Trang trong tổng số 2 trang (14 bình luận)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối
Đăng bởi hongha83 vào 02/06/2025 12:02
Cho đến nay, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã in 16 tác phẩm thơ. Đỗ Toàn Diện có gửi cho tôi 6 tập, trong đó có tập thơ mới nhất là “Lên trời hái sao”, năm 2023.
Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Khi nào thì người ta làm thơ? Ấy là lúc nhà thơ có nhu cầu nói chuyện với cô đơn trong lòng mình. Đọc thơ Đỗ Toàn Diện thấy “bản đồ tâm hồn” nhằng nhịt trong ông, quê hương thứ nhất, quê hương thứ hai, đồng đội, gia đình, đồng nghiệp. Điều này hiển lộ qua “Ước mơ nhà rông”, tập thơ xuất bản cách đây đã 15 năm. “Ước mơ nhà rông” được bố cục làm hai phần, gồm 45 bài thơ thì phần I có tiêu đề “Vùng đất và con người Tây Nguyên huyền thoại”, gồm 17 bài. Chắc chắn, Đỗ Toàn Diện viết để tri ân vùng đất đỏ bazan thừa nắng, thừa mưa, thừa gió đã cưu mang ông và gia đình, cho ông ký ức, sống và đam mê sáng tạo.
“Cao nguyên xanh trong câu thơ/ Bazan đỏ trong chiều tím/ Trường ca Đam San hùng vĩ/ Thấm vào lời ru cao nguyên” (Lời ru cao nguyên); đó là nơi “Chỉ có gió và gió/ Thổi bạc phếch mái đồi/ Đàn voi đi ngang trời/ Nhuộm bụi hồng tiền sử” (Gió trên đỉnh cao nguyên).
Yêu Tây Nguyên, chứng kiến sự thay đổi, nhà thơ Đỗ Toàn Diện thấy mừng; nhưng anh cũng đau đớn trước một Tây Nguyên đã và đang bị “sa mạc hoá”, các dòng sông khô khát, đá lở, đất sụt lún, rừng ngày càng bị thu hẹp... “Thơ không phản ánh hiện thực thì phản ánh cái gì” (nhà thơ Lê Tuấn Lộc), dẫu hiện thực đã được “khúc xạ” qua tâm hồn nhà thơ.
“Mùa nứt nẻ suối đầu nguồn trơ đá/ Nước lòng khe trốn biệt phương nào/ Lũ muông thú thét gào tìm nước/ Cơn gió phơn bỏng rát gió Lào” (Mất rừng), hoặc: “... Những tượng nhà mồ dần dần vắng bóng/ Rừng trụi trơ, muông thú cũng thưa dần/ Không còn hươu nai, công múa trong huyền thoại/ Rừng đã chìm vào tít tắp xa xăm” (Rừng Tây Nguyên).
Tây Nguyên là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc. Đây là một vùng văn hoá, đại diện là trường ca và sử thi; được coi như là những biên niên sử về quá trình hình thành và phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống cộng đồng của cư dân các tộc người trên dãy Trường Sơn. Cồng chiêng là hồn cốt Tây Nguyên và nhiều lễ hội mang màu sắc tâm linh, phồn sinh, phồn thực...
“... Trai gái M’nong nồng nàn ngất ngây/ Lời chiêng gọi bao bước chân vào nhịp/ Anh nắm tay em má ửng hồng da diết/ Cứ dâng mời Đắk R’lấp ngẩn ngơ say/ (Đêm hội Đắk R’lấp); hoặc: “... Vùng đất Buôn Đôn huyền bí thiêng liêng/ Còn ấp ủ trong miệng bầu, miệng ché/ Những dũng sĩ săn voi đã tạc vào dáng núi/ Khắc lên tượng gỗ nhà mồ” (Trên cầu treo Buôn Đôn).
Giữa phát triển và bảo tồn đang tạo ra nhiều “xung đột”. Qua thơ Đỗ Toàn Diện đã “phát lộ” bản sắc văn hoá Tây Nguyên đang có biểu hiện bị mai một, đời sống thôn dã ở buôn, làng với biết bao vẻ đẹp đang trước nguy cơ bị biến thái. “Tượng nhà mồ là những chứng nhân/ Giao thoa giữa hỗn mang và hiện tại/ Nhà rông, nét văn hoá Tây Nguyên vẫn muôn đời tồn tại/ Lưu giữ cho đời mơ ước của ngàn năm” (Ước mơ nhà rông). Nhà thơ Đỗ Toàn Diện nhận ra bản sắc văn hoá của vùng đất nơi anh sinh sống và mơ ước.
Đỗ Toàn Diện là nhà thơ của những cảm xúc từ đời sống. Mưa rừng hay nắng mùa khô đều quất vào tâm hồn lắm ưu tư, suy tư của anh mà thành thơ. Bên cạnh những bài thơ làm cho Tây Nguyên hiện lên huyền bí, óng ả, “Anh về miền bazan/ Gặp những chàng trai cô gái M’nong/ Đang vỡ đất cho mùa màng gieo hạt/ Gió đại ngàn vỡ lời đói khát/ Gọi mưa về cho mùa vụ tốt tươi” (Ký hoạ cao nguyên); còn là một Tây Nguyên khác với đời sống đầy thân phận: “Cha mẹ bận gùi nghèo khó lên nương/ Một mình chang chang đuổi theo đàn bò gặm nắng/ Khu rừng vắng cứ trơ trơ im lặng/ Lang thang heo hút lưng đồi” (Những đứa trẻ ở Ea Ytiêng).
Bao giờ những đứa trẻ con em đồng bào dân tộc bớt lấm lem, ấm cái bụng, được đến trường? Bao giờ thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo. Qua thơ Đỗ Toàn Diện còn cho thấy biết bao vấn đề an sinh xã hội đặt ra. Để Tây Nguyên xanh, phát triển bền vững phải xanh mơ ước, xanh tâm hồn.
***
Đỗ Toàn Diện không chỉ là nhà thơ tình lãng mạn bay bổng, nặng lòng suy tư trước thời cuộc, thế sự; mà còn là một nhà thơ sáng tác cho thiếu nhi. Trong “gia tài thơ” của mình, hiện đã có nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi. Trong 6 tập thơ mà tôi từng đọc, có “Những điều trông thấy”, năm 2009; “Tuổi chuồn chuồn”, năm 2021 và “Lên trời hái sao”, năm 2023 là thơ viết cho thiếu nhi. Anh đã có 28 bài thơ thiếu nhi được tuyển chọn vào sách tham khảo, sách thực hành và sách giáo khoa. Đó là con số đáng ghi nhận và trân trọng.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khi viết lời tựa “Người mở thêm những ô cửa” cho tập “Lên trời hái trăng” của Đỗ Toàn Diện đã khẳng định: “Sáng tác cho thiếu nhi là lĩnh vực vô cùng khó mà khó hơn khi viết bằng thơ”. “Những khung cửa” theo quán chiếu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, chính là gợi lên trí tưởng tượng, khả năng quan sát của trẻ nhỏ từ những sự việc, đồ vật, ông bà, bố mẹ, anh chị em, trường lớp xung quanh đến các hiện tượng tự nhiên như mưa nắng, trăng sao...
“Nhà dài như con rết/ Nên có rất nhiều chân/ Dài như đoàn tàu hoả/ Mắt mọc dọc bên thân” (Nhà dài ngộ nghĩnh). Đấy là ở góc độ trực cảm; và “Bé ngẩn người ra thế/ Nhưng vẫn nghĩ trong đầu/ Nhà dài sao ngồ ngộ/ Mắt nhiều chẳng có râu” là kích thích góc độ tưởng tượng của trẻ nhỏ. Hay nói cách khác, “thiên chức” của thơ viết cho thiếu nhi là kích hoạt đầu óc quan sát, tưởng tượng, chất vấn của trẻ em. Về mặt này, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã tinh tế, tinh nghịch và có nhiều thành công, tạo ra được “ngôn ngữ” trẻ con trong những “ô cửa” của mình.
“Trăng nghịch ngợm leo núi/ Trượt chân ngã sứt môi/ Trở thành vành trăng khuyết/ Như diều treo lưng trời” (Trăng sứt môi). Bài thơ tứ tuyệt “Trăng sứt môi” cho thấy Đỗ Toàn Diện luôn có những thành công trong sáng tạo hình ảnh ngộ nghĩnh. Chợt nhớ nhà thơ Tùng Bách (Nghệ An) cũng là một người thành công ở mảng viết cho thiếu nhi từng nói với tôi: “Để viết được cho thiếu nhi, phải sống lại tuổi thiếu nhi”. Đúng vậy, với tâm hồn “già” không dễ chạm đến tâm hồn “trẻ”.
Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Có một thế giới mà mọi thứ trong đó luôn bình đẳng, luôn hồn nhiên và hoà đồng với nhau trong một ngôn ngữ chung chính là thế giới trong tâm hồn trẻ thơ”. Đỗ Toàn Diện đã chọn ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi để đến với trẻ em. Thơ anh không chỉ khơi mở, gợi ý quan sát mà còn có tác dụng giáo dục, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ.
Cho đến nay, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã gặt hái được nhiều thành công. Đỗ Toàn Diện đã đến tuổi “chín” của vốn sống và vốn từ. Với trái tim nặng trĩu âu lo và tâm hồn nhạy cảm “vấp phải tiếng chim bay ngang trời ríu rít”, anh tiếp tục dấn thân, sáng tạo. Con người anh bộc lộ qua thơ thành một “chân dung” tâm hồn. Nói như nhà thơ Trịnh Bích Ngân “Thơ không chịu được sự che đậy. Thơ càng không chấp nhận nửa vời”.
Đăng bởi hongha83 vào 16/10/2025 18:27
Sáng tác văn học về thiếu nhi là một lĩnh vực vô cùng khó, và càng khó hơn khi viết bằng thơ. Nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã “lên đường” cùng những đứa trẻ trong nhiều năm nay. Anh bền bỉ và đắm mê trên con đường trở về với thế giới tuổi thơ. Và từ đó, anh mở ra những ô cửa mới cho những đứa trẻ nhìn vào thế giới mà chúng đang sống trong đó.
Như mọi nhà thơ khác, nhà thơ Đỗ Toàn Diện dẫn những đứa trẻ vào một thế giới quen thuộc của chúng. Đó là những cá ngựa, cá chuồn, cá hồi, chim gõ kiến, con thỏ, con dơi, hoa bưởi, hoa phượng, rồi nhà dài, nhà sàn, những đám mây, đến những con người cụ thể trong gia đình và trong cộng đồng, đến nhà trường với thầy cô, bè bạn và cả những câu chuyện cổ tích.
Có một thế giới mà mọi thứ trong đó luôn bình đẳng, luôn hồn nhiên và hoà đồng với nhau trong một ngôn ngữ chung chính là thế giới trong tâm hồn trẻ thơ. Nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã hiểu điều đó hay có thể nói tất cả những ai viết về trẻ em
phải thấu hiểu điều đó. Tất cả những nhân vật đó và những câu chuyện đó cùng hiện ra trong một thế giới trong sáng, yêu thương, đẹp đẽ và mang một giấc mơ tinh khôi về thế gian này.
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện không nhằm miêu tả những gì trong thế giới ấy, cũng không nhằm lý giải mà là khám phá ra những vẻ đẹp nhân văn, sự gắn kết giữa những cái cây, đám mây với
côn trùng, chim muông và con người. Anh tạo ra một thế giới “đại đồng’’ của tất cả những gì được tạo hoá sinh ra trên thế gian này. Và từ đó, anh lặng lẽ gieo vào lòng những đứa trẻ những hạt giống của cái đẹp và lòng nhân ái mà mở ra trí tưởng tượng đầy tính trẻ thơ từ những điều và từ những con người thân thuộc.
Một điều rất quan trọng là nhà thơ Đỗ Toàn Diện
không nhằm đạo đức hoá các câu chuyện của mình. Anh chỉ đưa trẻ em tới những vẻ đẹp của thế giới quanh chúng. Và từ những vẻ đẹp thân thuộc và sống động ấy làm cho những đứa
trẻ yêu vạn vật quanh mình. Khi yêu được vạn vật quanh mình thì chúng sẽ biết ứng xử với thế giới như thế nào.
Hầu hết những bài thơ trong tập thơ này nhà thơ Đỗ Toàn Diện chọn thể loại thơ 5 chữ và thơ lục bát. Nhịp điệu của các thể thơ này mang nhạc tính của những lời ru, của những bài đồng dao và phù hợp với cách đọc, cách cảm của những đứa
trẻ. Việc chọn lựa thể thơ và chọn lựa những đối tượng mà các bài thơ đề cập tới là điều quan trọng khi viết cho trẻ em. Chính vì điều đó mà những bài thơ của nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã mở đã mở thêm những ô cửa cho trẻ em nhìn thấy những điều mới mẻ trong thế giới mà chúng lớn lên, quan sát và tương tác.
Những bài thơ trong tập đã tạo lên một tình cảm và một cái nhìn trong sáng của trẻ em với vạn vật quanh mình, từ đó nẩy sinh ý thức của chúng về nơi chúng sinh ra và lớn lên.
(Nguyễn Quang Thiều)
(Đôi dòng về thơ Đỗ Toàn Diện)
Cầm trên tay bản thảo tập thơ của Đỗ Toàn Diện, tôi xem như là một món quà bạn bè mang về từ Cao nguyên và đã tưởng mình có thêm những bài thơ toàn nắng và gió, toàn tiếng chiêng và tiếng
vọng non ngàn... những bài thơ, thú thực, đã có nhiều, không cũ và cũng chẳng mới. Nhưng hoá ra không phải như vậy. Chàng trai đến từ xứ Thanh đã đắm mình vào cao nguyên theo một kiểu khác. Sự dịch chuyển không gian đối với anh dường như không có gì quan trọng. Ngoại giới, dù có lạ lẫm như thế nào, cũng chỉ đóng vai trò “kích nổ” cho những ý tưởng, những cảm xúc vốn đã dằn nén trong anh từ bao giờ. Tôi cứ nghĩ có lẽ trong tâm tưởng của Diện, những nổi chìm đột ngột của đồi núi cao nguyên kia chẳng hạn, nào
có khác gì những nhấp nhô dữ dội nơi sông Mã quê anh!
Nói như thế cũng có nghĩa là đã động đến phần cơ bản của thơ Đỗ Toàn Diện: Thơ anh nặng về tâm trạng. Những sắc thái tâm trạng trong thơ anh có lúc sâu sắc, có lúc còn phát tán, nhưng bao giờ nó cũng là cái hứng để anh đi tới, để anh có thể tước bớt đi những hoa lá cành không cần thiết, làm hé ra những vỉa ngầm nấp dưới câu chữ. Phải là một cái nhìn chứa đầy tâm trạng thì mới thấy “Cao nguyên như con thuyền hoá đá
giữa hoang sơ”, mới thấy “Chiều Buôn Đôn trầm tư/ Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”, mới có thể đột phá vào một bình minh “Ngàn thông như mác dựng trời mà lên”...
Tôi không quan tâm đến việc những câu thơ như thế có nói được gì nhiều về vùng đất anh đang sống hay không, nhưng tôi thấy được một sự không bình lặng trong tâm hồn anh. Như thế có sao không? Tôi nghĩ là không. Đừng nên đòi hỏi quá nhiều ở một người làm thơ.
Một tâm hồn không bình lặng thì chưa đủ để trở thành một nhà thơ, nhưng đã là một nhà thơ thì làm gì còn sự bình lặng trong tâm hồn nữa - bởi khi ấy ta chỉ còn những câu chữ nhợt nhạt, những cái nhìn vô cảm, những buồn vui giả vờ...
Từ sự không bình lặng trong tâm hồn đến một cảm quan về nhân tình thế thái chỉ còn là gang tấc. Những bài thơ có màu sắc thế sự của Đỗ Toàn Diện chứng minh rất rõ điều này. Anh chạnh lòng trước trái sầu riêng chỉ bởi nó gai góc quá, nó không chịu giống ai, bởi vậy “Những loài cây khác tránh xa/ Cho nên côi cút để mà sầu riêng”. Anh nhìn cái dáng cúi mình xin ăn của người hành khất như một dấu hỏi, để từ đó “Mỗi khi đi ngang cổng chợ Trời/ Tôi lại gặp bao nhiêu dấu hỏi”. Và ngay cả tình yêu trong anh cũng vậy, cứ khắc khoải mãi một câu hỏi có vẻ như đã chạm tới cách thế làm người:
Khi yêu sao chẳng hết mình
Để sau ân hận mỗi lần chợt yêu...
Ở những bài thơ như thế, mỗi ý tưởng của tác giả giống như một cái neo thả vào tâm trí người đọc, và nó có nhiều cơ hội giữ được con-tàu-thơ dừng lại lâu hơn. Nhưng chỉ cần sơ sểnh một chút trong cấu tứ hoặc ý tưởng, cái neo kia sẽ trở nên nhẹ bỗng. Đỗ Toàn Diện đã chọn một lối đi chênh vênh cho thơ mình, giữa cảm xúc và triết lý, giữa mơ mộng và nghiệt ngã đời thường, nhưng những bước đi ban đầu của anh đã khá chắc chắn. Tôi cứ nghĩ đến bài thơ “Sự thật” của anh. Dẫu chưa thích lắm cái khẩu khí của nó, nhưng tôi lại thích cái mạnh mẽ, dám chấp nhận ở con người anh:
Mẹ tôi bảo:
Tôi sinh ra không khóc, không bò
Vươn thẳng người đứng dậy
Đi ngay
Và sau này
Tôi
Chẳng thể nào uốn gối.
Anh có dám chấp nhận như thế trong cuộc chơi đầy nhọc nhằn có tên gọi là sáng tạo thơ ca hay không?
Hình như câu hỏi đã có chút vô duyên, bởi lẽ từ lâu rồi, anh đã là kẻ “Rải trắng ưu tư trên mái đầu thầm lặng” cho anh và bây giờ cho tôi...
Có một nhà giáo yêu thơ, yêu đến si mê nên hầu như chỉ làm thơ mà không động bút sang các thể loại khác. Si mê đến mức ngồi đâu cũng nói chuyện làm thơ, đọc thơ nên một số người chưa thật hiểu, chưa thật thông cảm lại cho là gàn gàn, hâm hấp - đó là Đỗ Toàn Diện. Đọc tập thơ Ước mơ nhà rông của anh mới nghiệm ra rằng: Nếu tỉnh táo quá, lý trí chiếm hết chỗ thì còn phần nào cho tâm hồn trú ngụ để thơ cất cánh. Thì cứ “hâm hấp” chứ sao. Thực ảo đan xen đến độ giao hoà cho có cái hay, cái đẹp.
Thông cảm với nỗi vất vả của người phụ nữ Tây Nguyên, Đỗ Toàn Diện viết: Trẻ con đánh đu trên những lưng gầy/ Mẹ vẫn vung chày, cánh tay chắc nịch (Ngày mới từ những nhịp chày). Người mẹ địu con trên lưng mà giã lúa, mà kéo bình minh lên. Giã sớm lắm, từ khi ông mặt trời chưa dậy. Tôi rất thích từ đánh đu và có liên tưởng buồn... khi so sánh với loài linh trưởng.
Thơ Đỗ Toàn Diện có hoang sơ, phóng túng của đại ngàn hùng vĩ. Con người làm chủ, giao cảm đất trời, lật tìm quá khứ. Từ “gùi nước” thì bình thường nhưng từ “hái gió” thì thật là lạ: Gùi nước lòng khe, hái gió đỉnh trời/ Đánh thức đá cất lời huyền thoại (Dấu chân thời gian).
Khi viết về nhà rông, các thi sĩ thường ví như lưỡi rìu hay vành trăng khuyết, Đỗ Toàn Diện có lối so sánh khác, so sánh với mũi lao cho mới, cho trẻ, cho vươn cao cùng tiếng chiêng đồng vọng:
Mơ ước ngàn đời bay tới những vì sao. Nhà rông như mũi lao, lao vào trời thẳm. Người Tây Nguyên nuôi ước mơ trẻ mãi. Gửi lòng mình qua đồng vọng hồn chiêng (Ước mơ nhà rông)
Nói đến vùng đất Đắk Lắk không thể không nói đến voi. Giả sử không có voi thì các lễ hội của Đắk Lắk sẽ giảm độ hoành tráng biết bao nhiêu, văn hoá du lịch lấy gì để mà quảng ná? Đỗ Toàn Diện đã biết điểm nhấn này mà khái quát, để cùng lắc lư, cùng ngây ngất trên bành voi mà suy cảm:
Bành voi đi chao đảo không gian
Như lạc bước vào vùng huyền thoại
Gió đại ngàn cứ thổi vào trống trải
Nghe âm âm hồn sông núi hiện về
(Cưỡi voi Buôn Đôn)
Bài “Gió trên đỉnh cao nguyên” coi như dấu chấm xuống dòng hoặc chấm sang trang, kết thúc nửa đầu tập thơ với cùng đề tài về một vùng đất. Thơ năm chữ liền mạch, nhịp nhanh, phóng túng, xô bồ như gió cao nguyên:
Chỉ có gió và gió
Thổi bạc phếch mái đồi
Đàn voi đi ngang trời
Nhuộm bụi hồng tiền sử
Thơ Đỗ Toàn Diện không chỉ viết riêng về Đắk Lắk, Tây Nguyên mà còn mở rộng mối giao cảm với các vùng miền khác, bằng cả những trải nghiệm, những tâm tình trải dài, xuyên suốt già nửa cuộc đời. Trong bài “Tuổi thu buồn”, để tưởng nhớ người cha của mình vào cái thời cơ cực, tác giả đã dùng những từ ngữ dồn nén, chất chứa buồn thương đến trào nước mắt:
Đời tôi như mùa thu
Đong tuổi buồn lá rụng
...
Tôi cõng ngày đến trường
Lượm nhặt từng con chữ
Từ đong tuổi cũng làm mới cho thơ. Có thể tìm thấy rất nhiều từ, nhiều câu khá tâm đắc, người đọc dù khó tính cũng chấp nhận và sẵn sàng chia sẻ: Một mình ngồi vớt cơn mưa (Đà Lạt mưa), Nỗi buồn thổi héo mùa thu (Về cõi); hay trong bài “Mẹ tôi”: Nuôi con gầy rạc mùa thu/ Nửa khuya con khóc, mẹ ru chính mình... Thì những từ ngữ: vớt cơn mưa, thổi héo màu thu, gầy rạc mùa thu đều rất lạ.
Trong bài “Tháp Chàm” cũng có từ lạ, người ta thường nói cắm vào đất, găm vào cây, vào tường thì Đỗ Toàn Diện lại có cách nói mới để cắm, để găm thơ mình vào lòng người đọc.
Tháp Chàm vẫn hiện hữu
Sừng sững cắm vào trời
Thời gian dù hoang phế
Găm vào lòng nhân gian
Không kể hai tập thơ in chung cùng nhiều bài khác trong các tuyển tập, Đỗ Toàn Diện đã in riêng 6 tập thơ. Chỉ riêng số lượng cũng đáng nể, đáng nể về sự ham đi, ham viết, ham gặp gỡ các nhà thơ để học hỏi và xứng đáng là đệ tử trung thành của thi ca. Liệu có nói quá không, khi coi Đỗ Toàn Diện là tín đồ của thi giáo? Gần đây Đỗ Toàn Diện viết nhiều thơ trào phúng, trong bài “Tìm một con đường mới” đăng trên Báo Văn nghệ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khi đọc tập thơ Những điều trông thấy của Đỗ Toàn Diện đã nhận xét: “Trong một thời đại mà không phải nhiều người dám cất tiếng nói thật về những giá trị giả, những thói đời đen trắng, những bất công xã hội... thì sự cất tiếng một cách dũng cảm và bền bỉ của Đỗ Toàn Diện cho thấy lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút”.
Cùng với thơ trào phúng, thơ trữ tình của Đỗ Toàn Diện cũng đơm hoa kết quả mà tập này là minh chứng.
Chị tôi bán hàng cho người Âm để nuôi người Dương
Chị mong tháng có nhiều ngày Rằm, nhiều ngày mồng một
...
Chị vẫn âm thầm như cái bóng
(Chị tôi)
Chỉ có yêu tha thiết cuộc đời này, thông cảm mỗi kiếp người mới có câu thơ hư ảo, thật giả, trộn lẫn âm dương như thế. Triết lý nhân sinh này chẳng cao xa mà rất gần gũi, rất đời thường. Khép lại tập thơ, mừng cho Đỗ Toàn Diện, đồng nghiệp của tôi: Nhà giáo - nhà thơ!
Quen biết và đọc thơ của Đỗ Toàn Diện đã lâu. Từ năm 1992 tôi đã giới thiệu tập “Hoa trong cỏ”, in chung ba người, trong đó có Đỗ Toàn Diện.
Phải công nhận, làm thơ với Đỗ Toàn Diện là sự kiên trì, khổ luyện. Diện thử sức ở nhiều thể loại, tìm hướng đi cho mình để có thơ châm và thơ thiếu nhi. Cả hai đều khó viết, viết cho bạn đọc nhớ lại càng khó.
Đám mây màu cổ tích là tập thơ viết cho thiếu nhi được nhà thơ chăm chút trở thành ấn phẩm đẹp cả về nội dung và hình thức.
Trong đó, “Trời khóc” là bài hay, có cái nhìn ngộ nghĩnh qua lăng kính trẻ thơ. Trời có mặt, có mắt, nhìn khắp thế gian mà có lúc phải khóc: “Mây đen che mặt/ Nhìn chẳng thấy gì/ Bị thần sét quát/ Trời cũng khóc nhè”. Cơn mưa thường kèm sấm chớp. Thần sét quát, trời khóc nhè, ngây thơ lắm, trẻ em lắm nên chi tiết này rất đắt.
Bài “Cuội” có tứ hay, hợp tâm lý lứa tuổi: “Chú Cuội tênh nghếch/ Gốc đa mỉm cười.”. Cuội cũng ngủ gật vì gió mát hiu hiu nên để trâu đi mất: “Bỗng chú tỉnh giấc/ Trâu đâu mất rồi?/ Làm sao tìm được/ Đầy trời sao rơi!”.
Bài “Quạt máy” liên tưởng đến sự đoàn kết. Ba cánh của quạt máy, bạn nhỏ dễ liên hệ đến ba cây chụm lại tạo nên sức mạnh. Tôi rất thích câu: “Mùa hè nóng bức/ Uống sạch mồ hôi.” Từ uống sạch có sự tìm tòi, sáng tạo, nâng cả câu thơ và bài thơ vì phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của tuổi thơ.
Bài “Hồ Ba Bể” có một khổ thơ khá thú vị qua lăng kính của trẻ em: “Giữa núi rừng bát ngát/ Cây uốn lượn như rồng/ Cây sà xuống uống nước/ Sắc phong lan tím hồng.”. “Cây sà xuống uống nước” là câu thơ hay, có sự tìm tòi, hình ảnh đẹp, gợi cảm.
“Mặt trời ham chơi” là bài thơ đẹp cả về hình ảnh, cấu tứ. Yhể hiện đúng tâm sinh lý lứa tuổi khi nghĩ về mặt trời những ngày dậy muộn. Vì mê ngủ, không nghe gà gọi, trời rét, lười biếng nên: “Kéo chăn mây che. Mặt trời thức dậy”. Sinh khí ùa vào cảnh sắc, thơ cũng reo vui: “Những giọt sương trốn biệt/ Chim chuyền cành reo vui/ Đồng quê bừng tỉnh giấc/ Cánh cò treo ngang trời.”. Cánh cò bay liệng thì nhiều người đã viết, còn cánh cò treo thì mới, lơ lửng và chầm chậm trong buổi bình minh. Thật đẹp và thơ mộng để dẫn đến đoạn kết mang tính hiáo dục nhẹ nhàng, thấm thía:
Ông mặt trời hối lỗi
Bởi cái tội ham chơi
Khuya chưa chịu đi ngủ
Nên dậy muộn đấy thôi!
Bài “Quyển lịch” được đưa lên đầu tập là hợp lý, có thể do viết sớm hơn các bài khác, nhưng nó là sự vĩnh hằng của thời gian theo suốt bốn mùa rồi quay trở lại. Mang tính giáo dục lại có tính triết lý: “Lao động miệt mài/ Gầy theo năm tháng/ Thời gian mải miết/ Tôi vẫn âm thầm/ Nhắc cho người biết/ Công việc chuyên cần”. Quyển lịch - thời gian - con người, đó cũng là lời nhắn nhủ với các em.
Bài “Mùa hè ở quê em”, hình ảnh rất gợi cảm. Thương người lao động vất vả trước thiên nhiên khô cằn:
Nóng bức và cồn cào
Ve sầu mệt khóc lả
Hai mẹ con nhà nghé
Trốn bụi tre nhai trầu!
Những câu trên xứng đáng được xếp vào hàng những câu thơ hay viết cho thiếu nhi.
Bài thơ lấy tên chung cho tập: “Đám mây màu cổ tích” để cuối tập là có dụng ý, gói gọn cuộc hành trình: “Trong ngôi nhà cổ tích/ Viền mây màu ngũ sắc.”. Phiêu du cùng mây, trước hết là quê hương: “Qua cánh đồng trĩu hạt/ Tiếng sáo diều bát ngát.”.
Rồi mới bay xa đến châu Phi: “Cưỡi lưng hươu cao cổ/ Ngựa hoang vằn mê ly/ Có sư tử vờn mồi... Ngắm thoả thuê đài voi.”.
Giấc mơ đẹp, lãng đãng phiêu bồng mà thiếu niên đọc truyện tranh để đêm ngủ thường mơ tới.
Tập thơ sử dụng chủ yếu là thơ bốn hoặc năm âm tiết, dễ nhớ, dễ thuộc, mang âm hưởng của vè, đồng dao rất phù hợp với trẻ em. Thành công của tập thơ là điều hiển nhiên. Chỉ có điều nhiều câu kết các bài thơ mang tính giáo dục còn lộ liễu ý đồ của tác giả, mà thơ cần ý tại ngôn ngoại. Thí dụ như các bài “Đội mũ bảo hiểm”, “Cờ đỏ sao vàng”, “Voi con”... câu kết chưa hay. Còn bài “Lên rẫy”, có câu: “Sương treo đầu ngọn cỏ/ Tia nắng chuyền long lanh” nghe quen quen, hình như trong bài “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung viết từ thời chống Pháp được giải thưởng quốc tế cũng viết: “Sương treo đầu ngọn cỏ/ Sương lại càng long lanh.” Một vài sơ suất nhỏ nhưng tập thơ vẫn đáng đọc và mảng đề tài viết cho thiếu nhi rất khó, cần khuyến khích.
Đăng bởi hongha83 vào 28/10/2025 20:46
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện say mê thơ từ sớm, thử sức nhiều thể loại. Viết cả thơ trữ tình, thơ châm biếm nhưng thành công hơn cả là thơ thiếu nhi.
Tháng 5/2021 anh trình làng tập thơ Tuổi chuồn chuồn mang dấu ấn riêng để tặng cho tuổi thơ. Tập thơ gồm 50 bài với 120 trang in đã phần nào đồng cảm với lứa tuổi thần tiên từ mẫu giáo đến học sinh tiểu học.
Bài “Bóng điện làm xiếc” mang cảm nhận trẻ con vui vui: “Chúc đầu xuống đất/ Mở mắt sáng loà/ Bóng đen biến mất/ Núp sau lưng bà”. Phải là người yêu trẻ, đồng cảm tương thông mới viết được như vậy.
Bài “Na mở mắt” lấy hình tượng quả na để quan sát sự vật xung quanh, cảm nhận cuộc sống tươi đẹp. Tuổi thơ ưa tìm hiểu để yêu và để hiểu. Mở mắt để thấy các việc: Chim sâu mải miết bắt sâu, thấy giàn trầu, cây bồ kết, hoa hồng, hoa cúc, đàn gà theo mẹ để đi đến kết luận: “Ôi! Khu vườn thần tiên/ Đi lạc vào cổ tích/ Lần đầu na mở mắt/ Cứ ngỡ mình nằm mơ.”.
Quan sát để hiểu thấu đáo sự vật, nhà thơ viết bài “Chim bói cá”, chim đứng hàng giờ để rình bắt mồi: “Chú chim bói cá/ Đức tính kiên trì/ Cần mẫn chăm chỉ/ Như nhà tiên tri.”. Chim bói cá bất động để cá không biết đến sự có mặt của mình. So sánh chim bói cá với nhà tiên tri là chính xác.
Quan sát sự vật hiện tượng, trong đầu các bé thơ đặt ra bao câu hỏi để khám phá thế giới, tìm hiểu thế giới. “Râu ngô” là bài hay về suy nghĩ của tuổi mẫu giáo: Mới vài tháng, ngô đã có râu. Lạ nữa: “Còn bé râu đã bạc/ khi già râu lại đen” khác hẳn với người, khác hẳn những gì bé biết về người: “Người trưởng thành râu đen/ Khi già râu bạc trắng/ Ngô và người khác lắm.”. Khám phá tự nhiên là thế, khoa học là thế, gần gũi với trẻ là thế.
Bài “Cổ thụ” viết về cây chò ngàn tuổi, chứng kiến sự biến thiên của lịch sử: “Che cả một vùng/ Cháu con đông đúc/ Luôn
luôn đoàn kết/ Sống quanh thân chò.”. Bài học đoàn kết là sức mạnh được truyền tải nhẹ nhàng mà sâu sắc: “Dù cho bão tố/ Chẳng hề âu lo/ Cây chò lừng lững/ Với sao đo trời.”. Hiên ngang bền bỉ, với sao đo trời hay và khí thế!
Bài “Sông Hương” có hình ảnh đẹp, hiền hoà thơ mộng giữa Kinh thành Huế. Sông Hương cũng là sông Thơm đồng nghĩa: “Thuyền ghe tấp nập/ Bơi vào trời xanh/ Sông Hương thơm nức/ Chảy nghiêng bên trời.”, là những câu hay, mang cảm nhận của tuổi thơ khi đến với Huế thơ, Huế mộng.
Bài thơ “Chim bắt cô trói cột”, tác giả kể lại sự tích của loài chim đầy lòng thương cảm; sự tích này nhiều người biết, được lược thuật bằng thơ nên cảm động. Cô bé chăn trâu cho phú ông để mất một con, nên phú ông đem cô vào rừng trói lại. Cô chết biến thành chim kêu khóc thành tiếng “Bắt cô trói cột”, gián tiếp lên án chế độ bất công ngày xưa, người tầng lớp dưới bị chà đạp: “Hoá con chim khóc thảm thê/ Bắt cô trói cột ủ ê suốt đời/ Bắt cô trói cột tàn hơi/ Đêm đêm chim khóc đầy trời tang thương.”
Bài “Tàu hải quân” viết về chiến sĩ hải quân canh giữ biển trời qua lăng kính tuổi thơ: “Tàu như ngựa chiến/ Cưỡi sóng trùng khơi/ Tàu như vầng trăng/ Bơi trên mặt biển.”. Có gian nan nhưng lại lãng mạn trong tâm hồn tuổi thơ khi so sánh tàu với ngựa chiến, với vầng trăng.
Bài thơ mở đầu lấy tên chung cho tập “Tuổi chuồn chuồn” là điển hình giới thiệu chung cho tuổi thơ. Tuổi thơ mê say, tuổi thơ vụng dại, tuổi thơ khám phá. Có nhiều kỷ niệm với chuồn chuồn, với tuổi chuồn chuồn: “Chuồn chuồn đuổi bắt tuổi thơ/ Chang chang đội nắng... dại khờ đen da.”. Hay cho câu “đuổi bắt tuổi thơ”, gắn bó với chuồn chuồn, với người không phải đuổi bắt chuồn chuồn mà chuồn chuồn đuổi bắt mình trong nắng hạ cháy da. Rồi cho chuồn chuồn cắn rốn để mau chóng biết bơi chẳng biết có từ bao giờ nhưng đứa trẻ lại tin là thật rồi câu ca dao dự báo thời tiết khi nhìn chuồn chuồn bay lượn.
Không thể không nói đến những tranh, ảnh minh hoạ cho mỗi bài thơ rất phù hợp mà nhà thơ đã cố công sưu tầm để tập thơ càng duyên dáng giúp trẻ em thêm yêu tập sách này.
Tôi tin tập thơ đi vào lòng người, nhất là với thiếu nhi khi nhà thơ sử dụng thơ bốn chữ, năm chữ là chính, có xen kẽ đôi bài lục bát. Thơ không cầu kỳ, dễ nhớ, dễ thuộc, đáng trân trọng.
Đăng bởi hongha83 vào 05/11/2025 15:15
Đọc thơ Đỗ Toàn Diện viết về vùng đất Tây Nguyên ta như nghe tiếng voi gầm gió hú vang vọng gọi đại ngàn. Ta như nghe tiếng cồng chiêng rền vang trong những ngày lễ hội. Ta nhìn thấy những mái nhà rông như mũi lao lao vào trời thẳm mà ở đó “Những chàng trai Ê Đê giáo mác sáng ngời/ Bắp cuồn cuộn ngực căng như cánh ná”. Ta nhìn thấy những cơn mưa từ đất tưới tắm cho những cánh rừng cà phê bạt ngàn. Ta ngửi thấy mùi men rượu cần nồng ấm phả ra từ trong những cái ché đã nhuốm màu thời gian bên những bếp lửa bập bùng. Mùi cà phê Ban Mê thơm đắng mà ngạt ngào. Không những thế ta còn nhìn thấy cả nếp suy tư trăn trở hiện lên trên thớ gỗ của những pho tượng nhà mồ. Nói khác đi cả một vùng cao nguyên mênh mông đang bừng dậy trong thơ Đỗ Toàn Diện.
Phải có một tình yêu đắm say và máu thịt với vùng đất cao nguyên, Đỗ Toàn Diện mới có thể viết được những vần thơ giàu nhân hậu, nhiều yêu thương và cũng rất nhiều chất trí tuệ đến thế. Khi đọc Ước mơ nhà rông của ông, tôi cứ nghĩ rằng Đỗ Toàn Diện phải là đứa con của vùng đất cao nguyên đứt ruột đẻ ra rồi nuôi ông khôn lớn bằng hạt ngô, củ sắn, bằng tất cả sự chở che đùm bọc. Vùng đất này đã bồi đắp cho tâm hồn ông lộng gió thi ca. Nhưng không! Ông là người con của xứ Thanh anh hùng đã vào đây sinh cơ lập nghiệp. Lý giải về thơ ông chỉ có thể dùng bốn từ Tình yêu cuộc đời. Thơ Đỗ Toàn Diện rất giàu hình tượng. Tôi nghĩ hình tượng trong thơ ông được hình thành từ nhiều yếu tố: tài năng và trí tưởng tượng, cộng vào đó chính là hình tượng của vùng đất này. Vùng đất của những mái nhà rông - của đại ngàn gió và nắng của những con người dũng cảm bất khuất Ước mơ nhà rông hay là khát vọng. Theo tôi đúng hơn phải là khát vọng. Theo nhà thơ: “Nhà rông, nét văn hoá Tây Nguyên vẫn muôn đời tồn tại/ Lưu giữ cho đời mơ ước của nghìn năm”. Tôi sững sờ khi bắt gặp câu thơ:“Mơ ước ngàn đời bay tới những vì sao/ Nhà rông như mũi lao, lao vào trời thẳm”. Ta nghĩ gì về câu thơ giàu hình tượng và ước mơ đó. Khi ta nhìn trực diện thì nhà rông có hình của lưỡi rìu như đang vung lên trời cao. Nhưng sao Đỗ Toàn Diện lại coi đó là mũi lao. Không hiểu sao tôi cứ đinh ninh rằng lần đầu tiên đến với Tây Nguyên ông được nhìn thấy nhà rông từ phía hồi nhà. Ở góc nhìn đó thì nhà rông có hình tượng của cây lao vĩ đại đang vươn lên lao vào trời thẳm. Hình tượng ban đầu ấy đã nhập vào hồn, nhập vào óc chàng trai trẻ đi khai mở. Để đến bây giờ nó trở thành một thi ảnh độc nhất của ông về nhà rông. Trong cái nhà rông tụ hội biết bao là ước mơ và khát vọng phải nhờ đến mũi lao kia gửi gắm thông điệp cho trời cao “Gửi lòng mình qua đồng vọng hồn chiêng” về khát vọng ngàn đời được sống trong thuận hoà
ấm no hạnh phúc. “Dấu chân thời gian”, cái dấu chân vô hình nhưng sao vẫn ghi khắc vào cuộc đời, ghi khắc vào tâm hồn thi nhân dấu khắc chẳng thể xoá nhoà: “Từ ngàn xưa vẫn đầu trần chân đất/ Tôi tìm tôi dĩ vãng luân hồi/ Gùi nước lòng khe hái gió đỉnh trời/ Đánh thức đá cất lời huyền thoại”. Không có một trí tưởng tượng mãnh liệt, không có một bộ óc quan sát bằng tất cả trí tuệ và cảm xúc, tôi tin Đỗ Toàn Diện sẽ không có câu thơ kỳ vĩ “Gùi nước lòng khe hái gió đỉnh trời”. Một câu thơ ấy thôi đã sừng sững trước mắt ta, trong tâm khảm ta về hình tượng vĩ đại của con người Tây Nguyên. Người dân Tây Nguyên sống thuận hoà bên nhau đã ngàn đời nay và bây giờ vẫn thế: “Âm hưởng chiêng bằng làm căng nhịp thở/ Ché rượu cần rung bếp lửa đêm say/ Mọi người nối vòng xoang trong tay/ Đêm vũ hội đất trời nghiêng ngả”. Nói về đàn Tơ-rưng và dấu khắc thời gian của bàn chân trần người dân nơi đây Đỗ Toàn Diện đã viết: “Khoét ống lồ ô để nghe hồn của gió/ Dấu chân trần đã hoá thạch thời gian”. Đàn Tơ-rưng chính là cây đàn của gió. Cũng đã rất nhiều dân tộc mượn gió trời để ngân lên những khúc nhạc của dân tộc mình, quê hương mình. Nhưng có lẽ đàn Tơ-rưng là loại nhạc cụ độc đáo nhất của đất nước này.
Dáng núi, dáng sông, dáng người, dáng đồ vật, dáng các nhạc cụ đã bừng lên trong bài thơ “Trên cầu treo Buôn Đôn” của Đỗ Toàn Diện: “Vùng đất Buôn Đôn huyền bí thiêng liêng/ Còn ấp ủ trong vỏ bầu, miệng ché/ Những dũng sỹ săn voi đã tạc vào dáng núi/ Khắc lên tượng gỗ nhà mồ”. Một lần nữa Đỗ Toàn Diện lại nhắc đến những nhạc cụ độc đáo nhất: “Họ thổi hồn vào những ống lồ ô/ Và chắt lọc âm thanh từ ruột đá”. Rồi ông khẳng định khí phách hồn cốt của người dân Tây Nguyên cũng chỉ bằng hai câu thơ: “Cứ hồn nhiên như hình sông dáng núi/ Đây Buôn Đôn huyền thoại mãi trong đời”. Trong bài “Buôn Đôn huyền thoại” Đỗ Toàn Diện đã có những câu thơ thật kỳ vĩ để nói về lòng quả cảm dũng mãnh của người dân Buôn Đôn: “Mặt trời vỡ trên lưng/ Da sắt lại những bắp cơ cuồn cuộn”. Và nữa cảnh tượng thật hùng vĩ và cũng rất nhiều phi lí, hư ảo: “Chiều Buôn Đôn trầm tư/ Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”. “Bình minh trên cao nguyên” là một bài thơ đẹp - đẹp đến vô ngần. Tôi không thể bình luận gì thêm, chỉ biết chép vào đây để các bạn cảm nhận cho hết vẻ đẹp kỳ ảo của vùng đất Tây Nguyên dưới cặp mắt ấm áp, đắm say của Đỗ Toàn Diện: “Mặt trời mọc dưới chân tôi/ Tiếng gà đạp dưới lưng đồi bước lên/
Kéo bình minh nhích gần thêm/ Xuyên qua những đám sương mềm dần tan/ Cao nguyên như được vén màn/ Màu xanh huyền thoại vắt ngang đỉnh trời/ Thác gầm tung bọt sáng ngời/ Ngàn thông như mác dựng trời mà lên”. Còn đây là “Gió trên đỉnh Tây Nguyên” của Đỗ Toàn Diện, thơ ông đã quá đẹp và quá đủ đầy nên một người vẫn tự cho mình nghèo nàn về ngôn ngữ chẳng
thể bình luận thêm gì nữa. Tôi chỉ làm được một việc duy nhất là sao chép những câu thơ hay vào đây cho những ai chưa có may mắn đọc thơ ông để cùng tôi cảm nhận:
Ta đứng trên đỉnh trời
Nhìn cao nguyên cuộn vỗ
Những nổi chìm của gió
Rùng rùng sóng trùng khơi...
Chỉ có gió và gió
Thổi bạc phếch mái đồi
Đàn voi đi ngang trời
Nhuộm bụi hồng tiền sử
Đường lên trời đi nghiêng
Những mảnh đời lầm lũi
Họ gùi gió lên núi
Họ cõng mây về trời
Cuối cùng tôi muốn nói đến bài thơ “Dáng tượng nhà mồ”. Tôi nghĩ nếu không am hiểu nền văn hoá Tây Nguyên - một nền văn hoá thấm màu huyền thoại và không có một cảm nhận sâu sắc về hình tượng nghệ thuật mà khát vọng của người dân Tây Nguyên gửi gắm vào những pho tượng nhà mồ, Đỗ Toàn Diện không thể có những vần thơ như một sự hoá thân vào một nền văn hoá như thế. Đây là một bài thơ nhiều trăn trở của ông:
Da mật nhuộm màu nắng gió
Bó gối mắt vương nỗi sầu
Suốt đời quẩn quanh bên lửa
Vui buồn cần rượu vít cong
Nỗi niềm khắc vào thớ gỗ
Mắt quầng hun hút nỗi đau
Chống cằm nhìn vào vô vọng
Nổi chìm chẳng biết vì đâu
Vẫn còn rất nhiều bài thơ và câu thơ rất hay rất đáng để ta chiêm nghiệm. Nhưng đã đến lúc tôi phải dừng lại để nhường cảm nhận cho những ai may mắn có được trên tay tập thơ Ước mơ nhà rông của Đỗ Toàn Diện. Xin thành tâm chúc nhà thơ giàu sáng tạo, để viết về vùng đất Tây Nguyên mà ông yêu với tất cả tình yêu đắm say như máu thịt của mình.
Đăng bởi hongha83 vào 31/01/2026 21:27
KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ ĐỖ TOÀN DIỆN
Nhà văn HỒNG CHIẾN
Tút, tút... Chuông điện thoại reo, tôi nhìn đồng hồ đã gần trưa, bấm máy nghe, tiếng anh bạn ở thủ đô nói như reo:
- Ông biết nhà thơ Đỗ Toàn Diện ở
Đắk Lắk không?
- Có, nhà thơ đồng hương xứ Thanh
với tôi cũng là đồng nghiệp một thời dạy học cùng đấy ạ.
- Anh ấy vừa có bài thơ thứ ba mươi được chọn đưa vào sách giáo khoa, bậc tiểu học đấy. Tài thật!
Tiếng người bạn điểm một số bài thơ của nhà thơ Đỗ Toàn Diện mà anh ta thích làm tôi cũng bồi hồi nhớ lại...
Ngành giáo dục tổ chức hội thao nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/1992, tôi được cử đi đại diện cho huyện Ea Kar thi đấu môn cờ vua. Sau gần 6 năm bị đuổi khỏi ngành vì viết báo chống tiêu cực bị Đài BBC đọc nên tôi bị kỷ luật.
Tháng 5 năm 1992, Toà án tối cao tại Đà Nẵng xử tôi trắng án; tháng 8/1992 tôi mới trở lại ngành và thi đấu cờ vua đứng đầu
ngành giáo dục của huyện. Đối thủ của tôi là thầy giáo Đỗ Toàn Diện, công tác tại Phòng giáo dục huyện Krông Pắc, người nổi
tiếng... nóng như lửa và thẳng thắn. Đồng nghiệp ở cùng huyện với anh truyền tai nhau bảo: Thầy ấy “vuốt mặt” không bao giờ
nể mũi, đối với lãnh đạo nếu làm sai, “xạc” thẳng cánh, còn cãi lại thì... sẵn sàng tặng luôn cho một cái bạt tai...
Hai anh em quen nhau từ ngày ấy, sau này tôi đọc thơ anh nhiều, và đặc biệt thích thơ trào phúng của anh: nó gai góc như
quả sầu riêng chín, thơm lừng; nhưng muốn thưởng thức phải tách được vỏ, mà tách vỏ không đúng cách thì... gai đâm chảy máu tay ngay. Nhiều người thích thơ châm của anh cũng là vậy.
Cách đây hơn chục năm anh vụt nổi trội trên mảng sáng tác thơ cho thiếu nhi. Báo, đài, tạp chí văn nghệ... cả nước liên tục đăng thơ anh viết cho thiếu nhi, một hiện tượng lạ ở vùng đất Tây Nguyên. Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và cũng là cánh chim đại bàng trên vùng đất cao nguyên sáng tác thơ cho lứa tuổi thiếu nhi.
Cuối năm 2022, Nxb Kim Đồng in và phát hành cuốn Chuồn chuồn ớt tìm mẹ của tôi. Tôi tặng anh một cuốn. Nửa đêm, anh gọi điện cho tôi, giọng xúc động: “Xin lỗi ông vì đã gọi điện vào lúc này. Thú thật, tôi viết thơ nên ít đọc văn xuôi, nhưng cuốn truyện đồng thoại đồng hương tặng, tôi đọc một
lèo xong luôn và điện ngay cho ông. Ông gửi tác phẩm này dự thi chưa? Tôi đảm bảo với ông, nếu gửi dự thi chắc chắn sẽ đoạt giải cao...”.
Anh lại cho tôi thêm một bất ngờ nữa, anh không những sáng tác thơ hay mà còn có năng khiếu thẩm định tác phẩm văn học. Anh đã chỉ ra được những ưu, khuyết của từng chương tác phẩm của tôi hết sức thuyết phục. Nghe lời anh, tôi gửi tác
phẩm dự thi. Năm 2023, cuốn truyện dài Chuồn chuồn ớt tìm mẹ của tôi đoạt Giải B, Giải thưởng Văn học nghệ thuật hàng
năm của Hội VHNT Đắk Lắk; Giải B, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật hàng năm của Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam; Giải Khuyến khích Giải thưởng Sách Quốc gia.
Một thầy giáo sinh ra và lớn lên trên huyện miền núi của tỉnh Thanh Hoá, vào Đắk Lắk công tác trong ngành Giáo dục ở huyện vùng xa, vậy mà đã trở thành một hiện tượng văn học đặc biệt trên vùng đất Tây Nguyên. Tính đến đầu tháng 7 năm 2025, nhà giáo - nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã có tròn 30 mươi bài thơ được tuyển chọn đưa vào sách giáo khoa và sách tham khảo của bậc tiểu học. Tôi cũng phải thốt lên: “Người đâu
mà... giỏi thế!”.
Buôn Ma Thuột, mùa mưa năm 2025
Đăng bởi hongha83 vào 31/01/2026 22:03
NGƯỜI THƠ TINH TẾ MÀ HÓM HỈNH
Nhà văn PHAN ĐỨC NAM
Tôi quen anh Đỗ Toàn Diện khi theo học khoá 1, lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du tại Quảng Bá - Hà Nội. Cảm nhận đầu tiên của tôi về anh là một thầy giáo hiền lành,
xuề xoà dễ gần.
Tình cờ tôi lại ngồi gần anh Đỗ Toàn
Diện, anh khoe tôi bản thảo tập thơ sắp xuất bản, nhỏ nhẹ nói:
“Bạn đọc rồi góp ý hộ nhé!”. Tôi ngần ngại: “Mình bên văn, không rành về thơ đâu”. Anh cười: “Văn, thơ anh em ruột thịt mà. Thơ tôi ngắn, giản dị, không triết lý dài dòng đâu”.
Tôi lướt nhanh những bài thơ trào phúng ngăn ngắn anh Diện vừa đưa, đọc vui, không chán. Tôi đọc chậm lại nhiều bài, thấy thấm:
Mình tự đánh bóng mình
Cho sáng choang “như ngọc”
Ôi cái đồ đồng nát
Sẽ han rỉ lại ngay.
A, anh giáo này hóm lắm đây, tôi nghĩ, rồi nói với anh: “Anh khôn thật! Anh cười mình trước, tự vạch trần chê mình để cười người ta, thế thì chẳng ai trách anh được, dẫu họ biết thừa tác giả những câu thơ đó không phải là hạng đồng nát.”
Đỗ Toàn Diện tủm tỉm cười: “Hì hì! Mình có là đồng nát đi nữa cũng chẳng sao. Cứ phải đánh bóng cho sang trọng, đến khi han rỉ thì lại tiếp tục đánh bóng, cũng lừa được khối
người đấy”.
Cứ thế, cuộc trò chuyện vui tếu giữa tôi và Đỗ Toàn Diện qua những bài thơ trào phúng của anh cứ rôm rả giòn tan. Chúng tôi gặp nhau là vui, văn nghệ thoải mái. Càng ngày tôi càng thấy vẻ ngoài Đỗ Toàn Diện xuề xoà, nhưng bên trong anh rất tinh tế, sâu lắng, có góc nhìn hóm hỉnh sắc bén. Câu chữ thơ anh giản dị, đầy tính thế sự. Anh
mạnh dạn bóc trần những góc khuất, không ngại “thọc lét”, chạm nọc những quan tham đạo đức giả: “Đầy tớ thời này sướng như vua/ Muốn làm đầy tớ cũng phải mua/ Ngông nghênh một ghế, ông chễm chệ/ Ngất nghểu trên ngai hưởng lộc chùa”.
Muốn làm “đầy tớ” cũng phải mua thì giỏi thật! Quá giỏi!
Càng ngẫm càng sợ. Chẳng thế mà nhà thơ Tam nguyên Nguyễn Khuyến thời trước đã ví von so sánh: “Đời trước làm quan cũng thế a?”. Con mắt nhà thơ nhìn xuyên thấu mấy cõi, đời trước thời nay chẳng khác gì nhau.
Quý hồ tinh bất quý hồ đa, nhất là nghệ thuật văn thơ tuỳ cảm nhận mỗi người, mỗi thời.
Nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã trình làng ba tập thơ trào phúng. Trào phúng mà đĩnh đạc. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết lời giới thiệu, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Chu Thị Thơm viết đôi lời cảm nhận. Tôi và anh lâu rồi không gặp nhau, có lúcbặt tin nhau, nhưng vẫn dõi theo nhau trên các báo.
Bất ngờ một ngày, khi tôi kèm dạy học cho con trai, chợt thấy bài thơ “Lên rẫy” của bạn thơ Đỗ Toàn Diện được tuyển chọn in trang trọng, kèm minh hoạ màu đẹp trong tập Cánh Diều, sách giáo khoa Văn lớp 4 của Bộ Giáo dục. Tôi vui mừng kể cho con trai nghe về những câu chuyện giữa mình và bạn
Đỗ Toàn Diện ngày xưa. Con tôi thích thú nghe, rồi hãnh diện khoe với các bạn trong lớp: “Nhà thơ - tác giả bài thơ “Lên rẫy” là bạn của ba mình đấy.”
Tôi alo chúc mừng bạn thơ: “Cứ tưởng anh là nhà thơ trào phúng, đã ra 3 tập thơ rồi. Không ngờ giờ anh còn là nhà thơ thiếu nhi.” Bạn cười giòn trong điện thoại: “Mình làm thơ thiếu nhi lâu rồi. Thơ trào phúng là bước khởi đầu, chọc khoáy thiên hạ chút chơi. Thơ thiếu nhi mới là mặt mạnh của mình.”
Quả thật, chỉ vài năm sau, nhà thơ đã liên tiếp trình làng 4 tập thơ thiếu nhi.
Tôi khen thật tình: “Bài “Lên rẫy” của anh hay, dễ thương lắm! Thơ mềm mại uốn lượn như đồng dao, giọng thơ hồn nhiên, tả cảnh đẹp quê hương đặc trưng vùng cao, màu sắc nhẹ nhàng lung linh, nhân cách hoá sống động, được chọn vào sách giáo khoa là phải rồi. Anh mau mau gửi cho tôi tập thơ ấy, mà phải ghi tên con trai tôi vào: Tặng cháu Phan Nguyễn Hoàng Phúc nhé, cho nó thích, để nó còn đem khoe với bạn.”
Đỗ Toàn Diện gửi ngay hai tập thơ thiếu nhi và một tập thơ trào phúng. “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”,văn thơ càng phải kén chọn, tuỳ cảm nhận mỗi người. Xin giới thiệu đôi bài
thơ thiếu nhi của nhà thơ Đỗ Toàn Diện: Sống trong nước, cá chuồn/ Bơi lội mãi cũng buồn/ Liền phóng lên mặt nước/ Bay như chú chuồn chuồn (Cá chuồn). Giọng thơ hồn nhiên, không lên gân mà dí dỏm tinh nghịch, nói lên khát vọng tuổi trẻ muốn
vượt thoát, muốn bay cao như cánh diều ước mơ: Cá chuồn sống trong nước/ Thi thoảng lại diễn xiếc/ Bay lượn vòng trên
không/ Màn biểu diễn thật tuyệt!
Còn đây là bài thơ “Lên rẫy”:
Em cùng mế lên rẫy
Gùi đung đưa, đung đưa
Con chó vàng quấn quít
Theo bước chân nô đùa
Kìa mặt trời mới ló
Trên đầu chị tre xanh
Sương giăng đèn ngọn cỏ
Tia nắng chuyền long lanh
Bao nhiêu ngày chăm học
Mong đợi đến cuối tuần
Được giúp mế làm rẫy
Xôn xao hoài bước chân
Rẫy nhà em đẹp lắm
Bắp trổ cờ non xanh
Lúa làm duyên con gái
Suối lượn lờ vây quanh
Rừng đẹp như bức tranh
Phong lan muôn sắc nở
Hoa chuối màu thắm đỏ
Giăng mắc như đèn lồng.
Xin chúc mừng bạn tôi, nhà thơ Đỗ Toàn Diện.
NHÀ THƠ ĐỖ TOÀN DIỆN VẤP PHẢI TIẾNG CHIM BAY NGANG TRỜI
Nhà thơ NGÔ ĐỨC HÀNH
Những người làm văn chương trong nước phần đông vì “nghiệp giới” mà biết nhau. Hoạ hoằn lắm khi gặp “may mắn” cùng được tham dự một trại sáng tác Văn học nghệ thuật thường niên nào đó, thì mới được gặp ngoài đời. Người “xui”, cả đời ít được tham dự trại thì chịu, bởi các nhà văn, nhà thơ sống và viết khắp cả nước.Tôi là người viết “đen đủi”, ít được dự trại, dù là mở trong Nam, ngoài Bắc hay “khúc ruột miền Trung”. Vì thế mới được gặp nhà thơ Đỗ Toàn Diện, một lần, nhờ cơ duyên, nhà thơ Nguyễn Thế Kiên ới đi “lai rai”, tiếp đón, nhân anh ra Hà Nội dự một Trại sáng tác văn học cho thiếu nhi ở Đại Lải. Dịp ấy là cuối năm 2024.
Thế nên, kỷ niệm văn chương với nhà thơ Đỗ Toàn Diện gần như “không có gì”, chỉ biết anh là một nhà giáo làm thơ từ sớm rồi trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện sống và viết tại thị trấn Phước An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk còn gốc quê thì tận huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá. Cũng thế nên, tôi không hề bị cảm tính khi viết về thơ Đỗ Toàn Diện.
Cho đến nay, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã in 18 tác phẩm thơ. Bạn bè anh bảo, “Có một nhà giáo yêu thơ, yêu đến si mê nên hầu như chỉ làm thơ mà không đụng sang thể loại khác. Si mê đến mức ngồi đâu cũng nói chuyện làm thơ, đọc thơ nên một số người chưa thật hiểu, chưa thật thông cảm lại cho là gàn gàn, hâm hấp- đó là Đỗ Toàn Diện”, (Hữu Chỉnh, Tín đồ của thi giáo).
Có thể Hữu Chỉnh nói đúng, bởi trong cái “danh mục” 18 tác phẩm kia chỉ là tập thơ. Sự thuỷ chung với thể loại thơ, nếu đúng như vậy, thì tôi chỉ mới biết Đỗ Toàn Diện.Trong 18 tập thơ đã nói, Đỗ Toàn Diện có gửi cho tôi 6 tập, tập thơ lâu nhất (theo năm xuất bản) là Ước mơ nhà rông, tập thơ mới nhất là Lên trời hái sao. Đỗ Toàn Diện là nhà thơ đa dạng, đa diện, đa thi pháp; dẫu, thơ xác tín anh thuộc về truyền thống.
Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Khi nào thì người ta làm thơ? Ấy là lúc nhà thơ có nhu cầu nói chuyện với cô đơn trong lòng mình. Đọc thơ Đỗ Toàn Diện thấy “bản đồ tâm hồn” nhằng nhịt trong ông, quê hương thứ nhất, quê hương thứ hai, đồng đội, gia đình, đồng nghiệp. Điều này hiển lộ qua Ước mơ nhà rông, tập thơ xuất bản cách đây đã 15 năm. Ước mơ nhà rông được bố cục làm hai phần, gồm 45 bài thơ thì phần I có tiêu đề “Vùng đất và con người Tây Nguyên huyền thoại”, gồm 17 bài. Chắc chắn, Đỗ Toàn Diện viết để tri ân vùng đất đỏ Bazan thừa nắng, thừa mưa, thừa gió đã cưu mang ông và gia đình, cho ông ký ức, sống và đam mê sáng tạo.“Cao nguyên xanh trong câu thơ/ Bazan đỏ trong chiều tím/ Trường ca Đam San hùng vĩ/ Thấm vào lời ru cao nguyên” (Lời ru cao nguyên). Đó là nơi “Chỉ có gió và gió/ Thổi bạc phếch mái đồi/ Đàn voi đi ngang trời/ Nhuộm bụi hồng tiền sử” (Gió trên đỉnh cao nguyên).
Nhà thơ Đặng Bá Tiến, một người Bắc miền Trung cũng vào lập nghiệp ở Đắk Lắk từng có câu thơ “Viết câu thơ bạc tóc/ Bởi nỗi niềm rừng xanh”; nhà thơ Đỗ Toàn Diện không ngoại lệ. Yêu Tây Nguyên, chứng kiến sự thay đổi, anh mừng; nhưng anh cũng đau đớn trước một Tây Nguyên đã và đang bị “sa mạc hoá”, các dòng sông khô khát, đá lở, đất sụt lún, rừng ngày càng bị thu hẹp... “Thơ không phản ánh hiện thực thì phản ánh cái gì” (nhà thơ Lê Tuấn Lộc), dẫu hiện thực đã được “khúc xạ” qua tâm hồn nhà thơ.
Mùa nứt nẻ suối đầu nguồn trơ đá
Nước lòng khe trốn biệt phương nào
Lũ muông thú thét gào tìm nước
Cơn gió Phơn bỏng rát gió Lào
(Mất rừng)
Những tượng nhà mồ dần dần vắng bóng
Rừng trụi trơ muông thú cũng thưa dần
Không còn hươu nai, công múa trong huyền thoại Rừng đã chìm vào tít tắp xa xăm
(Rừng Tây Nguyên).
Không chỉ mất rừng, Tây Nguyên là nơi sinh sống của
nhiều cộng đồng dân tộc. Ngoài dân tộc Kinh, đây còn là địa bàn sinh sống của rất nhiều dân tộc thiểu số, trong đó phải kể đến Bana, Gia Rai, Êđê, M’nông, Cơ Ho, Mạ, những dân tộc bản địa đã sinh sống ở đây qua nhiều thế kỷ. Đây là một vùng văn hoá, đại diện là trường ca và sử thi; được coi như là những biên niên sử về quá trình hình thành và phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống cộng đồng của cư dân các tộc người trên dãy Trường Sơn.
Tây Nguyên là “khu biệt” của cồng chiêng - được coi là hồn cốt Tây Nguyên và nhiều lễ hội mang màu sắc tâm linh, phồn sinh, phồn thực... Trai gái M’nông nồng nàn ngất ngây/ Lời chiêng gọi bao bước chân vào nhịp/ Anh nắm tay em má ửng hồng da diết/ Cứ dâng mời Đắk R’lấp ngẩn ngơ say (Đêm hội Đắk R’lấp).
Vùng đất Buôn Đôn huyền bí thiêng liêng
Còn ấp ủ trong miệng bầu, miệng ché
Những dũng sỹ săn voi đã tạc vào dáng núi
Khắc lên tượng gỗ nhà mồ
(Trên cầu treo Buôn Đôn)
Đáng tiếc, giữa phát triển và bảo tồn đang tạo ra nhiều “xung đột”. Qua thơ Đỗ Toàn Diện đã “phát lộ” bản sắc văn hoá Tây Nguyên đã và đang bị mai một đi, đời sống thôn dã, buôn, làng với biết bao vẻ đẹp đang bị biến mất. “Tượng nhà mồ là những chứng nhân/ Giao thoa giữa hồn mang và hiện tại/ Nhà rông, nét văn hoá Tây Nguyên vẫn muôn đời tồn tại/ Lưu giữ cho đời mơ ước của ngàn năm” (Ước mơ nhà rông). Nhà thơ Đỗ Toàn Diện nhận ra bản sắc văn hoá của vùng đất nơi anh sinh sống và mơ ước.
Đỗ Toàn Diện là nhà thơ của những cảm xúc từ đời sống. Mưa rừng hay nắng mùa khô đều quất vào tâm hồn lắm ưu tư, suy tư của anh mà thành thơ. Bên cạnh những bài thơ làm cho Tây Nguyên hiện lên huyền bích, óng ả, “Anh về miền Bazan/ Gặp những chàng trai cô gái M’nông/ Đang vỡ đất cho mùa màng gieo hạt/ Gió đại ngàn vỡ lời đói khát/ Gọi mưa về cho mùa vụ tốt tươi” (Ký hoạ cao nguyên); còn là một Tây Nguyên khác với đời sống đầy thân phận: “Cha mẹ bận gùi nghèo khó lên nương/ Một mình chang chang đuổi theo đàn bò gặm nắng/ Khu rừng vắng cứ trơ trơ im lặng/ Lang thang heo hút lưng đồi” (Những
đứa trẻ ở Ea Ytiêng).
Bao giờ những đứa trẻ con em bà con dân tộc bớt lấm lem, ấm cái bụng, được đến trường? Bao giờ thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo? Qua thơ Đỗ Toàn Diện còn cho thấy biết bao vấn đề an sinh xã hội đặt ra. Để Tây Nguyên xanh, phát triển bền vững phải xanh mơ ước, xanh tâm hồn.
Đỗ Toàn Diện không chỉ là nhà thơ tình lãng mạn bay bổng, nặng lòng suy tư trước thời cuộc, thế sự; mà còn là một nhà thơ sáng tác cho thiếu nhi. Trong “gia tài thơ” của mình, hiện đã có nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi. Trong 6 tập thơ mà tôi từng đọc, có Những điều trông thấy, năm 2009; Tuổi chuồn chuồn, năm 2021 và Lên trời hái sao, năm 2023 là thơ viết cho thiếu nhi.
Anh cho biết, mình đã có 28 bài thơ thiếu nhi được tuyển chọn vào sách tham khảo, sách thực hành và sách giáo khoa. Đó là con số đáng ghi nhận và trân trọng. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, một người rất quan tâm đến văn học trẻ, văn học viết cho thiếu nhi từng nêu nhận xét: “Sáng tác cho thiếu nhi là lĩnh vực vô cùng khó mà khó hơn khi viết bằng thơ”, (Nguyễn Quang Thiều: “Người mở thêm những ô cửa, tựa cho tập thơ Lên trời
hái sao của nhà thơ Đỗ Toàn Diện). “Những khung cửa” theo quán chiếu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, chính là gợi lên trí tưởng tượng, khả năng quan sát của trẻ nhỏ từ những sự việc, đồ vật, ông bà, bố mẹ, anh chị em, trường lớp xung quanh đến các hiện tượng tự nhiên như mưa nắng, trăng sao...
Đặc biệt hơn, Đỗ Toàn Diện không bỏ sót đề tài cho thiếu nhi đối với vùng đất nhà thơ sinh sống. Có thể nêu vài bài: “Khúc nhạc rừng”, “Nhà dài ngộ nghĩnh”, “Nhà sàn”, “Rừng quê em”... trong tập Lên trời hái sao.
Nhà dài như con rết
Nên có rất nhiều chân
Dài như đoàn tàu hoả
Mắt mọc dọc bên thân
(Nhà dài ngộ nghĩnh)
đấy là ở góc độ trực cảm, và:
Bé ngẩn người ra thế
Nhưng vẫn nghĩ trong đầu
Nhà dài sao ngồ ngộ
Mắt nhiều chẳng có râu
là kích thích góc độ tưởng tượng của trẻ nhỏ. Hay nói cách khác, “thiên chức” của thơ viết cho thiếu nhi là kích hoạt đầu óc quan sát, tưởng tượng, chất vấn của trẻ em. Về mặt này, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã tinh tế, tinh nghịch và có nhiều thành
công, tạo ra được “ngôn ngữ” trẻ con trong những “ô cửa” của mình: “Trăng nghịch ngợm leo núi/ Trượt chân ngã sứt môi/ Trở thành vành trăng khuyết/ Như diều treo lưng trời (Trăng sứt môi). Bài thơ tứ tuyệt “Trăng sứt môi” cho thấy Đỗ Toàn Diện luôn có những thành công trong sáng tạo hình ảnh ngộ nghĩnh. Chợt nhớ nhà thơ Tùng Bách (Nghệ An) cũng là một người thành công ở mảng viết cho thiếu nhi từng nói với tôi: “Để viết được cho thiếu nhi, phải sống lại tuổi thiếu nhi”. Đúng vậy, với tâm hồn “già” không dễ chạm đến tâm hồn “trẻ”.
Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Có một thế giới mà mọi thứ trong đó luôn bình đẳng, luôn hồn nhiên và hoà đồng với nhau trong một ngôn ngữ chung chính là thế giới trong tâm hồn trẻ thơ”. Đỗ Toàn Diện đã chọn ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi để đến với trẻ em. Thơ anh không chỉ khơi mở, gợi ý quan sát mà còn có tác dụng giáo dục, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ.
Cho đến nay, nhà thơ Đỗ Toàn Diện đã gặt hái được nhiều thành công. Anh đã được nhận Giải C của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) Đắk Lắk năm 2012, Giải B năm 2016; Giải C các năm 2017, 2020, 2023; Giải KK năm 2024; Giải C của Giải thưởng Chư Yang Sin, 5 năm 2008 - 20013 và 5 năm 2015 - 2020; Giải C của Hội VHNT Kon Tum, năm 2025 cho “Tháng ba mùa gieo hạt”. Anh cũng nhận được Giải thưởng VHNT tỉnh Thái Bình, giải Lê Quý Đôn, năm 2025; Được tặng kỷ niệm chương của Uỷ ban toàn quốc “Vì sự nghiệp văn thơ Việt Nam” năm 2010; nhiều bằng khen của Liên hiệp Hội VHNT cũng như của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Đỗ Toàn Diện đã đến tuổi “chín” của vốn sống và vốn từ. Với trái tim nặng trĩu âu lo và tâm hồn nhạy cảm “vấp phải tiếng chim bay ngang trời ríu rít”, anh tiếp tục dấn thân, sáng tạo. Con người anh bộc lộ qua thơ thành một “chân dung” tâm hồn. Nói như nhà thơ Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy. Thơ càng không chấp nhận nửa vời”.
Trang trong tổng số 2 trang (14 bình luận)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối
Bình luận nhanh 2
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.