diện kể, cũng chỉ là “cơ hội” được đi thăm thú Đà Lạt, rồi về lại Đắk Lắk, chứ không hy vọng gì theo đuổi nghiệp học. Thế rồi, Đỗ Đoàn Diện kể tiếp: “Mới công tác được một năm, Trường Đại học Đà Lạt có chiêu sinh lớp Đại học tại chức năm năm. Trước khi thi, thí sinh được nhà trường cho ôn thi một tháng. Tôi gặp anh
Trần Ngọc Trác từ dạo ấy. Khi ấy, anh Trần Ngọc Trác là biên tập viên, đạo diễn chương trình văn nghệ của Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Lâm Đồng cũng đang ôn thi với tôi. Một hôm, học xong hai tiết đầu thầy cho nghỉ giải lao, tôi, anh Trác và một số anh chị em khác trong lớp kéo nhau ra ngồi dưới gốc thông trong trường nghỉ ngơi. Anh Trác cho tôi đọc bài thơ của anh vừa được đăng trên Báo Lâm Đồng. Chúng tôi ai cũng háo hức muốn được xem trong ánh mắt ngưỡng mộ. Ngày ấy, có được thơ đăng trên báo là một vinh dự biết dường nào. Được tận mắt thấy tờ báo, được đọc bài thơ của anh Trác đăng báo, tôi đi từ ngạc nhiên đến xúc động, rồi cảm phục. Lúc ấy, cảm giác của tôi rất khó diễn tả. Tôi cứ nghĩ mình đang nằm mơ và gặp được “người ngoài hành tinh”. Đó là sự thật, vì tôi vốn sinh ra và lớn lên ở miền rừng núi tỉnh Thanh Hoá, vào Đắk Lắk lại cũng ở núi rừng. Tôi chưa có điều kiện được tiếp xúc với những nhà khoa học, nhà văn, nhà báo nên lần đầu tiên tôi rất ngạc nhiên và cảm thấy hạnh phúc, âu đó cũng là lẽ thường tình.”
Theo dòng hồi tưởng, Đỗ Toàn Diện kể lại khá chi tiết về những ngày đầu đến với Đà Lạt với biết bao nỗi niềm: “Ban đầu, khi đi ôn thi, tôi chỉ nghĩ đây là dịp để mình biết đến Đà Lạt nhưng chưa có ý định sẽ theo học đại học, vì ngày ấy từ nơi tôi dạy học Krông Păk (Đắk Lắk) sang Đà Lạt phải mất mấy ngày đường và phải trải qua 3 chặng đi xe. Huyện Krông Pắk (Đắk Lắk) cách
thị xã Buôn Ma Thuột 30 km. Muốn sang Đà Lạt, thì buổi chiều tôi phải đi xe đò lên Buôn Ma Thuột ra bến xe xếp hàng mua vé. Sáng hôm sau mới lên xe về Nha Trang. Chỉ 200 cây số, nhưng
phải gần chiều tối xe từ Buôn Ma Thuột mới tới được bến xe Nha Trang. Sau đó, tôi vào nhà trọ thuê phòng ở lại. Ngủ chưa tròn một đêm, khoảng 3 giờ sáng hôm sau lại khăn gói ra bến xe xếp hàng mua vé lên Đà Lạt (Quãng đường khoảng 250 km). Nếu không mua được vé thì phải ở lại thêm 1 ngày nữa. Khó khăn đến vậy, nhưng khi gặp được anh Trần Ngọc Trác, tôi coi anh là thần tượng của mình và liền thay đổi ý định, quyết tâm theo học đến cùng. Lớp có 54 học viên. Học xong năm năm, chỉ còn lại 24 người. Phần lớn những người đi học đều đang sinh sống và làm việc tại thành phố Đà Lạt nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên họ phải nghỉ học. Nhiều anh chị đã từng học năm thứ hai, thứ ba Đại học Văn khoa Sài Gòn, chưa kịp ra trường thì giải phóng. Còn tôi lẻ loi, là người từ Đắk Lắk sang Đà Lạt học. Học
5 năm, 1 năm 3 tháng, chia thành hai đợt học. Khó khăn nhiều mặt, nhưng tôi vẫn kiên trì, không bỏ cuộc. Cuối cùng, tôi đã có được tấm bằng Đại học Ngữ văn. Nhưng quan trọng hơn cả là tôi đã tập tễnh làm được thơ và bắt đầu có thơ in trên một số báo, tạp chí ở các địa phương từ khi đang còn học đại học”.
Điều bất ngờ với tôi, Đỗ Toàn Diện biết làm thơ, lại làm thơ hay. Một hôm, tôi với Diện đi một vòng lên đường Sương Nguyệt Ánh tìm cô em xinh đẹp của Đà Lạt mà tôi đã có dịp đưa lên đồi Cù Đà Lạtchụp ảnh. Mái tóc dài, tà áo trắng nữ sinh, khuôn mặt thanh tú, dáng hình thon thả gây ấn tượng cho người đối diện. Ai ngờ, Diện gửi cho tôi một bài thơ. Bài thơ ấy theo thời gian không còn nữa, nhưng không ngờ hôm gặp nhau ở Đà Lạt, Diện đọc lại cho tôi nghe. Khi nghe, tôi không kịp ghi, nên đề nghị Diện đọc lại cho một lần nữa. Bài thơ đã hơn 35 năm vẫn còn nguyên vẹn. Bài thơ có tên “Tìm em” dành tặng cho tôi:
TÌM EM
Anh tìm em
Nhưng chẳng thấy!
Nắng hững hờ như tình em vậy
Để anh tìm em
Anh cứ tìm em dãy phố quen
Bao ngôi nhà mới xây như tin yêu chợt đến
Cây bên đường vẫn thầm thì trò chuyện
Như thầm trách em
Như nói cùng anh
Chuyện viễn vông tìm kiếm khó thành
Khi trong tay anh không một dòng địa chỉ
Chỉ có hình bóng em trong anh bình dị
Hướng anh đi hết phố, hết nhà
Để anh lại gặp anh.
Đà Lạt, 1990
Đỗ Toàn Diện thuộc dạng người cương trực, thật thà, có khi nóng nảy nhưng không chịu khuất phục trước những kẻ gian trá, không chịu đầu hàng trước số phận. Là giáo viên ở một tỉnh lẻ, nhưng Diện vẫn làm thơ trào phúng, xuất bản mấy tập liền, không ngại ai, không sợ ai. Tôi đã được Diện tặng đầy đủ ba tập Những điều trông thấy - những bài thơ châm biếm sâu sắc của Diện. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Đà Lạt trở về, Đỗ Toàn Diện đã làm thơ và có thơ in chung trong tập Hoa trong cỏ do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk xuất bản năm 1992. Sau đó, thơ của Đỗ Toàn Diện xuất hiện khá
đều đặn trên các trang thơ các báo, tạp chí của Trung ương.
Đỗ Toàn Diện còn in thành tập và có thơ được tuyển chọn vào sách giáo khoa. Đó là tín hiệu vui mà tôi được đón nhận từ Đỗ Toàn Diện và cảm ơn Đỗ Toàn Diện vẫn không quên bạn đồng môn thân thiết ngày nào khi có những lời tâm sự đầy xúc động: “Thời gian lặng lẽ trôi, tôi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cũng là nhờ đọc bài thơ của nhà thơ Trần Ngọc Trác đăng trên báo Lâm Đồng ngày ấy. Đó là chất men kích thích tôi có thêm động lực để phấn đấu. Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn biết ơn Trường Đại học Đà Lạt đã chiêu sinh mở lớp và biết ơn nhà thơ Trần Ngọc Trác và luôn đồng hành cùng anh trên bước đường sáng tác.
Từ một bài thơ đã kích hoạt đời thơ của tôi, hôm nay gia tài văn chương của tôi là 18 tập thơ và hàng trăm bài thơ được in trên các báo Trung ương và địa phương, 28 bài thơ thiếu nhi của tôi
được tuyển chọn đưa vào sách giáo khoa và sách thực hành tiếng Việt lớp 3 và lớp 4, rất may mắn thơ của tôi được tuyển chọn vào tập thơ Những nhà thơ vì hoà bình thế giới, gồm 190 tác giả của các nước trên toàn thế giới. Thơ tôi được dịch và đăng trên một số báo và tạp chí nước ngoài, gần chục bằng khen và giải thưởng về văn chương. Xin cảm ơn cuộc đời, cảm ơn Đà Lạt, cảm ơn người bạn đồng môn của tôi: Thi sĩ Trần Ngọc Trác”.
Khi những dòng này ngưng lại ở đây, tôi vẫn tha thiết người bạn của tôi, đồng môn của tôi tiếp tục sáng tạo để có thêm nhiều bài thơ hay cống hiến cho đời, cho nền văn học Việt Nam thêm phong phú.
Đăng bởi hongha83 vào 05/03/2026 22:24
ĐỖ TOÀN DIỆN VỚI TÂM HỒN TRẺ THƠ
Nguyễn Nhuận Hồng Phương (Nhà văn)
Năm 2007, tôi cùng học với Đỗ Toàn Diện ở khoá 1, lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Có thể nói ngay rằng, vào thời gian đó hai chúng tôi chỉ coi nhau như bạn cùng lớp. Bởi do chuyên ngành mỗi người khác nhau nên có chút thiếu đồng điệu. Sau ba tháng học tập, khi tan trường ai về nhà nấy, khoảng cách địa lý xa xôi, nên rất ít thông tin về nhau.
Cho đến tháng 6 năm 2022, trong vai “chủ nhà”, tôi được mời đến dự cuộc toạ đàm: “Từ trang văn học thiếu nhi tới sách giáo khoa tiếng Việt thực trạng và kiến nghị”, do Hội Nhà văn Việt Nam kết hợp với Trung tâm hỗ trợ sáng tác tổ chức tại Nhà sáng tác Tam Đảo. Tôi gặp lại bạn đồng môn. Sau cái bắt tay, tôi nhận ra vẫn là sắc thái của chàng học viên khoá 1 Đỗ Toàn Diện năm nào, thân hình nhỏ nhắn, đi đứng khoan thai, ánh mắt dịu dàng, tư chất khiêm tốn khuất sau gương mặt phúc hậu, nói năng nhỏ nhẹ, khúc chiết, ít biểu lộ cái “tôi” ra ngoài.
Nhưng đấy là bề ngoài, còn sự nghiệp lúc này lại khác. Trong cuộc toạ đàm, Đỗ Toàn Diện đến tham dự với tư cách một trong những nhà thơ Việt Nam viết cho thiếu nhi, có những bài thơ được tuyển chọn in trong sách giáo khoa. Còn sửng sốt hơn, sau 15 năm gặp lại, tôi được biết Đỗ Toàn Diện có bước tiến dài trong sự nghiệp. Anh đã in 15 tập thơ gồm: 6 tập thơ trữ tình; 5 tập thơ trào phúng và 4 tập thơ dành cho thiếu nhi. Một sức viết khủng khiếp, tôi thầm nghĩ và không thể không nói lời cảm phục. Nghe tôi khen, nhà thơ cười hiền, bẽn lẽn...
Để kỷ niệm lần gặp gỡ đó, khi về Đỗ Toàn Diện gửi tặng tôi mấy cuốn thơ làm kỷ niệm, trong đó có thơ trào phúng, thơ trữ tình và thơ thiếu nhi. Nể phục sức lao động sáng tạo của nhà thơ họ Đỗ. Sau khi đọc thi phẩm của anh, không đừng được, tôi cầm bút viết, mặc dù bài viết này chỉ mang nặng tình cảm bạn đồng môn, nhưng mạn phép được đáo qua một chút về những bài thơ Đỗ Toàn Diện viết dành cho tuổi thơ. Vì ở những bài thơ đó, khi đọc, tôi thấy mình như được trở về những tháng ngày còn ngây thơ khờ dại...
Tôi tin ai cũng như tôi, sẽ mỉm cười, thích thú bởi những câu thơ ngộ nghĩnh, trong trẻo tả về tính cách, đặc thù của mỗi loài vật, chim bay trên trời, cá bơi dưới nước; mặt trời, mặt trăng, màu xanh cây cối, hoa thơm, trái ngọt, ngôi nhà, con đường, nhịp cầu, sông suối, trường, lớp... và rất nhiều vật dụng quen thuộc ở xung quanh, hiển hiện trong đời sống sinh hoạt thường nhật, nhưng khi đọc lên vẫn thấy lạ, như lần đầu mới thấy, mới phát hiện ra, và thật lạ, thật dung dị, thật diệu kỳ...
Chảy ra từ ruột đất
Nước trong vắt hiền hoà
Khi phải vượt ghềnh thác
Suối khóc nhè rên la...
(Suối)
hay:
Em ngủ nằm giường
Dơi ngủ treo ngược
Ơi! Con dơi nhỏ
Sao mà đáng thương
Này dơi nhỏ ơi!
Ngủ không nằm giường
Nếu bị chóng mặt
Làm sao đến trường?
(Dơi con ngủ)
và:
Trăng nghịch ngợm leo núi
Trượt chân ngã sứt môi
Trở thành vành trăng khuyết
Như diều treo lưng trời
(Trăng sứt môi)
Suối khóc nhè; dơi chóng mặt; trăng sứt môi, ôi! Những câu thơ thật đáng nhớ, đáng yêu cả ý tứ lẫn vần điệu ngộ nghĩnh làm sao...
Trên đây không phải điển hình mà chỉ là ví dụ. Còn dưới cái nhìn hạn hẹp của tôi, thì bài thơ nào của Đỗ Toàn Diện cũng cứ thế và luôn thế... Nếu muốn lấy để dẫn chứng, chẳng lẽ phải bê luôn cả tập lên mà chép vào ư? (!!!). Thế đấy! Đỗ Toàn Diện không chỉ mang đến sự huyền diệu của ngôn từ, lối cách điệu của thi pháp, âm hưởng đồng điệu lạ hoá và ngộ nghĩnh, thơ thới, cuốn quyện, hoà đồng trong tâm hồn con trẻ; mà còn mang tính giáo dục tinh tế, nhẹ nhàng với vần điệu thanh thoát, dễ nhớ, dễ thuộc.
N.N.H.P
NHỮNG CÂU CHUYỆN THƠ DỆT BẰNG SỢI TƠ LÒNG
Lê Văn Mí (Nhà văn)
Không phải nhà thơ nào cũng làm được thơ thiếu nhi và được thiếu nhi yêu thích. Bởi thơ là sự đồng điệu của tâm hồn, nên thơ thiếu nhi phải được thiếu nhi đồng điệu. Nói như vậy để thấy sự thành công của nhà thơ Đỗ Toàn Diện - tác giả của nhiều bài thơ trong sách giáo khoa tiểu học hiện nay. Anh đã xuất bản các tập thơ: Đám mây màu cổ tích (2020), với 62 bài thơ; Tuổi chuồn chuồn (2021), với 52 bài thơ; Lên trời hái sao (2023), với 72 bài thơ. Trong tổng số 186 bài thơ vừa nêu, thì có khoảng 120 được nhà thơ xây dựng theo mô hình thơ tự sự, nhưng bên trong câu chuyện thơ vẫn đong đầy tình cảm. Mỗi bài thơ của Đỗ Toàn Diện là câu chuyện nho nhỏ về thế giới tự nhiên; về đặc điểm, công dụng, ý nghĩa của các sự vật trong đời sống; về những người thân trong gia đình; về học đường và tìm về nguồn cội quê hương, dân tộc... Tất cả sự vật, sự việc, nơi chốn đều rất đổi gần gũi, thân quen; đều chứa đựng bên trong tiếng nói yêu thương, kết tinh cái đẹp và thấm đẫm tinh thần nhân văn.
Đi vào những câu chuyện thơ, ta thấy tác giả thường chọn ngôi thứ ba, điểm nhìn toàn tri, nhưng cũng có khi là ngôi thứ nhất số ít. Nhân vật tự sự là con người, sự vật, hiện tượng; kết cấu của câu chuyện thơ được tác giả tổ chức khá đơn giản, thường theo mô-tip: giới thiệu khái quát về nhân vật tự sự những hoạt động, hành động của nhân vật tự sự - ý nghĩa bài học nhân sinh được rút ra.
Với kết cấu câu chuyện thơ như vậy, thiếu nhi dễ trực quan và liên tưởng đến đặc điểm nhân vật tự sự, từ đó ghi vào lòng những ấn tượng đẹp. Nhiều bài thơ, tác giả chọn tên nhân vật tự sự làm nhan đề. Có thể kể đến các bài như: “Cóc kiện trời”; “Ông mặt trời”; “Ông trăng”; “Chú Cuội”; “Quả thị cổ tích”; “Sông Ngân”; “Con chuồn chuồn”; “Chim bói cá”; “Chú mèo”; “Quả na”; “Cây gạo”; “Quả cà chua”; “Quyển lịch”; “Bông lúa”... Ở những bài thơ ấy, trẻ em được nhà thơ ân cần dẫn dắt đi vào các chiều thời gian và không gian lung linh sắc màu. Khi đọc thơ, trẻ em như mở ra từng cánh cửa của tầng tháp cổ tích. Cứ mỗi tầng tháp, trẻ em say sưa ngắm nhìn thế giới muôn màu của sự sống đang vận động, đang reo ca gọi mời tâm hồn.
Nói như vậy, không có nghĩa là những sự vật trong đời sống hiện đại lại bị bỏ qua. Ngược lại, ta thấy trong thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện có rất nhiều sự vật của thời đại 4.0. Ví như: điện thoại; quạt máy; bóng điện làm xiếc; đèn xanh đèn đỏ; đội mũ bảo hiểm...
Ở những bài thơ ấy, tác giả trần thuật tỉ mỉ những đặc tính riêng biệt và những đóng góp ý nghĩa của chúng trong đời sống xã hội. Với cách kể chuyện thơ bằng giọng điệu vui tươi, dí dỏm, tác giả Đỗ Toàn Diện làm cho mỗi sự vật, sự việc trong tự nhiên và trong đời sống xã hội như có linh hồn, chúng sinh động hẳn lên, sự vật nào cũng gần gũi, cũng có thể làm bầu bạn thân thiết và rất hữu ích với con người.
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện nỗ lực làm mới chủ đề có nhiều người viết: Tổ quốc, quê hương, nguồn cội dân tộc. Anh cũng quyết tâm thể nghiệm bằng cái nhìn mới, cách cảm mới thông qua mô hình tự sự - trữ tình, nhằm định hướng giáo dục nhận thức, ý thức, tình cảm, tư tưởng thế hệ tương lai. Có thể kể đến các bài như: “Thành nhà Hồ”; “Cột cờ Lũng Cú”; “Thăm Điện Biên Phủ”; “Thăm chiến khu D”; “Trường Sa”; “Viếng nghĩa trang Đồng Lộc”; “Bố ở ngoài đảo xa”... Những bài thơ ấy, giáo dục lòng yêu nước, sự tri ân của thế hệ tương lai đối với thế hệ cha anh và các bậc tiền nhân.
Lượt qua một chút các chủ đề trong thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện, để thấy nhà thơ luôn có sự bao quát sâu rộng các chủ đề. Một số người cho rằng anh viết thơ ít chất thơ, đơn giản về nghệ thuật, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Ngược lại, tôi xem đó là ưu thế của một ngòi bút. Chính sự đơn giản hoá trong ngôn ngữ và lối viết là cách để nhà thơ Đỗ Toàn Diện truyền tải thông điệp nghệ thuật đến với thiếu nhi; chính mô hình tự sự khá đơn giản ấy, anh mang lại cho thơ mình hiệu quả cao về mặt nghệ thuật. Có thể thấy, trong mỗi câu chuyện thơ, nhà thơ phát huy sự mẫn cảm quan sát sự vật, hiện tượng và sự chiêm nghiệm đời sống để khám phá thế giới xung quanh. Từ đó, nhà thơ biến những sự vật, sự việc có khi sần sùi, thô ráp, khuất lấp trong tự nhiên và đời sống trở nên lấp lánh trong con mắt của trẻ thơ. Tác giả kể chuyện thơ không chỉ bằng con mắt và tấm lòng của một người ông, người cha, người thầy, người bạn mà còn bằng con mắt của một đứa trẻ đang ngắm nhìn thế giới non tơ, mới mẻ và khám phá thế giới ấy bằng tình yêu. Thực ra, đó là khả năng nhập thân, nhập vai, nhập cảm xúc của tác giả vào thế giới nghệ thuật một cách chân thật và tự nhiên. Chính vì vậy, thế giới thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện có sức cuốn hút đối với người lớn và thiếu nhi. Nhiều người nhận xét: thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện không kén bạn đọc là vậy!
Trong vai trò một bạn đọc, tôi không thể dẫn ra hết những bài thơ nêu trên, nhằm làm rõ cho những nhận xét có tính chủ quan của mình. Chỉ xin dẫn ra đây một số bài thơ được nhiều bạn đọc xa gần yêu thích. Tất nhiên, đó là những bài thơ mang đặc điểm chung thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện.
Ở bài thơ “Đám mây màu cổ tích”, in trong tập thơ cùng tên, tác giả kể lại câu chuyện đám mây thần tiên ghé thăm nhân vật trữ tình “em”. Trong ngôi nhà cổ tích, đám mây hiện lên tuyệt đẹp “viền mây màu ngũ sắc”; nhân vật “em” đã nâng cánh giấc mơ bay cùng mây qua những cánh đồng trĩu hạt, nghe sáo diều bát ngát; nhân vật “em” lần đầu bay qua thế giới mà “em” hằng khao khát, nơi có đồng cỏ châu Phi, được cưỡi lưng hươu cao cổ và những chú ngựa vằn, được nhìn thấy chú sư tử vờn mồi và những đàn voi hoang. Bức tranh thơ, khá giống với thước quay cận cảnh về thế giới động vật. Hoá ra, những gì vừa kể chỉ là giấc mơ thần tiên, vụt hiện lên trong tâm hồn yêu sự sống,
muốn khám phá thế giới tươi đẹp của trẻ. Rõ ràng, Đám mây màu cổ tích mang thông điệp nghệ thuật: Hãy mang ước mơ của trẻ thơ bay cao, vươn xa ra thế giới. Câu chuyện thơ chất chứa những khát khao của trẻ được chạm tới thế giới của sự sống muôn màu. Đám mây màu cổ tích còn hướng trẻ thơ đến cái đẹp, bầu bạn với thế giới muôn loài. Do đó, bài thơ có sự kết nối ước mơ với hiện thực, đánh thức ước mơ để đi đến tương lai.
Ở bài thơ Tuổi chuồn chuồn, vẻn vẹn có 8 dòng thơ lục bát, nhưng đủ để nhà thơ dựng thành một câu chuyện đong đầy kỉ niệm của tuổi thơ, khi đọc ai cũng tìm thấy mình bên trong:
“Chuồn chuồn đuổi bắt tuổi thơ
Chang chang đội nắng... dại khờ đen da Chuồn chuồn cắn rốn xuýt xoa
Đau ơi tê dại... mong là biết bơi
Chuồn chuồn kéo thấp ông trời
Mưa như trút nước bời bời ngập sân
Bay cao... thì nắng trong ngần
Con chuồn chuồn ớt đỏ bầm chẳng cay.
Khổ thơ đầu, đậm yếu tố tự sự. Tác giả tái hiện sinh động hình ảnh tuổi thơ đội nắng bắt chuồn chuồn, cho chuồn chuồn cắn rốn để mong biết bơi. Chuyện dại khờ, rất đổi hồn nhiên ấy, lại trở thành kỉ niệm đẹp, có sức sống theo dòng chảy của thời gian. Ở khổ thơ thứ hai, tác giả có sự chuyển đổi điểm nhìn, từ câu chuyện của hoài niệm, chuyển sang câu chuyện trải nghiệm đời sống. Tác giả mượn ý của câu tục ngữ dân gian quen thuộc: “chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” để làm mới ý thơ của mình. Rõ ràng, chủ đề của câu chuyện thơ thì không mới, nhưng cái mới của thơ nằm ở cách nói, cách cảm, cách nghĩ về con chuồn chuồn gắn liền với kỉ niệm của tuổi thơ. Hai câu cuối đặc tả về con chuồn chuồn cắn rốn không chỉ đọng lại một nét đẹp về hình ảnh của tuổi thơ hồn nhiên, mà còn đọng lại hình ảnh sinh động của thiên nhiên gần gũi, lấp lánh sự sống trong con mắt của trẻ, nhất là hai dòng thơ cuối: “Bay cao... thì nắng trong ngần/ Con chuồn chuồn ớt đỏ bầm chẳng cay.”
Tứ thơ về con chuồn chuồn ớt vận động thanh thoát, rồi bất ngờ chuyển sang một trường liên tưởng mới, có sức gợi tả, gợi cảm sâu sắc trong các giác quan của người đọc: thị giác (bay cao), vị giác (chẳng cay), cảm giác (nắng trong ngần/ đỏ bầm chẳng cay). Con chuồn chuồn ớt trong câu chuyện thơ không chỉ tạo nên cảnh vật thiên nhiên tuyệt đẹp, mà còn tạo nên một ấn tượng đẹp về thế giới hữu hình nhỏ bé, luôn kết nối với tâm hồn trẻ thơ! Cuối cùng, chẳng phải tác giả làm cho trẻ yêu say đắm thiên nhiên, qua hình ảnh đáng yêu của con chuồn chuồn ớt đang bay trước sân nhà mình đó sao?
Chợt nhớ đến bài thơ “Con chuồn chuồn ớt” của tác giả Xuân Nùng: “Con chuồn chuồn ớt/ Suốt ngày rong chơi/ Mình mang màu lửa/ Đỏ như than vùi” (Trích). Xét thấy hai bài thơ có nét tương đồng không chỉ ở nhan đề, mà còn ở hình ảnh:
Con chuồn chuồn ớt, màu đỏ. Tác giả Xuân Nùng so sánh ví von màu đỏ của con chuồn ớt với màu lửa, như than vùi; con chuồn chuồn ớt trong thơ của Đỗ Toàn Diện mang màu đỏ bầm của quả ớt. So sánh hai hình ảnh con chuồn chuồn ớt ấy với nhau, ta thấy mỗi tác giả có cách tả, cách cảm, cách thể hiện vẻ đẹp khác nhau. Tôi rất thích cách đặc tả con chuồn chuồn ớt của nhà thơ Đỗ Toàn Diện. Bởi dụng ý nghệ thuật của anh là khá rõ: tả một để được hai, gợi nhiều hơn tả, khả năng đánh động cùng lúc nhiều giác quan: thị giác, vị giác và cảm giác (như đã nói ở trên). Đồng thời, hình ảnh thơ kết hợp với ngôn ngữ thơ thể hiện sự suy tưởng, kết nối với chiều sâu văn hoá dân gian.
Một số bạn đọc cho rằng, điều đó vượt tầm nhận thức và suy tưởng đối với trẻ. Tôi nhận thấy ý kiến đó có cơ sở thuyết phục. Khảo sát thơ tự sự của Đỗ Toàn Diện trong 3 tập thơ thiếu nhi, ta thấy một mô-típ nghệ thuật khá ổn định, nằm ở vị trí cuối mỗi bài thơ. Đó là kết tinh bài học nhân sinh từ câu chuyện thơ về sự vật, sự việc, hiện tượng. Hình thức nghệ thuật ấy lặp đi lặp lại với tỉ lệ trên 80% sáng tác thơ thiếu nhi của nhà thơ. Do đó, nó trở thành hình thức của thơ và phong cách tác giả.
Với mô-típ nghệ thuật ấy, nhà thơ truyền tải thông điệp nghệ thuật: không có sự vật, sự việc, hiện tượng nào trong thế giới này chết cứng. Nếu con người nhìn chúng bằng con mắt và tấm lòng yêu thương, thì mỗi sự vật, sự việc, hiện tượng sẽ cho ta câu chuyện và bài học trải nghiệm thật thú vị. Với cách nhìn thế giới như thế, nhà thơ Đỗ Toàn Diện kết nối đa chiều với sự sống và đặt chúng trong mối quan hệ mật thiết, luôn gắn bó với đời sống con người. Từ đó, con người biết yêu thương, biết nâng cánh ước mơ, hướng về cái đẹp, cái đáng yêu; biết chống lại cái phi thẩm mỹ, phi nhân văn. Ví như ở bài thơ “Đồng hồ” (trong tập Đám mây màu cổ tích) kết thúc bằng những dòng thơ giản dị mà giàu ý nghĩa: “Cảm ơn anh đồng hồ/ đã ân cần nhắc/ reng reng nào nhanh lên/ giúp bé càng tiến bộ”; bài thơ “Chú trâu ăn tạp” (trong tập Tuổi chuồn chuồn) kết thúc bằng bài học:
“Trâu đau dạ dày/ Trâu rút ra bài học/ Từ nay đừng ăn tạp/ Phải nhai kỹ no lâu”; bài thơ “Cá đi rạng đông” (trong tập Lên trời hái sao) kết thúc bằng hai dòng thơ ngợi ca giá trị vững bền của tình yêu thương: “Yêu sao đàn cá/ Bên nhau suốt đời”.
Những bài học về thế giới quan và nhân sinh quan được nhà thơ kết tinh trong phần cuối của bài thơ đều có ý nghĩa nâng giấc tâm hồn, nâng giấc mơ ước của trẻ.
Thống kê cho thấy hơn 90% thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện được tác giả thể hiện bằng thơ 4 chữ và 5 chữ; có cấu trúc từ 3 khổ đến 5 khổ thơ; mang dáng dấp một bài đồng dao. Chẳng phải nhà thơ ý thức ngay từ đầu trong sáng tác của mình, anh ý thức lựa chọn hình thức thơ phù hợp: dễ đọc, dễ thuộc, toát lên sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ đó sao? Nói như vậy, để thấy rằng hình thức thơ có ý nghĩa quan trọng, khi được kết hợp với các yếu tố khác, nó tạo nên sự hài hoà và đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Tưởng chừng những điều như vậy thật dễ dàng đối người làm thơ, nhưng thực chất không dễ khi đối tượng đọc và cảm nhận là thiếu nhi. Vậy, điều gì đã làm nên sự thành công thơ thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện? Thiết nghĩ, Đỗ Toàn Diện là ngòi bút không chọn sự cầu kì, không thích sự bóng bẩy của con chữ thơ, mà chọn sự chân thật, tự nhiên, chọn tấm lòng yêu trẻ, yêu đời và yêu thơ để làm nền cho sáng tạo nghệ thuật. Có thể nói: Đỗ Toàn Diện là nhà thơ của thiếu nhi. Bởi trước hay sau, thơ anh như một chỉnh thể thống nhất hướng đến đối tượng thiếu nhi; trong mỗi bài thơ se chặt những sợi tơ lòng của người nghệ sĩ thực thụ. Anh là người rất cần mẫn trong lao động nghệ thuật, luôn mong muốn dệt nên những câu chuyện thơ tuyệt đẹp chỉ dành riêng cho trẻ thơ.
ĐỖ TOÀN DIỆN, TỰ MỞ LỐI ĐƯỜNG VĂN
Hoàng Quý (Nhà thơ)
Những “người văn” xứ Thanh tôi biết trước khi biết Đỗ Toàn Diện không nhiều. Đó là Hữu Loan, Nguyễn Duy, Trịnh Thanh Sơn, Đặng Ái, Văn Thành Lê. Trong số đó, tất nhiên rồi Hữu Loan, Nguyễn Duy là hai đại thụ. Trịnh Thanh Sơn, Đặng Ái là hai bóng văn nhiều sum suê. Văn Thành Lê là một nhà văn thế hệ 8x ấn tượng ngay từ tác phẩm văn chương đầu tiên khi bước vào đường văn.
Đỗ Toàn Diện cùng dự khoá thử nghiệm với tôi - Khoá 1 Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn tại Hà Nội năm 2007. Diện dự hết khoá còn tôi thì bỏ dở. Tôi bỏ dở vì thời gian ấy cả nhạc mẫu và mẫu thân tôi đều ra đi cách nhau chỉ vài tháng. Tôi bỏ dở dù khoá học chỉ chừng hơn tháng nữa là kết thúc.
Những tháng cùng học thú thực nếu nhớ về Đỗ Toàn Diện chỉ là nhớ về một bạn văn đến từ Krông Pắc thuộc núi rừng Đắk Lắk tính nết hiền, cởi mở, nói năng nhỏ nhẹ, giản dị và có phần rụt rè. Là lớp phó phụ trách học tập, ngoài những việc sự vụ phục vụ khoá học, tôi còn đọc, chọn, biên tập sơ bộ thơ của bạn cùng khoá rồi mang tới các báo, tạp chí có ưu ái dành một phần trang văn cho khoá bồi dưỡng thử nghiệm của Hội Nhà văn. Với một số bạn văn khoá ấy tôi đã làm một việc nho nhỏ là đưa được sáng tác thơ của họ lần đầu lên các báo, tạp chí, đặc biệt là báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ và tạp chí Nhà văn. Đỗ Toàn Diện có thơ đăng trong cả Văn nghệ trẻ lẫn Văn nghệ (già). Tôi vẫn nhớ những lần mang vài bài thơ đến tôi, Đỗ Toàn Diện nói khiêm tốn và rụt rè: “Anh xem giúp thế nào ạ”. Tôi thích những niềm hân hoan của Kim Anh, của Đỗ Toàn Diện và nhiều bạn khác khi cầm trên tay tờ báo, tạp chí đặc biệt là các số báo, tạp chí của Hội Nhà văn. Đó là những hân hoan cảm động và trong trẻo. Tuy nhiên giọng riêng trong thơ của họ khi ấy mới chỉ thấy ở Phạm Vân Anh với tập thơ nhỏ và mỏng Tôi chào tôi, còn hầu hết là những sáng tác dù có chọn, biên tập sơ bộ và mang tới các báo mới chỉ là những bài thơ có chất lượng khá.
Nhưng, với văn chương nói chung và thơ nói riêng thì phẩm cấp chỉ xác lập là hay chưa đủ, hay nhưng phải riêng, hay mà chưa riêng thì mới chỉ thành công một nửa.
Rời khoá 1, phải 17 năm sau, tức là vào cuối năm 2024, tôi mới gặp lại Đỗ Toàn Diện. Là hữu duyên khi đoàn các nhà văn Tây Nguyên và đoàn các nhà văn miền Đông Nam Bộ được bố trí ở cùng khách sạn khi chúng tôi tới Vĩnh Long dự Đại hội Nhà văn khu vực với đoàn nhà văn Đồng bằng Cửu Long.
Tiếng chào tôi kèm theo câu hỏi: “Anh có nhớ em không đấy?”. Một người thấp, hơi đậm, vầng trán đẹp và đôi mắt rất hiền tiến về phía tôi. Đó là Đỗ Toàn Diện. Không nhớ là không nhớ thế nào! Có thể ai đó tôi không nhớ chứ Đỗ Toàn Diện thì tôi không quên. Vẫn thế, chả khác hồi 2007 bao nhiêu. Hiền, cởi mở, nhỏ nhẹ và vẫn là cách biểu lộ có phần rụt rè. Đỗ Toàn Diện thực vui khi tôi gọi đúng tên anh. 17 năm sau khoá Bồi dưỡng Viết văn ở Hà Nội xưa là 17 năm Đỗ Toàn Diện tự đi tìm mình và tự mở lấy đường văn, 6 tập thơ trữ tình, 5 tập thơ trào phúng, 4 tập thơ thiếu nhi.
Khi tôi viết vài dòng ngắn này có lẽ tác phẩm Đỗ Toàn Diện không dừng ở con số ấy, con số nói về sức lao động và nội lực Đỗ Toàn Diện. Nhưng đó là số lượng. Chất lượng thì sao? Có ngay đây: 28 bài thơ thiếu nhi được tuyển chọn vào sách tham khảo, sách giáo khoa; 2 bài thơ được tuyển chọn vào sách bồi dưỡng tiếng Việt lớp 3; trong 190 tác giả trên địa cầu được tuyển chọn vào tập thơ Những nhà thơ vì hoà bình thế giới có nhà thơ Việt Nam là Đỗ Toàn Diện. Một số báo chí của một số nước Châu Phi, ở Cộng hoà Liên bang Đức, ở Pakistan... dịch và in thơ của anh. Còn giải thưởng thì nhiều lắm. Tôi hân hoan muốn được nói rằng, trong số các đồng môn cùng dự khoá học ngắn ngày nọ, Đỗ Toàn Diện đi được bước văn dài rộng bởi tình yêu văn chương, sự lao động bền bỉ trên hành trình tự mở lối đường văn.
Những tập sách trên giá sách của tôi, các tập thơ Đỗ Toàn Diện chiếm một góc ngay thẳng. Con dâu tôi là một nhà giáo, mỗi khi cháu khoe và đọc cho tôi nghe một bài thơ trong sách giáo khoa có thơ của Đỗ Toàn Diện thường vui mừng bảo:
“Con giảng bài này của người bạn của bố trên lớp, lũ trẻ thích lắm”. “Lũ trẻ thích lắm”! Chỉ bốn từ ấy đã nói nhiều hơn bất kỳ những dài dòng tôi viết về người đồng môn ngày nào. Những đứa trẻ mai sau rồi sẽ lớn lên. Trong hành trang mang theo cuộc người của chúng sẽ có những vần thơ nhân ái, những bài học về tính người, về ứng sử, về nhân cách, về sự tử tế... giữa không gian muôn mặt.
Trong văn chương Việt 25 năm đầu của thế kỷ XXI, thì thơ viết cho thiếu nhi phải từ sau khoá X của Hội Nhà văn Việt Nam mới được phục hưng. Nếu văn chương nói chung và thơ nói riêng bỏ quên các em - những chủ nhân tương lai cần được bồi tụ sự tươi tốt khi tâm hồn thơ ngây và trong trẻo còn chưa tì vết thì sẽ vô ích, dù văn chương có ồn ĩ và to giọng đến mấy.
Những tác phẩm “nặng ký” tất nhiên rất cần, nhưng những tác phẩm vun xanh tốt cho lớp lớp thiếu niên nhi đồng là bồi tụ cho tương lai của đất nước. Tôi đồng hành cùng văn chương cũng đã gần 40 năm. Trong thế hệ những nhà văn cùng thời, tôi thấy những tác giả Đỗ Toàn Diện có thành tựu thường không rậm lời, họ chuyên tâm và chịu đựng trên hành trình nhiều khi nghiệt ngã của văn chương.
Những tác giả thành tựu luôn tự tìm lối mình, mở lối mình để không lẫn vào phía đa số. Đỗ Toàn Diện bản tính hiền và ít nói.
Thành tựu của anh đã nói thay anh. Mà, muốn biết rõ về thành tựu văn chương của bất cứ ai thì phải đọc chu đáo tác phẩm của họ. Bây giờ, hình như nhiều nhà văn thích nói to. Vâng, chẳng ai cấm các anh các chị nói to đâu ạ...
Trong chồng báo lưu của tôi, Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số 30 (ngày 28/7/2007) in 4 bài thơ của Đỗ Toàn Diện khi tôi và anh học khoá 1, Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du. Cả 4 bài thơ, bài nào cũng cực ngắn, chỉ gồm 4 câu thơ. Đó là các bài “Miếng da bò”, “Con ốc”, “Ễnh ương”, “Cây và cọc”. Bài nào tôi cũng thích. “Nó” được in vào “Góc hài hước” của tờ báo. “Nó” là quà chữ cho cả người lớn lẫn trẻ con. Nếu chép cả 4 thì bài viết này của tôi e là tham lam quá. Vậy thì, tôi chép bài thơ có tên là “Miếng da bò” có lẽ đã đủ mọi phương diện nhắn tới các ông bà hay ồn ào làm quà cho vui:
Vứt xó thì miếng da bò
Đến khi bịt trống lại to tiếng gào
Thấu đất dày, thấu trời cao
Hỏi da bò lột: khi nào mới thôi?
Thơ Đỗ Toàn Diện, người bạn đồng môn năm nào của tôi đấy. Muốn biết thêm về người bạn tôi, xin giở những sách giáo khoa nhiều cấp học sẽ có những bài thơ của Đỗ Toàn Diện, Nhà giáo - Nhà thơ xứ Thanh ở mãi trên vùng rừng Krông Pắk, Đắk Lắk.
ĐỖ TOÀN DIỆN, CÙNG BAY VỚI NHÂN VẬT THIẾU NHI
(Gặp gỡ tác giả được đưa vào Sách giáo khoa)
Nhà thơ TRẦN QUỐC TOÀN
Đoạn trích bài thơ “Lên rẫy” của Đỗ Toàn Diện được tuyển vào sách Tiếng Việt 4, tập 1, bộ Cánh diều. Bài này nằm trong tập Đám mây màu cổ tích (Nxb Hội Nhà văn, 2020),
viết cho thiếu nhi và là tập thơ thứ 15 của ông.
Viết lời tựa cho tập thơ, nhà thơ Trần Quang Quý (1955 - 2022) khen ngợi: “Thơ cho thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện có những quan sát tinh tế, gần gũi, sinh động và không thiếu những phái sinh, suy tưởng từ hiện hữu hình ảnh”.
Bác nông dân ngang vai với ông mặt trời!
Đọc 38 bài kết thành Đám mây màu cổ tích, cây viết Bùi Minh Vũ phát hiện nhiều đặc sắc và viết trên báo Đắk Lắk ngày 01/9/2020, có đoạn: “Nhà thơ có những khám phá mới khi nhìn những sự vật gần gũi, thú vị theo cách nhìn của trẻ thơ,
giúp các em dễ tiếp nhận. Như bài thơ “Quạt máy”:”Mùa Đông nín thở/ Nằm nép góc nhà/ Mùa Hè oi ả/ Vù vù... thở ra/ Ba cánh đoàn kết/ Thua chi gió trời/ Mùa Hè nóng bức/ Uống sạch mồ hôi/ Em học em chơi/ Bạn bè đoàn kết/ Cũng như cánh quạt/ Là vui nhất đời”.
Hoặc như bài thơ “Que diêm”: “Tôi là những mẩu gỗ/ Đầu đội mũ diêm sinh/ Ẩn giấu ở trong mình/ Âm thầm một ngọn lửa/ Tôi là que diêm nhỏ/ Nhưng làm việc lớn lao/ Thắp lên ngàn bếp lửa/ Ánh sáng cho mọi nhà/ Tôi là que diêm nhỏ/ Giúp ích cho mọi người/ Tôi mong các bạn nhỏ/ Cũng có ích cho đời”.
Tới năm 2022, trong Trại viết văn học thiếu nhi do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo, Đỗ Toàn Diện hoàn thành bản thảo tập thơ thứ 16 Lên trời hái sao, cũng giành cho bạn đọc thiếu nhi.
Từng bài trong tập được các trại viên thảo luận, góp ý kỹ lưỡng để phong cách Đỗ Toàn Diện sắc nét hơn, dễ nhận hơn, với những câu rực rỡ, giàu màu sắc trong thi ảnh, giàu tưởng tượng trong thi tứ. Ví dụ: “Bác nông dân lùa vịt/ Vỡ mặt trời trong sương”, thơ đã phù phép, cách điệu, để cái sào chăn vịt giúp bác nông dân đứng ngang vai với ông mặt trời!
Trong tập Lên trời hái sao có bài được cấu tứ như dựng truyện, dùng thuật phục bút ở khổ thứ nhất: “Phòng học đơn sơ/ Cạnh ô cửa sổ/ Nhìn ra bầu trời”, cao hơn, từ khung của học vấn kia: “Bay vào vũ trụ/ Hái mặt trời hồng”.
Vẫn kiểu thơ giàu tính tự sự, bài “Cá chuồn” thật hay: “Sống trong nước cá chuồn/ Bơi lội mãi cũng buồn/ Liền phóng lên mặt nước/ Bay như chú chuồn chuồn// Những hôm trời đẹp nắng/ Cá chuồn lượn từng đàn/ Vẩy lóng lánh ánh bạc/ Sáng một vùng không gian// Cá chuồn sống trong nước/ Thi thoảng lại diễn xiếc/ Bay lượn vòng trên không/ Màn biểu diễn thật tuyệt!”.
Bài thơ hồn nhiên, mềm mại như đồng dao, không lên gân dạy đời; dí dỏm tinh nghịch như các anh chị cá lộn tùng phèo, biến bơi thành bay; tráng lệ huy hoàng khi vẩy cá bắt nắng lóng lánh... Trong tập thơ này, Đỗ Toàn Diện đã cùng bơi, cùng bay với nhân vật thiếu nhi của mình.
“Lên rẫy” tìm màu sắc
Quê ở Thanh Hoá, nhưng Đỗ Toàn Diện có tới 37 năm dạy Văn và dạy vẽ ở các trường trung học cơ sở trên vùng nương rẫy Đắk Lắk, nên cái nhìn của ông có nhiều khung cảnh cao nguyên. Bài thơ được tuyển vào sách giáo khoa vừa tràn đầy đường nét sinh động của vùng đất, vừa ẩn chứa những bài học sâu sắc về mối tương giao giữa con người và thiên nhiên: “Em cùng mế lên rẫy/ Gùi đung đưa, đung đưa/ Con chó vàng quấn quýt/ Theo bước chân nô đùa/ Kìa mặt trời mới ló/ Trên đầu chị tre xanh/ Sương giăng đèn ngọn cỏ/ Tia nắng chuyền long lanh/ Bao nhiêu ngày chăm học/ Mong đợi đến cuối tuần/ Được tung tăng theo mế/ Xôn xao hoài bước chân/ Rẫy nhà em đẹp lắm/Bắp trổ cờ non xanh/ Lúa làm duyên con gái/ Suối lượn lờ vây quanh/ Rừng đẹp tựa bức tranh/ Phong lan muôn sắc nở/ Hoa chuối màu thắm đỏ/ Giăng mắc như đèn lồng”.
Trong bài thơ, thiên nhiên được nhân cách hoá thành ông trời đỏ, thành chị tre xanh để chơi đùa với con người trong nhịp thơ linh hoạt với sự nối tiếp một chuỗi 6 từ lấp láy: Đung đưa, quấn quýt, long lanh, tung tăng, xôn xao, lượn lờ. Con người làm đẹp thiên nhiên với lối mô tả “thi trung hữu hoạ” bằng hoà sắc ba màu vàng, xanh, đỏ.
Từ một góc nhìn khác, có thể thấy, thiên nhiên đã hồn nhiên nở hoa kết trái dâng tặng, thì con người tri ân, khéo léo “giăng mắc” đèn sương trong, đèn hoa thắm, để được cùng thiên nhiên hiển hiện trong thời khắc “đẹp tựa bức tranh”.
Hỏi tác giả cảm nghĩ thế nào khi bài “Lên rẫy” được chọn vào Tiếng Việt 3, Đỗ Toàn Diện tâm sự: “Đây là bài thơ đầu tiên của tôi được vào sách giáo khoa. Tôi rất vui khi “Lên rẫy” đóng góp công sức nhỏ bé vào sự nghiệp trồng người.
Vui vì mỗi năm học mới, trang sách giáo khoa sẽ giúp tôi tìm thêm rất nhiều bạn đọc”.
Tôi hỏi: “Nếu được thêm một câu hỏi vào số các câu đã in trong sách, để học sinh có thêm hứng thú khi học, thì anh sẽ hỏi như thế nào?”. Nhà thơ Đỗ Toàn Diện hào hứng: “Tôi sẽ hỏi: Ngoài màu luỹ tre xanh, con chó vàng, hoa chuối đỏ, còn màu gì nữa?. Hỏi vậy để thầy cô giáo và học sinh cùng tích hợp tri thức thơ ca và hội hoạ, vì có tranh màu minh hoạ”.
Dám cất tiếng nói thật về những giá trị giả
Ở mục Đọc sách trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, số ra ngày 12/12/2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đọc tập thơ trào phúng Những điều trông thấy của Đỗ Toàn Diện. Ông viết: “Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, những nhà thơ trào phúng đã gần như vắng bóng trong đời sống thi ca nước nhà. Có lúc tôi nghĩ, sẽ không còn nhà thơ nào làm thơ trào phúng như một sự nghiệp của mình nữa. Thế nhưng những năm trở lại đây, có một nhà thơ trào phúng thường xuyên xuất hiện với một ý thức và nỗ lực trong sáng tác thể loại này. Đó là tác giả Đỗ Toàn Diện”. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định: “Hình thức của thể loại thơ này trong sự sáng tạo của Đỗ Toàn Diện đã có nhiều thay đổi. Một đặc điểm rất rõ trong thơ trào phúng của Đỗ Toàn Diện là tính trữ tình... Đây là một cách nói nhiều khi làm cho người đọc đau đớn nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn về nhân tình thế thái và về những giá trị thật đang bị đánh tráo. Cách viết như vậy làm cho bài thơ mang nhiều tính triết lý hơn. Với cách nhìn và cách viết khá riêng biệt của mình, Đỗ Toàn Diện đã cho chúng ta cùng nhận ra những ý nghĩa mang triết lý sâu xa cũng như những nguy cơ tiềm ẩn có thể làm cho những giá trị của con người bị vấy bẩn và suy tàn mà những nguy cơ này ẩn giấu dưới những hiện thực bóng bẩy dễ làm cho chúng ta bỏ qua”. Đồng quan điểm với Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Trúc Thông (1940-2021), trong bài viết về tập thơ Những điều trông thấy cũng nói: “Chính những người trào phúng căn cốt là trữ tình, mà là trữ tính sầu thảm nữa chứ”.
Theo góc nhìn của Trúc Thông và Nguyễn Quang Thiều, cái cười trong thơ trào phúng của Đỗ Toàn Diện là cười ra nước mắt! Là khóc trong niềm thấu hiểu thành kính với Phật Bà (trang 71), khi trong chúng sinh có nhiều kẻ liều mạng xé lưới trời lồng lộng để thoả mãn lòng tham:
Người lên tít tận trăng sao
Kẻ xuống âm phủ tìm đào sắt than
Để giọng thơ trào phúng phải trữ tình mà “kiến nghị”:
Nghìn tay chẳng đủ phát ban
Nghìn mắt vẫn sót nỗi oan giữa đời
Cần thêm tay mắt người ơi
Ôm trọn trái đất xuyên trời bao dung
Nhưng đã là trào phúng, hài hước thì trước hết phải chọc cười bạn đọc. Thủ pháp gây cười thành công nhất của Đỗ Toàn Diện là chơi chữ. Trên “sân cỏ chữ nghĩa”, nhà thơ khéo Đá bóng (trang 56) theo kiểu đồng âm dị nghĩa để “sút” ý tưởng:
Tiếng anh giờ nổi như cồn
Giỏi lừa, giỏi đảo, lánh luồn... lăng-xê
Dắt rê lắt léo có nghề
Mỗi khi anh sút hả hê bao người”.
Lừa, đảo, lách luồn, dắt rê... đều là thuật ngữ, là động từ trong môn bóng đá cả đấy. Nhưng thật tức cười khi Đỗ Toàn Diện đưa nó vào quy trình tác nghiệp của một “anh” chức quyền, làm công tác cán bộ theo cảm hứng (đúng ra là “ám hứng”) lợi ích nhóm, “đá bóng” để cài cắm cánh hẩu vào những vị trí ngon ăn!
Kết thúc bài báo của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều gắn chuyện thủ pháp vào chức năng: “Trong một thời đại mà không phải nhiều người dám cất tiếng nói thật về những giá trị giả, những thói đời đen trắng, những bất công xã hội... thì sự cất tiếng một cách dũng cảm và bền bỉ của Đỗ Toàn Diện cho thấy lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút”.
T.Q.T
THƠ CỦA MỘT NGƯỜI YÊU ĐỜI THA THIẾT
(Lời tựa cho tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ)
Nhà thơ LÊ THÀNH VĂN
Đỗ Toàn Diện làm thơ nhiều, xuất bản hơn chục tập thơ, tính từ thi tập đầu tiên ra mắt độc giả: Hoa trong cỏ (1992). Không kể các tập thơ trào phúng, về thơ trữ tình anh có Lời yêu (1994), Lời ru cao nguyên (1998), Thời yêu dấu (2005), Ước mơ nhà rông (2010), Dấu chân thời gian (2016)... Vẫn phong cách mộc mạc đậm chất truyền thống, thơ anh giàu có ở sự nồng nàn của cảm xúc, lời thơ tự nhiên như hơi thở, không mang dáng vẻ câu chữ cầu kỳ, vỉa tầng ẩn ý. Tất cả cứ ngân vang bằng lời, bằng giọng thơ chân chất, thiết tha từ trái tim thi nhân yêu lắm cuộc đời này.
Mà đúng vậy, có yêu thương cuộc đời thật nhiều, trải lòng muốn bộc bạch với thi nhân những suy tư về thế giới xung quanh mãnh liệt, Đỗ Toàn Diện mới dễ dàng tìm đến thế giới trẻ thơ qua Khúc đồng ca mùa hạ. Tập thơ phác hoạ bức tranh đa thanh, đa sắc về thế giới tuổi thơ hồn nhiên, mơ ước từ cái nhìn yêu thương, hồn hậu của tác giả. Điều đặc biệt, ở tập thơ này, người đọc sẽ bắt gặp một Đỗ Toàn Diện rất nhạy cảm với thế giới loài vật để từ đó khơi gợi cho các em những bài học làm người, những tình cảm nhân văn nhẹ nhàng, thiết tha mà vô cùng sâu lắng.
Đọc Khúc đồng ca mùa hạ, ta thấy thế giới loài vật hiện lên thật phong phú và sinh động. Trong tổng số 31 bài thơ, có đến 11 bài tác giả viết về các con vật. Đó là “Tiếng ve”, “Bức hoạ đồng quê”, “Kiến giết voi”, “Chim sâu xử kiện”, “Ruồi nhặng - ong mật”, “Bé và các loài chim”, “Ếch nhái ngủ đông”, “Con cua”, “Con tôm”, “Dã tràng”, “Cào cào”... Một thế giới loài vật qua cái nhìn thi nhân dường như tất cả đã tụ đàn để dệt nên bức tranh thơ rộn rã âm thanh và màu sắc. Loài voi to khoẻ, vừa đi vừa “ngẫm nghĩ” khiến cho các loài khác đều khiếp sợ; hổ, báo, kiến, cua, nhái, cào cào, cụ cóc, ong bướm... mỗi loài đều có nét riêng, tất cả hiện lên xôn xao qua từng trang viết; có cả chim sâu xử kiện để truy sát loài sâu bọ; “Ruồi nhặng - ong mật” với một cuộc đối thoại, tranh biện đầy thú vị...
Trong bài thơ “Bức hoạ đồng quê”, từ những đặc tính sinh hoạt của mỗi loài, qua sự quan sát tỉ mỉ và đầy chất thơ, tác giả giúp cho các em vừa thích thú và yêu mến cảnh vật làng quê, vừa có được bài học bổ ích từ cuộc sống mang lại. Thể thơ lục bát biến thể viết theo lối vắt dòng nên nhìn khá mới mẻ, hình tượng thơ giàu sắc thái biểu cảm, nghệ thuật nhân hoá đặc sắc, giọng thơ giàu nhạc tính. “Bức hoạ đồng quê” đã dựng lên một thế giới loài vật sống động hoà cùng vẻ đẹp thiên nhiên để làm nên bức tranh đồng quê tuyệt đẹp, mở ra một không gian hữu tình trong mắt trẻ thơ: “Bức tranh quê đẹp tuyệt vời/ Bàn tay tạo hoá dâng người mà nên”. Ở “Bé và các loài chim”, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã rất có duyên khi kể lại hai tính cách trái ngược nhau giữa em bé và các loài chim “xấu tính, xấu nết”. Sự thú vị của bài thơ chính là cách khen của tác giả thông qua cái nhìn đầy tin yêu và quý mến trẻ thơ. Với trẻ em, khen cũng cần đúng lúc, đúng chỗ, không các em dễ gì tin được ngay. Sử dụng nghệ thuật đòn bẫy qua hình ảnh các loài chim chèo bẻo “mách lẻo trên cành”; sáo sậu “lanh cha lanh chanh”; quạ khoang lười học, lười làm; từ đó nhà thơ dẫn dụ và so sánh đến các em có nhiều việc làm tốt ở trường, ở lớp.
Cách khen bằng nghệ thuật so sánh ấy là cách giáo dục tự nhiên, phù hợp tâm lý tuổi thơ, động viên các em không nên học theo những loài chim hư, đồng thời cổ vũ những đức tính tốt: “Còn như các bé/ Ở trường mầm non/ Miệng nở hoa sen/ Hát hay học giỏi/... Đi học về nhà/ Bé chào khắp lượt”. “Chim Sâu xử kiện” lại có sức cuốn hút nhờ sự quan sát tinh tế kết hợp với nghệ thuật tưởng tượng tài hoa của nhà thơ. Bài thơ kể lại một phiên toà “hình sự” xử kiện loài sâu bọ tàn phá môi trường thiên nhiên. Chính yếu tố thơ trong truyện và truyện trong thơ đã làm cho thi phẩm hấp dẫn thông qua kịch tính khi chim sâu xử kiện rất thuyết phục trước loài sâu bọ chối quanh. Có lẽ điều đó làm cho tuổi thơ thích thú, đồng thời cũng nhận thức được cái xấu, cái ác xung quanh mình: “Mở phiên toà chái hiên/ Thăng đường, chim xét hỏi/ Sâu ranh còn chối tội/ “Tôi chữa bệnh cho cây/ Tỉa bớt nhánh hoa gầy/ Bớt lá cho quang hợp”/ Miệng lưỡi sâu ngọt xớt/ Cố ra vẻ hùng hồn/ Uy nghiêm chim hỏi dồn:/ Sao cây vàng rồi chết?/ Lá tả tơi rụng hết.../ Ngươi còn dám thêu dệt?”. “Ếch nhái ngủ đông” là khúc ca đồng quê rộn ràng, vui tươi và sống động. “Con cua” dựng lên hai hình tượng đối lập trong thế giới động vật: cua ngang tàng nên cuối cùng nhận lấy hậu quả thật đáng thương: “Gặp ai cũng doạ nạt/ Giương mắt múa may càng/ Bạn bè dần xa lánh/ Đành thui thủi trong hang”. Bài thơ “Con tôm” thú vị ở nghệ thuật miêu tả rất đúng và tinh tế hình dáng bên ngoài:
“Đầu hai ba lưỡi mác/ Râu dài mã thật sang/ Càng cứng áo giáp sắt/ Dáng oai vệ nghênh ngang”. Tóm lại, ở mảng thơ viết về thế giới động vật, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những phát hiện độc đáo riêng, miêu tả sống động bằng sự quan sát tinh tế và tình yêu sâu sắc nên thực sự có những hình tượng thơ hấp dẫn, lôi cuốn, đồng thời là những bài học nhận thức đúng đắn, phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Cùng với thế giới động vật, Đỗ Toàn Diện cũng dành khá nhiều bài thơ viết về cây trái, đồ vật. Có lẽ, chính cái nhìn tràn đầy yêu thương và một tấm lòng hồn hậu với thế giới tuổi thơ nên anh đã dành tình cảm đặc biệt ở mảng đề tài này qua khá nhiều tác phẩm: “Đào lộn hột”, “Tâm sự bàn ghế”, “Tâm sự của rễ”, “Con sóc bông”, “Sầu riêng”, “Cái ô”, “Cây xấu hổ”. Ở những bài thơ viết về đồ vật, cây trái, nhà thơ Đỗ Toàn Diện cũng có nhiều phát hiện tinh tế, thú vị. Qua đó, tác giả giúp cho các em có cái nhìn sâu sắc và thấu hiểu hơn về thiên nhiên và mọi vật ở xung quanh mình. Quả đào lộn hột “biết làm ảo thuật” để chui từ ruột ra ngoài, lắng nghe cuộc đời vui tươi ca hát: “Nghe gió hát êm tai/ Và chim rừng ca hót/ Uống sương mai dịu ngọt/ Tắm nắng trời ban mai” (Đào lộn hột). Bài thơ “Tâm sự bàn ghế” thể hiện cái nhìn của tác giả về mối quan hệ cũng như cách ứng xử của tuổi học trò với mọi vật chung quanh thông qua thủ pháp nhân hoá. Bài học về sự trân trọng và biết nâng niu mọi sự vật quanh mình cũng như mọi điều trong cuộc sống cũng hình thành từ đây:
Bàn nói với ghế sáng nay
Tôi tơi tả bởi bàn tay học trò
Ghế rằng tôi cũng lo lo
Gồng mình cho lũ học trò ngồi lên
(Tâm sự bàn ghế)
Ngoài cảm quan về loài vật mà phần lớn được nhìn qua con mắt trẻ thơ, điểm nhìn trữ tình của chính tác giả về một thế giới hồn nhiên, mơ ước còn được thể hiện qua nhiều tác phẩm khác nữa: “Tiếng ve”, “Tìm về”, “Cô bé răng khểnh”, “Tuổi thần tiên”, “Bố ở Trường Sa”, “Ơn thầy”, “Tiếng pháo xuân”, “Bé được cắm cờ”... Cảm xúc từ tiếng ve thơ dại và màu hoa phượng đỏ như hai biểu tượng của một thời áo trắng thơm hương. Bài thơ Tiếng ve được tác giả Đỗ Toàn Diện viết theo thể lục bát nhờ đó dễ lắng sâu vào tâm hồn các bạn nhỏ tuổi với niềm xuyến xao, bịn rịn buổi hè về: “Ve kêu lúc nhặt lúc thưa/ Trống trường đã điểm gọi mùa thi sang/ Ve kêu thắm rực khăn quàng/ Bóng bàng thao thức, ve mang hè về” (Tiếng ve).
Đó là hình ảnh cô bé có chiếc răng khểnh thật đáng yêu, không chỉ duyên dáng ở hình thức bên ngoài, cô bé răng khểnh còn làm nhiều việc tốt. Đọc bài thơ, hẳn các em cũng yêu mến và noi gương người bạn nhỏ dễ thương này: “Cô bé răng khểnh/ Nhí nhảnh hồn nhiên/ Làm nhiều việc tốt/ Nụ cười thật duyên” (Cô bé răng khểnh). Thế giới tuổi thơ hồn nhiên, vô tư còn thể hiện qua niềm tiếc nuối, bâng khuâng từ tâm hồn tác giả về tháng ngày xưa bé bỏng: “Tuổi ngày thơ bé/ Nô nhau tồng ngồng/ Giã từ thơ dại/ Trôi vào tháng năm” (Tìm về). Đó là tâm sự của một bạn nhỏ về người bố mình ở Trường Sa: “Bố luôn chắc tay súng/ Giữ biển trời quê hương/ Em tự hào về bố/ Người lính đảo kiên cường” (Bố ở Trường Sa). Đó còn là lòng biết ơn về người thầy đã dạy dỗ tuổi thơ trưởng thành và khôn lớn nên người: “Công thầy sánh tựa non cao/ Tình thầy đâu có biển nào sâu hơn/ Thầy như một chiếc thuyền con/ Chở bao thế hệ sóng cồn vững tay” (Ơn thầy). Đó còn là niềm vui mừng xuân của các bạn nhỏ khi nghe tiếng pháo rộn ràng một thời thơ dại:
Trẻ em khoác xuân tươi
Sắc màu thêm sặc sỡ
Én chao mình bỡ ngỡ
Xôn xao cả đất trời
(Tiếng pháo xuân)
Tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ thành công trên một số phương diện nghệ thuật đáng được trân trọng. Thi pháp thơ viết cho thiếu nhi cần phải giàu hình ảnh, vần điệu, ngắn gọn và dễ đi vào tâm tưởng các em. Thấu hiểu được những điều cần thiết ấy, nhà thơ Đỗ Toàn Diện trong 31 bài thơ của thi tập đã dành đến 14 bài cho thể lục bát (trong đó có một bài lục bát biến thể). Ngoài ra thể thơ 5 chữ chiếm 12 bài; thơ 4 chữ có 3 bài. Đây là hai thể thơ gần với âm hưởng đồng dao dân gian nên dễ thuộc, dễ nhớ. Thơ lục bát và lục bát biến thể thích nhất là “Bức hoạ đồng quê”, “Ếch nhái ngủ đông”, “Tâm sự bàn ghế”... Thơ 4 chữ, 5 chữ ngắn gọn, phù hợp với tuổi thơ các em, nhờ đó dễ đi vào tâm hồn thơ trẻ. Thơ 4 chữ có bài “Bé và các loài chim” giàu chất giọng đồng dao. Bài thơ hay bởi không những có được bài học bổ ích dành cho trẻ mà nhịp điệu, giọng thơ cũng rất phù hợp với tâm hồn tuổi nhỏ.
Đặc điểm quan trọng của thơ viết cho thiếu nhi là mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ. Đó là sự hồn nhiên ngây thơ từ trong cảm xúc, ý nghĩ thật tự nhiên, không gò ép, bó buộc và làm dáng. Chính tính hồn nhiên, ngây thơ và giàu hình ảnh, vần điệu của thơ viết cho thiếu nhi trong tập Khúc đồng ca mùa hạ
đã làm cho nhiều bài thơ giàu sắc thái tu từ nghệ thuật. Ở thủ pháp so sánh, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có những câu thơ thật hay, dễ đi vào tâm hồn tuổi thơ trong sáng. Đọc thi phẩm “Bức hoạ đồng quê”, ta bắt gặp những câu thơ miêu tả vẻ đẹp của chị cào cào rất ấn tượng: “Cào cào, cào cào... giã gạo rất siêng/ Áo xanh áo đỏ như tiên giáng trần”. Bài thơ “Sóc bông” lại có nét đẹp riêng dễ làm các em yêu mến, say lòng: “Con sóc bông của ba/ Mắt sáng tựa sao sa/ Miệng như hoa chúm chím/ Tóc tòng teng đuôi gà”. So sánh thường làm cho đối tượng miêu tả thêm thi vị và giàu hình tượng thơ hơn. So sánh trong thơ viết cho thiếu nhi lại cần lắm cái nhìn đồng cảm của tác giả, nhờ đó giúp các em càng thêm thích thú. Ngoài nghệ thuật so sánh tu từ, nhiều bài thơ trong thi tập Khúc đồng dao mùa hạ có hình tượng thơ bay bổng một cách tự nhiên thông qua nghệ thuật nhân hoá: “Gió đồng gió đồng... gọi lúa song ca/ Sáo diều từng giọt ngân nga lưng trời” (Bức hoạ đồng quê); hoặc: “Cùng nhau ca hát rộn ràng/ Ếch, nhái, chẫu chàng rôm rả đồng quê/ Xếp hàng đón gió ven đê/ Vẳng nghe khúc nhạc hàng tre ru diều” (Ếch nhái ngủ đông). Phép điệp từ ngữ, điệp cấu trúc thể hiện qua nhiều thi phẩm, nhưng đậm đặc nhất là ở “Bức hoạ đồng quê”. Đó không chỉ là phép điệp từ ngữ thông thường mà còn là tiếng nhạc lòng của thi nhân ngân lên, từ đó bồi đắp tâm hồn các em qua vẻ đẹp của muôn loài nơi đồng quê xinh tươi, yên ả.
Thơ Đỗ Toàn Diện không quá sắc cạnh về cấu tứ và ngôn từ, nhưng bù lại, sự lôi cuốn, hấp dẫn ở thơ anh chính là tấm lòng tràn đầy cảm xúc thành tâm của một người yêu đời tha thiết. Phản ánh thế giới tuổi thơ hồn nhiên và mơ ước, với 31 bài thơ trong thi tập Khúc đồng ca mùa hạ, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có vị trí đáng kể về mảng thơ viết cho thiếu nhi của văn học tỉnh nhà. Những bài học nhân văn nhẹ nhàng, sâu lắng được chắt ra từ thế giới loài vật, cây trái vừa đậm chất trữ tình, vừa có chút kịch tính đã góp phần bồi đắp ước mơ, khát vọng cho các em khôn lớn và trưởng thành. Nói như nhà văn Richard L.Evans: “Trẻ nhỏ sẽ không nhớ bạn vì vật chất bạn cho chúng, mà vì tình cảm bạn dành cho”. Qua Khúc đồng ca mùa hạ, món quà tinh thần mà nhà thơ Đỗ Toàn Diện dành cho trẻ thơ là vô giá, nó sẽ bền lưu trong tâm thức và sẽ khiến các em suốt đời nhớ mãi. Trân trọng giới thiệu tập thơ Khúc đồng ca mùa hạ đến với bạn đọc gần xa.
Buôn Hồ, tháng 2 năm 2019
L.T.V
Đăng bởi hongha83 vào Hôm qua 15:18
ĐỖ TOÀN DIỆN VỚI ĐÁM MÂY MÀU CỔ TÍCH
Nhà thơ TRẦN QUANG QUÝ
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện là người sáng tác thơ khá đa diện về loại hình và đối tượng phản ánh. Anh làm thơ trữ tình, thơ trào phúng, thơ thiếu nhi... và có đến khoảng gần hai chục đầu sách. Nhưng cường lực sáng tạo của anh, có lẽ là ở mảng thơ thiếu nhi.
Người lớn viết thơ thiếu nhi có những cái khó, đó là tâm hồn nhà thơ phải nhập cảm và đồng cảm với cảm nhận, cái nhìn hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng của lứa tuổi này. Nói cách khác, anh phải có lối tư duy của trẻ thơ trong nhận thức về thế giới xung quanh, nhiều khi rất bất ngờ, ngộ nghĩnh. Nếu không có cái tự nhiên ấy, người lớn làm thơ cho đối tượng thiếu nhi dễ bị giáo điều, khiên cưỡng, lộ sự “giả nai” với trẻ em.
Đỗ Toàn Diện vốn là nhà giáo, anh sống cả đời giáo chức của mình với trẻ thơ, hiểu trẻ thơ, có lẽ đó là lợi thế lớn để anh dấn thân vào mảng thơ không dễ dàng với đối tượng thiếu nhi. Tôi thấy sự hoà điệu cảm xúc và cái nhìn trẻ thơ trong tập Đám mây màu cổ tích của anh khá nhuyễn. Vẫn là những gì gần gũi, thân quen trong đời sống của mỗi gia đình như quyển lịch, cái đồng hồ, con búp bê, cái quạt máy, que diêm... mà nhiều nhà thơ đã quan tâm, hay chính các tác giả lứa tuổi thiếu nhi đã quan tâm nhưng Đỗ Toàn Diện vẫn tìm ra những nét mới, những câu thơ sinh động, gợi cảm... như khi nói về quyển lịch: “Sinh ra đầy đặn/ Đủ tháng đủ ngày/ Lao động miệt mài/ Gầy theo năm tháng”, và rồi: “Thời gian mải miết/ Tôi vẫn âm thầm/ Nhắc cho người biết/ Công việc chuyên cần” (Quyển lịch). Gầy theo năm tháng để thức tỉnh ý nghĩa của sự lao động chăm chỉ, miệt mài. Hay một anh “Đồng hồ” với chức năng báo thức: “Dậy trước mặt trời mọc/ Cứ reng reng reng reng/ Bé ơi, dậy rửa mặt!/ Nào nhanh lên nhanh lên/ Mẹ thì lo vào bếp/ Nấu ăn cho cả nhà/ Bố thì lo dọn dẹp/ Dắt xe và tưới hoa/ Bé tự thay quần áo/ Ăn mặc thật gọn gàng/ Mẹ bảo nay trời mát/ Chắc là vì bé ngoan!/ Cảm ơn anh đồng hồ/ Đã ân cần nhắc nhở”. Với cái quạt máy thì: “Mùa đông nín thở/ Nằm nép góc nhà/ Mùa hè oi ả/ Vù vù... thở ra/ Ba cánh đoàn kết/ Thua chi gió trời/ Mùa hè nóng bức/ Uống sạch mồ hôi!”. Sự quan sát và miêu tả cái quạt “lôgíc” mà cũng thật ngộ nghĩnh.
Từ đó để “gom” lại một lời nhắn nhủ: “Em học, em chơi/ Bạn bè đoàn kết/ Cũng như cánh quạt/ Là vui nhất đời”. Đi từ vật dụng gần gũi trong nhà để nói lên cái đức của sự lao động, học hành, chăm ngoan, bạn bè đoàn kết...; từ đó mở ra thiên nhiên rộng lớn hơn. Với thiên nhiên ấy, Đỗ Toàn Diện viết về “Bầu bí” thế này: “Tay bầu, tay bí/ Vươn ra rõ dài/ Hoa nở trong nách/ Bướm ong gọi mời/ Bầu, bí làm xiếc/ Đánh đu rất tài/ Hôm qua nhỏ xíu/ Nay bằng nắm tay/ Bầu bầu... Bí bí... / Xúm xít cùng giàn/ Sân nhà râm mát/ Tiếng cười giòn tan/ Chúng em xúm xít/ Nhảy dây, đánh cờ/ Chú mèo tắm nắng/ Lim dim đọc thơ...”. Đây là một bài thơ “trình diễn” một cách tự nhiên và ngộ nghĩnh. Hình ảnh và câu thơ sống động, lôi cuốn và rất gợi... Tâm hồn già cỗi khó có cái đồng điệu trẻ thơ ấy. Ở bài thơ “Lên rẫy” lại là không khí vùng cao với những câu thơ đằm hơn trong lối kể: “Em cùng Mế lên rẫy/ Gùi đung đưa đung đưa/ Con chó vàng quấn quýt/ Theo bước chân nô đùa/... Rẫy nhà em đẹp lắm/ Bắp trổ cờ non xanh/ Lúa làm duyên con gái/ Suối lượn lờ vây quanh/... Tuổi thơ em gắn bó/ Bản làng bao yêu thương!”. Có lẽ bài thơ cho thiếu nhi độ tuổi lớn hơn nên mới có “Lúa làm duyên con gái”, rất dễ “nhảy” sang thơ người lớn.
Một bài thơ khác cũng không kém phần ngộ nghĩnh, đáng yêu, bài Cuội: “Em vung ngọn bút/ Vẽ thẳng lên trời/ Chú Cuội tênh nghếch/ Gốc đa mỉm cười/ Hình như không phải/ Cuội đang chăn trâu/ Gió hiu hiu thổi/ Chú ngủ từ lâu?/ Bỗng chú tỉnh giấc/ Trâu đâu mất rồi?/ Làm sao tìm được/ Đầy trời sao rơi!”. Thơ cho thiếu nhi của Đỗ Toàn Diện có những quan sát tinh tế, gần gũi, sinh động và không thiếu những phái sinh, suy tưởng từ hiện hữu hình ảnh. Ngoài những bài đã trích dẫn trên, anh còn có nhiều bài thơ, tôi cho rằng trẻ em cũng thích thú, bâng khuâng và đáng yêu khác: Voi con, Bê con lạc mẹ, Nguồn gốc họ gà, Mặt trời ham chơi, Que diêm, Nhớ, Mướp leo giàn, Mùa hè ở quê em. “Voi hay tập thể dục/ Chân to như cột nhà/ Được tôn vinh lực sỹ/ Vô địch của rừng già/ Chú không hề kiêu ngạo/ Bắt nạt kẻ yếu hèn/ Mà luôn luôn giúp đỡ/ Khiến người người thân quen” (Voi con) là một thực chứng cho những bài thơ yêu thích ấy. Anh cũng có những bài thơ về những vùng đất, những cảnh đẹp của đất nước, những địa danh lịch sử... nhằm tôn vinh cái đẹp và tình yêu quê hương, đất nước; hoặc giáo dục truyền thống, như: Hồ Ba Bể, Chiều cao nguyên, Cờ đỏ sao vàng, Thăm chiến khu Đ, Thăm Điện Biên Phủ, Vịnh Hạ Long... Hay viết về quê hương miền Trung của anh với niềm yêu thương, cảm thông, chia sẻ và cộng sinh trong gian khó, khắc nghiệt của thiên nhiên: “Mùa hè cứ cõng gió/ Trốn biệt ở phương nào/ Nóng bức và cồn cào/ Ve sầu mệt... khóc lả/... Đất ruộng khô nứt nẻ/ Lúa đồng đang uốn câu/ Hai mẹ con nhà nghé!/ Trốn bụi tre nhai trầu/ Mẹ em vẫn ra đồng/ Giữa trưa hè đổ lửa/ Tháo nước mương tưới ruộng/ Đất hoai... dễ cày bừa/ Em thương mẹ vất vả/ Chỉ mong trời mau mưa” (Mùa hè ở quê em).
Chỉ một vài sạn nhỏ gợn lên mà người làm thơ thiếu nhi dù rất nỗ lực nhưng vẫn vô tình mắc phải, tôi đã nói phần đầu bài viết, như: “Bầu trời xanh lồng lộng/ Một địa danh sáng ngời!” (Cột cờ Lũng Cú), nó hơi “sáng choang”, đại ngôn; hay hơi dễ dãi vì tuyên truyền luật giao thông ở “Đội mũ bảo hiểm”, hơi khiên cưỡng ở “Hai bông lúa”...
Có những câu thơ thi sĩ, tôi rất thích nhưng có vẻ tư duy hình tượng ấy hợp với người lớn hơn: “Mặt trời rải nắng cao nguyên Cho bầy ngựa gió phi trên ráng chiều (Chiều cao nguyên)
Đám mây màu cổ tích một lần nữa khẳng định “thế mạnh” điệu tâm hồn của Đỗ Toàn Diện cho một mảng đề tài mà anh không ngừng tìm tòi, sáng tạo trong những năm qua.
Đăng bởi hongha83 vào Hôm qua 15:40
NHỮNG LỜI NÓI THẦM ĐÁNG YÊU TỪ MỘT THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT NGỘ NGHĨNH, TRONG TRẺO
Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC HẠNH
Sáng tác được một tác phẩm văn học hay đã khó, viết được một tác phẩm hay cho trẻ thơ còn khó gấp nhiều lần, Đỗ Toàn Diện đã làm được điều đó với tập thơ Lên trời hái sao.
Khi viết cho trẻ thơ điều khó nhất cho mỗi tác giả là phải xây dựng được một thế giới nghệ thuật ngộ nghĩnh, đáng yêu, theo “Đôi mắt”, “Cách nói” hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ. Qua thế giới nghệ thuật có tính đặc thù ấy, những bài học giáo dục được ẩn giấu kín đáo, truyền tải nhẹ nhàng, phù hợp với trẻ thơ.
Trong tập thơ Lên trời hái sao, tác giả đã đạt được những tiêu chí kể trên, khi mang lại cho các em một “Món quà” thơ ca thật đẹp, xúc động, giàu ý nghĩa nhân văn.
Có rất nhiều phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật đặc sắc trong tập thơ này, trong khuôn khổ một bài viết, tôi chỉ tập trung vào hai vấn đề làm mình say mê nhất mà thôi.
Những bài học giáo dục nhẹ nhàng được gửi gắm trong một thế giới nghệ thuật ngộ nghĩnh, đáng yêu.
Trong một thế giới được tác giả “Vẽ” bằng ngôn từ thật trong trẻo, các em thơ là nhân vật trung tâm đang ngắm nhìn thế giới, đặt ra bao câu hỏi mang “Tư duy trẻ thơ” mà người lớn không dễ trả lời. Và trả lời bằng cách nhìn, cách hiểu, cách nói của trẻ thơ mới thuyết phục được các em, từ đó mới có thể lồng ghép những bài học giáo dục về lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, tinh thần học tập say mê... Bài thơ “Tai thỏ” đã gửi tới các em một thông điệp về lòng trung thực, không được nói dối, qua các hình tượng nghệ thuật rất đáng yêu.
Một tối lên giường ngủ
Tai thỏ bỗng dài thêm
Khóc lu bù cả đêm
Tai cũng không ngắn lại
(...)
Mẹ ơi con ngờ nghệch
Nên lừa dối bạn gà
Tai mới dài thêm ra.
Các em nhỏ bỗng băn khoăn: Vì sao con dơi lại ngủ khi treo ngược trên cành cây? Thì đây, tác giả đã trả lời trong bài thơ “Dơi con ngủ”:
Em ngủ nằm giường
Dơi ngủ treo ngược
Này Dơi nhỏ ơi
Ngủ không nằm giường
Nếu bị chóng mặt
Làm sao tới trường?
Chỉ có trẻ thơ mới nghĩ và nói theo cách đáng yêu đến thế!
Chỉ có nhà thơ nào giữ được đôi mắt “xanh nõn” nhìn cuộc sống mới viết được những vần thơ làm trẻ em thích thú, bởi thấy mình trong đó.
Về hiện tượng đồng âm khác nghĩa của tiếng Việt, Đỗ Toàn Diện cũng có cách lí giải thật ngộ nghĩnh. Đó là con ngựa và cá ngựa trong bài “Cá ngựa”.
Con thì sống dưới nước
Con lại sống trên bờ
Cá có cùng mặt ngựa
Nhưng chẳng hí bao giờ...
Đó là con chuồn chuồn và con cá chuồn trong bài “Cáchuồn”: Cá chuồn gặp chuồn chuồn/ Cả hai bên cùng liếc. Đó là bài học về ý thức gắn bó máu thịt với cội nguồn, với quê hương đất nước: Dù đi xa đến đâu/ Luôn nhớ về nguồn cội.(Cá hồi kể chuyện). Đó là bài học yêu lao động, việc làm dù lớn hay nhỏ nếu có ích đều cao quý như nhau: Chú chim gõ kiến/ Đi khắp đó đây/ Chữa bệnh cho cây/ Chuyên làm việc thiện.
(Chim gõ kiến)...
Có một cách lí giải về trăng độc đáo, ngây thơ, chưa xuất hiện trong bất cứ thi phẩm nào:
Trăng nghịch ngợm leo núi
Trượt chân ngã sứt môi
Trở thành vầng trăng khuyết
Như diều treo giữa trời
(Trăng sứt môi)
Còn rất nhiều ví dụ như thế trong các bài “Chị ơi em xin lỗi”; “Viên tẩy”; “Chim cánh cụt”; “Cầu vồng”... Đỗ Toàn Diện đã “vẽ” và lí giải thế giới theo cách của trẻ thơ, và tái hiện thế giới như những bài thơ này đã/ sẽ làm trẻ thơ thích thú, yêu mến, rồi tiếp nhận các bài học giáo dục một cách tự nhiên, tự nguyện nhất. Đây chính là mong muốn khó thực hiện nhất của các tác giả khi viết cho thiếu nhi.
Hình ảnh quê hương, đất nước và con người trong cái nhìn nghệ thuật song hành hai ánh mắt trẻ thơ - người lớn!
Có thể tạm phân chia thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lên trời hái sao làm hai phần: Một phần dành cho các loài vật, đồ vật gần gũi thân thuộc, được trẻ thơ yêu mến như: thỏ, gà, bò, cá, viên tẩy... Một phần là hình ảnh quê hương, đất nước với bao địa danh hoặc là thắng cảnh: “Cảnh đẹp SaPa”, “Hà Giang”, “Mía Kim Tân”... hoặc là địa danh ghi dấu ấn lịch sử - văn hoá: “Viếng nghĩa trang Đồng Lộc”, “Thành nhà Hồ”...
Cùng với những bức tranh thiên nhiên và bức tranh xã hội ấy hình ảnh những con người thân thương của trẻ thơ cũng đã
được khắc hoạ thật xúc động. Ở phần thứ hai này, trong cái nhìn nghệ thuật có sự giao thoa cách nhìn - cách nói vừa trẻ thơ vừa của tác giả. Vì thế, chất “non tơ” có vơi hụt ít nhiều so với phần thứ nhất, nhưng vẫn có tác dụng định hướng cho các em về những giá trị thuộc về “Chân - Thiện - Mỹ” cần được bồi đắp cho thế hệ “măng non” này.
Đó là các bài thơ “Đẹp lớp đẹp trường”; “Kể chuyện quê em”; “Giọt mồ hôi”; “Thư viện trường em”; “Cô cũng là mẹ”; “Mùa hè thương mẹ”; “Viếng nghĩa trang Đồng Lộc”;
“Tam Đảo”...
Đó là bức tranh rừng núi sống động, được khắc hoạ theo cảm nhận của trẻ thơ: Suối ngàn cũng đã thức/ Chim thánh thót gọi bầy/ Lá rừng dang tay vẫy/ Khỉ chuyền cành đu dây... (Khúc nhạc rừng).
Trong bài thơ “Bố ở ngoài đảo xa”, hình ảnh người bố là bộ đội hiện lên thật đẹp đẽ, rắn rỏi trong đôi mắt em thơ:
Bố em là bộ đội
Canh giữ ngoài đảo xa
Hai bàn tay rám nắng
Săn chắc như cột nhà
(...)
Ngày mai bố hết phép
Bố bảo “Biển gọi rồi”
Con chăm ngoan học giỏi
Bố luôn gần con thôi
Như ở phần 2 này, hai bài thơ hay nhất có lẽ là bài “Lên trời hái sao” và “Mắt vườn”. Bài “Lên trời hái sao” như một gạch nối kì diệu giữa 2 phần của tập thơ: Khung cảnh thiên nhiên ở nông thôn được “cảm” và “tả” bằng đôi mắt vừa trẻ thơ vừa người lớn, ngộ nghĩnh và đáng yêu biết bao? Tình yêu quê hương xứ sở như những giọt mưa ngọt lành chảy mát trong câu chữ:
Tiếng chim vót nhọn xuyên trời
Họ hàng cóc nhái gom lời gọi mưa
Nắng vàng rót mật xuống trưa
Sáo diều vi vút đong đưa gọi mời
Cánh diều uống gió no rồi
Bao nhiêu truyền thuyết góp lời ca dao Chuồn chuồn uống cạn hồ ao
Cá rô nhảy hái ngàn sao ngang trời
Bẹp đầu trê nằm nghỉ ngơi
Chày thương bạn nước mắt vơi lại đầy
Ốc sên với mảnh trăng gầy
Ngàn sao lấp lánh đọng đầy tuổi thơ.
(Lên trời hái sao)
Đây là một bài thơ lục bát hay dành cho trẻ thơ, xứng đáng xuất hiện trong các sách giáo khoa dành cho cấp tiểu học.
Bài thơ hay thứ hai tôi muốn nhắc đến là bài “Mắt vườn”:
Những con mắt thong thả
Từ nứa luồng bước ra
Mắt của những quả na
Quả già, mắt mở to
Quả bé, mắt ti hí
Mắt của những cây mía
Cứ tăm tắp thẳng hàng
Mắt của luỹ tre làng
Thức để ru gió ngủ
Mắt dứa cứ lủ khủ
Nhiều ơi... quá là nhiều
Riêng có mỗi con diều
Là chỉ có hai mắt
Mắt giọt sương trong vắt
Long lanh thật đáng yêu.
Phải có tài quan sát tinh tế, có tình yêu thương thắm thiết dành cho trẻ thơ, cho thiên nhiên và cuộc sống quanh ta mới có thể viết được những vần thơ trong vắt như thế.
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có nhiều tác phẩm thành công viếtcho trẻ thơ, với tập thơ Lên trời hái sao này, tôi vẫn bắt gặp vẹn nguyên một trái tim thi sĩ tràn đầy tình yêu thương dành cho con trẻ, cho quê hương, đất nước. Không có tình yêu thương ấy, không thể viết được những vần thơ trong veo, ngọt lành như thế. Bên cạnh đó, bút pháp nghệ thuật có sự đổi mới ngày một tươi xanh hơn. Mừng vui trước sự thành công tập thơ Lên trời hái sao của Đỗ Toàn Diện, tôi thêm tin tưởng và chờ đợi những sáng tác mới của anh dành cho lứa tuổi “thần tiên” này.
Đăng bởi hongha83 vào Hôm qua 15:50
SỰ HOÀ ĐIỆU CẢM XÚC TRẺ THƠ TRONG ĐÁM MÂY MÀU CỔ TÍCH
Nhà thơ BÙI MINH VŨ
Đỗ Toàn Diện, một nhà giáo gắn bó với học trò, bắt đầu sự nghiệp văn chương từ thơ trữ tình, rồi trào phúng và một vài năm gần đây là thơ thiếu nhi. Năm 2019 anh cho ra mắt Khúc đồng ca mùa hạ; tháng 8 năm nay lại trình làng thi phẩm Đám mây màu cổ tích.
Tập thơ Đám mây màu cổ tích có 38 bài, trong đó nhiều bài viết về các sự vật, con vật, hiện tượng chung quanh trẻ thơ: “Quyển lịch”, “Đồng hồ”, “Bầu bí”, “Voi con”, “Búp bê”, “Bê con lạc mẹ”, “Cá cờ”, “Điện thoại”, “Nguồn gốc họ gà”, “Chó mực”, “Que diêm”, “Hai bông lúa”, “Mướp leo giàn”, “Diều và gió”, “Trời khóc”, “Đội mũ bảo hiểm”, “Đèn xanh đèn đỏ”, “Lên rẫy”, “Buổi sáng nhà em”, “Mùa hè ở quê em”...
Có những sự vật, hiện tượng rất quen, một số nhà thơ đã viết nhưng Đỗ Toàn Diện lại thổi hồn vào, làm cho câu thơ mới hơn, gợi cảm hơn, dễ đi vào tâm trí của trẻ thơ như bài “Đồng hồ”: “Dậy trước mặt trời mọc/ Cứ reng reng reng reng/ Bé ơi dậy rửa mặt/ Nào nhanh lên, nhanh lên/.../ Bé tự thay quần áo/ Ăn mặc thật gọn gàng/ Mẹ bảo nay trời mát/ Chắc là vì bé ngoan/ Cảm ơn anh đồng hồ/ Đã ân cần nhắc nhở/ Reng reng nào nhanh lên/ Giúp bé càng tiến bộ”.
Nhà thơ có những khám phá mới khi nhìn những sự vật gần gũi, thú vị theo cách nhìn của trẻ thơ, giúp các em dễ tiếp nhận như bài thơ “Quạt máy”: “Mùa đông nín thở/ Nằm nép góc nhà/ Mùa hè oi ả/ Vù vù... thở ra/ Ba cánh đoàn kết/ Thua chi gió trời/ Mùa hè nóng bức/ Uống sạch mồ hôi/ Em học em chơi/ Bạn bè đoàn kết/ Cũng như cánh quạt/ Là vui nhất đời”.
Bài học về quan tâm đến những người chung quanh, bằng cách làm những việc có ích, động viên nhau hướng đến tuổi nhỏ làm việc nhỏ rút ra từ bài thơ “Que diêm”: “Tôi là những mẩu gỗ/ Đầu đội mũ diêm sinh/ Ẩn giấu ở trong mình/ Âm thầm một ngọn lửa/ Tôi là que diêm nhỏ/ Nhưng làm việc lớn lao/ Thắp lên ngàn bếp lửa/ Ánh sáng cho mọi nhà/ Tôi là que diêm nhỏ/ Giúp ích cho mọi người/ Tôi mong các bạn nhỏ/ Cũng có ích cho đời”.
Ở bài thơ “Lên rẫy”, tác giả đã gợi lên không khí vui nhộn, vẽ ra một bức tranh bằng điểm nhìn của các em: “Em cùng mế lên rẫy/ Gùi đung đưa, đung đưa/ Con chó vàng quấn quýt/ Theo bước chân nô đùa/ Kìa mặt trời mới ló/ Trên đầu chị tre xanh/Sương treo đầu ngọn cỏ/ Tia nắng chuyền long lanh/ Bao nhiêu ngày chăm học/ Mong đợi đến cuối tuần/ Được tung tăng theo mế/ Xôn xao hoài bước chân”. Từ niềm vui được đi với mẹ, được thấy, được nhìn, các em đã tự hào về nương rẫy, về rừng, từ đó gắn bó, quý trọng hơn:
Rẫy nhà em đẹp lắm
Bắp trổ cờ non xanh
Lúa làm duyên con gái
Suối lượn lờ vây quanh
Rừng đẹp tựa bức tranh
Phong lan muôn sắc nở
Hoa chuối màu thắm đỏ
Giăng mắc như đèn lồng
Tuổi thơ em gắn bó
Bản làng bao yêu thương
(Lên rẫy)
Có những câu thơ thật thà, đồng điệu, hồn nhiên, thể hiện sự biết ơn của trẻ thơ đối với người lớn, đặc biệt là người thầy dạy dỗ các em: “Mấy hôm nay thầy ốm/.../ Râm ran đàn em nhỏ/ Đến thăm thầy quanh giường/ Những bông hồng thắm đỏ/ Mới hái từ trong vườn/ Các em như chồi non/ Như bầy chim ríu rít/ Kể chuyện lớp, chuyện trường/ Thầy vui nên hết mệt...”. (Hạnh phúc giữa đời thường).
Ngoài ra, Đỗ Toàn Diện cũng có một số bài thơ hướng tình yêu các em đến những danh lam thắng cảnh, những địa danh lịch sử và quê hương muôn quý ngàn yêu, như: “Thăm Điện Biên Phủ”, “Thăm Chiến khu D”, “Cột cờ Lũng Cú”, “Cờ đỏ sao vàng”, “Vịnh Hạ Long”, “Hồ Ba Bể”, “Rừng cao su”, “Nắng cao nguyên”... Tác giả cũng ươm mầm tự hào về lá cờ mang hồn nước: “Yêu lá cờ Tổ quốc/ Giữa có ông sao vàng/ Như bông hoa đỏ thắm/ Mọc ra từ không gian/ Sáng thứ Hai hàng tuần/ Chúng em đứng nghiêm trang/ Lá cờ cùng bắt nhịp/ “Tiến quân ca” rộn ràng/ Lá cờ mang hồn nước/ Một dải liền núi sông/ Chúng em nguyện tiếp bước/ Theo những gương anh hùng” (Cờ đỏ sao vàng).
Với tập thơ Đám mây màu cổ tích, Đỗ Toàn Diện đã hoà điệu cảm xúc tuổi thơ, dần khẳng định cho riêng mình một chỗ đứng trong văn học viết về để tài thiếu nhi ở Đắk Lắk.
Trang trong tổng số 2 trang (20 bình luận)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2]
Bình luận nhanh 3
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.