Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Đỗ Toàn Diện
Trong thập niên đầu của thế kỉ XXI, những nhà thơ trào phúng đã gần như vắng bóng trong đời sống thi ca nước nhà. Có lúc tôi nghĩ, sẽ không còn nhà thơ nào làm thơ trào phúng như một sự nghiệp của mình nữa. Bởi thể loại đó đã nhiều lúc không được coi là một bộ phận của thơ ca. Bởi không ít người quan niệm thơ trào phúng hình như không hợp với ngôn ngữ thời bây giờ. Hơn nữa, những người trẻ cầm bút không cho thấy dấu hiệu rằng họ sẽ sáng tác thể loại thơ trào phúng. Thế nhưng những năm trở lại đây, có một nhà thơ trào phúng thường xuyên xuất hiện với một ý thức và nỗ lực trong sáng tác thể loại này. Đó là tác giả Đỗ Toàn Diện. Anh còn rất trẻ và là một thầy giáo ở Tây Nguyên.
Đỗ Toàn Diện bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình với thơ trữ tình. Rồi đến một ngày anh viết thơ trào phúng. Và cho đến bây giờ, thơ trào phúng đã trở thành tiếng nói chính của anh. Anh quan sát đời sống này và nhận thấy những giá trị của đời sống đang bị xâm hại. Anh cũng nhận ra biết bao giá trị giả đang “hoành hành” trong đời sống ở quanh mình. Những bài thơ của anh viết ra là một tiếng kêu đau đớn, là một lời cảnh báo. Lương tâm và trách nhiệm của anh đối với những giá trị thật của đời sống đang bị đánh tráo cũng giống như lương tâm và trách nhiệm của các nhà thơ trào phúng thế hệ trước. Nhưng hình thức của thể loại thơ này trong sự sáng tạo của Đỗ Toàn Diện đã có nhiều thay đổi.
Thay đổi rõ nhất và khác biệt nhất làm nên một Đỗ Toàn Diện là hình thức của một bài thơ trào phúng. Các nhà thơ trào phúng trước đó hầu như chỉ sử dụng thể loại thơ Đường luật hoặc thơ lục bát hoặc thơ năm chữ. Nhưng đến Đỗ Toàn Diện, anh đã viết rất nhiều bài thơ với hình thức thơ tự do. Nhưng trong hình thức thơ tự do, những bài thơ trào phúng của Đỗ Toàn Diện vẫn không đánh mất những yếu tố tạo nên một bài thơ trào phúng truyền thống. Yếu tố tự do trong nhiều bài thơ trào phúng của Đỗ Toàn Diện đã giúp bài thơ tiếp cận bạn đọc của một thế hệ mới. Nếu đọc nhiều lần, chúng ta sẽ nhận ra hiệu ứng của những bài thơ này. Nó cho người đọc cảm giác chạm được vào sự thật.
Một đặc điểm khác rất rõ trong thơ trào phúng của Đỗ Toàn Diện là tính trữ tình trong nhiều bài thơ trào phúng của anh. Nhân đây, tôi muốn đưa ra một ví dụ về một nhà thơ trào phúng xuất sắc đã mất cách đây dăm, bảy năm. Đó là nhà thơ trào phúng Ngũ Liên Tùng. Trong hầu hết các bài thơ trào phúng của Ngũ Liên Tùng, ông chọn cách nói trực diện. Ông viết thẳng về việc đó, người đó, địa điểm đó, thời gian đó. Nhưng Đỗ Toàn Diện lại chọn một hình thức khác trong nhiều bài thơ trào phúng của anh. Đỗ Toàn Diện mượn cây cỏ, muông thú, đồ vật, mây gió…để nói chuyện con người. Đây không phải là một sự né tránh. Đây là một cách nói nhiều khi làm người đọc đau đớn nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn về nhân tình thế thái và về những giá trị thật đang bị đánh tráo.Cách viết như vậy làm bài thơ mang nhiều tính triết lý hơn. Với cách nhìn và cách viết khá riêng biệt của mình, Đỗ Toàn Diện đã cho chúng ta cùng nhận ra những ý nghĩa mang triết lý sâu xa cũng như những nguy cơ tiềm ẩn có thể làm cho những giá trị của con người bị vấy bẩn và suy tàn mà những nguy cơ này ẩn giấu dưới những hiện thực bóng bẩy dễ làm cho chúng ta bỏ qua.
Trong thời đại mà không phải nhiều người dám cất tiếng nói thật về những giá trị giả, những thói đời đen trắng, những bất công xã hội… thì sự cất tiếng một cách dũng cảm và bền bỉ của Đỗ Toàn Diện cho thấy lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút. Và cũng cho thấy thể loại thơ trào phúng không mất đi hay lỗi thời mà nó đang tìm một cách nói khác để hoà vào đời sống hiện đại.
Nguyễn Quang Thiều
Đăng bởi hongha83 vào 19/05/2025 15:07
Tôi muốn kể cho Diện nghe một giai thoại về nhà viết hài kịch vĩ đại thế kỷ XVII ở Pháp và cũng của thế giới, tính cho đến thế kỷ XXI của ta. Và có lẽ còn vĩ đại tiếp mãi, cái ông Mô-li-e mà mới chỉ đọc kịch bản những Lão hà tiện, Tartuffe, Người bệnh tưởng… độc giả cứ phải cười thành tiếng. Một bữa, vị bác sĩ nổi tiếng Pa-ri ngày ấy tiếp một bệnh nhân có nét mặt vô cùng rầu rĩ.
- Thưa, ông có thể cho biết đang đau bệnh gì ạ?
Chúng tôi sẽ khám…
- Thưa, bệnh nan y lắm! Chả biết ngài bác sĩ có điều trị được chăng?
- Nhưng chúng tôi phải biết ông đau ở đâu, trạng thái đau thế nào, đau vào thời gian nào…
- Thưa ngài, bất cứ lúc nào tôi cũng đau. Nhiều khi khó thở lắm, chỉ muốn chết…
- Dạ thế ông bị ở tim? Bệnh tim?
- Thưa ngài, tôi bị bệnh buồn ạ. Không lúc nào hết buồn.
- À, vậy tôi xin mách, ông sẽ khỏi được ngay bệnh buồn nếu ông đến xem đừng bỏ buổi nào hài kịch của Mô-li-e.
- Nhưng thưa ngài, chính tôi là Mô-li-e.
Giai thoại thâm thuý đụng đến đường hướng sáng tác của Diện đấy! Chính những người trào phúng căn cốt là trữ tình, mà là trữ tình sầu thảm nữa chứ…Những điều trông thấy mà đau đớn lòng, đại tác gia Nguyễn Du chả nói thế là gì. Vậy nên tác giả tập thơ trào phúng này là một người tâm tốt, tình đầy, không chịu được những gì ngang trái, nông cạn, lố lăng, táng tận….
Nhưng đây là chữa bệnh đời bằng thơ. Đỗ Toàn Diện đã có những quan sát tinh nhạy, những phát giác bằng hình ảnh, chi tiết độc,văn mạch linh hoạt… Nhưng mong bạn hãy noi theo Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tú Mỡ về mặt kiến tạo một áng thơ, về mặt chọn lọc ngôn ngữ nghệ thuật. Một bài thơ trào phúng xuất sắc về ý, hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu… chẳng kém gì, mà có khi còn làm giật nẩy sự chú ý của người đọc hơn so với một bài thơ trữ tình loại hay. Tôi muốn bạn hãy biến thơ trào phúng của mình thành sản phẩm thi ca đẳng cấp. Không chỉ đăng báo tác động ngay. Tác động ngay mà vẫn thấm lâu, càng ngẫm nghĩ, thưởng thức, càng thú vị.
Nhà thơ dù ở thể tài sở trường nào, cũng là một nhà chế tác ngôn ngữ cao tay. Thơ trào phúng lại càng phải thế. Chớ để tình trạng chỉ câu nệ vào chất liệu hiện thực là đã đắc ý. Để…Những điều trông thấy thành những đường vung lên lợi hại của lưỡi kiếm nghệ thuật làm mê mắt, mê lòng, sáng trí người đọc… là một nhiệm vụ “toàn diện” tu dưỡng nghệ thuật đặt ra với bạn thơ Đỗ Toàn Diện của tôi.
Trúc Thông
Đăng bởi hongha83 vào 19/05/2025 15:18
Đỗ Toàn Diện đã xuất bản 9 tập thơ, trong đó có 3 tập thơ trào phúng. Là nhà giáo của vùng đất bazan nắng lửa, chất thơ của Đỗ Toàn Diện hình như cũng cháy lên và dễ dàng truyền “lửa” cho độc giả qua những tập thơ ở thể loại này. Đọc thơ anh, ta nhận ra có một sự độc đáo của 2 phần trong tư duy và tâm thức của một con người. Một là cảm thức trữ tình mượt mà sâu lắng, mênh mang với đầy hoài niệm qua ký ức về người thân, quê hương, xứ sở. Chính cảm thức này đã cho ra đời 5 tập thơ trữ tình chục năm qua. Hai là đằng sau sự sâu lắng trữ tình mượt mà ấy là cả một tâm hồn giông bão, trải nghiệm, sâu sắc với cái nhìn hài hước, trong lối viết châm biếm sâu cay. Điều ấy thể hiện qua 3 tập thơ trào phúng.
Đi qua miền cổ tích:
Là nhà giáo, anh luôn nhìn góc khuất trong ánh nhìn đạo đức - mà xã hội thời hiện đại đã có lúc để quên phạm trù triết học này ở đâu đó, anh tìm sấp ngửa. Trước đây, anh đã cho ra mắt độc giả 2 tập châm biếm: Ngụ ngôn trào phúng và Những điều trông thấy (phần 1). Nếu theo dõi quá trình sáng tác và nội dung trong các tập thơ của Đỗ Toàn Diện, ta nhận ra anh sinh ra là để viết thơ châm biếm. Thể loại này hợp với “tạng” của anh
hơn. Điều này thể hiện rất rõ ở các tập thơ châm biếm, đặc biệt là phần 2 tập thơ Những điều trông thấy vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành thời gian qua.
Châm biếm thế sự có lẽ là “thể tạng” và sở trường của nhà giáo - nhà thơ Đỗ Toàn Diện. Qua câu chuyện dân gian “Đẽo cày giữa đường” được anh khái quát ở nghĩa cao hơn, mang tính khái quát hơn:
...Nhiệt tình cộng dốt: nước nghèo
khác nào quan rởm nghe theo thầy dùi...
Thực trạng mang tính xã hội này đã được nhà thơ mượn điển tích, điển cố và vận dụng so sánh rất thuyết phục. Nếu bài thơ chỉ dừng lại mức mô tả, phóng tác lại câu chuyện cổ thì chỉ là thơ hoá văn xuôi mà thôi.
Còn đây là quy luật hoán đổi của một nghịch cảnh không được lường trước:
Anh đưa tay kéo kẻ dưới bùn “vô tình” đổi chỗ cho nhau kẻ được vớt, ngẩng đầu ngạo nghễ còn anh, bùn lấm gót tới đầu...
(Đổi chỗ)
Có lẽ cảnh tượng mà nhà thơ phác thảo trong bức tranh hý hoạ sau không xa lạ gì với mọi người:
Tỉa ria mép, khoác com lê chuyên đọc báo cáo...hăm đe mọi người trông y trâng tráo nực cười ai ngờ con rối...phải người giật dây
(Con rối)
Đây là bức tranh khái quát, điển hình nhất của một ông sếp bất tài, nhưng thích thị uy. Lẽ đời, dốt nát nên mới hù doạ bằng những trò nghịch cảnh trớ trêu như thế. Sự tài giỏi, tự tin giúp con người bình tĩnh, biết tìm đến sự giản dị và tìm cho mình những khoảng lặng sâu lắng trong cuộc sống. Trích đoạn trên như một hoạt cảnh hề chèo mà chúng ta thường gặp trong đời. Sống và hành xử như một con rối, vì bất tài, vô dụng. Và, ai cũng biết, sự bất tài vô dụng đó chỉ cách sự bất chính, phi liêm chỉ trong gang tấc, qua sợi dây mong manh. Bài thơ có sự liên tưởng và chấm phá về một hạng người, cụ thể mà khái quát, phiếm chỉ nhưng sự châm biếm lại có sức thuyết phục, sâu cay.
Bức tranh hành xử trong nghịch lý cuộc đời qua bài thơ Qua cầu rút ván cũng được mô tả cụ thể qua thế giới động vật, và được tác giả khoác lên đó sắc màu cổ tích ám ảnh người đọc thực sự bởi triết lý thiện ác. Đồng cỏ, thú con... là những thức ăn của muôn loài hoang thú trong khu rừng rậm kia. Tuy nhiên, sự ích kỷ, nhẫn tâm - sau khi tìm được mồi đã khiến bầy sói “qua cầu rút ván” nên hậu quả là bị hổ dữ ăn thịt. Bầy sói không có đường tháo chạy, vì cây cầu về phía bên kia cánh rừng, về với sự an toàn và nương náu không còn nữa, nên đành làm mồi ngon cho lũ cọp. Đó là bài học cho sự gian tham, tàn nhẫn với đồng loại.
Câu chuyện Con cóc khiến ta liên tưởng đến sự vênh vang của một loài nhân danh là “cậu ông trời”, do sự láu cá và vận may ngẫu nhiên. Tuy nhiên, qua ánh nhìn triết lý, nhân sinh của Đỗ Toàn Diện, sự láu cá này đã có kết cục của nó. Đó là kết cục giữa bi và hài, trong sự thương cảm và khinh khi của tác giả, khi liên tưởng đến hạng người này trong xã hội:
Coi mình là “cậu ông trời” cóc ta giương mắt nhìn đời nửa con gọi sấm dậy, bắt mưa tuôn nghiến răng núi lở, dời non mặc lòng đến khi bị nhốt vào lồng vẫn còn vênh váo nghiến răng doạ người...
(Con cóc)
Bạch tuộc qua cách nhìn của Đỗ Toàn Diện là loài vật kinh tởm, có sức mạnh vô hình làm chết kẻ khác bởi những vòi độc, trong những chiêu kế quỷ ma. Lời cảnh báo của nhà thơ là hãy nhìn những thân phận của tôm, cá, kể cả cá mập... để
tìm ra nguyên lý sống: nguyên lý nhận diện, không chấp thuận và tránh xa kẻ ác, gian ma.
Trong thế giới cỏ cây hoa lá với muôn loài động vật từ núi rừng đến thuỷ cung ấy, Đỗ Toàn Diện phác thảo một hoạt cảnh nực cười và cám cảnh của loài cỏ khi chúng quên mình là phận cỏ, ngỡ mình nương náu và biến thành cây cao:
Dưới chân Đa cỏ dại bời bời. Nào là cỏ leo, cỏ lông, cỏ xước
Là cỏ rác, chúng thường leo ngược Mơ sao che khuất Bách, Tùng
Cỏ tên gọi chung
Dù sống đến ngàn năm, cũng không thành cổ thụ được
Dù có trăm ngàn lần ước
Cỏ vẫn muôn đời, lúp xúp dưới chân Đa...
(Cỏ dại)
Triết lý tự nhiên - trong đó có quy luật sinh tồn của vạn vật, cho chúng ta thấy rõ một điều, sự hoá thân mang tính tiêu cực, trái với lẽ thường mà không minh chứng cho một sự thật hiện hữu của cái tiến bộ hơn, thì sớm hay muộn, cũng tàn lụi.
Câu chuyện về Cò và Trai cũng ẩn chứa những minh triết của chân lý - thiện ác, đúng - sai qua sự nhận diện của nhà thơ. Trai phơi mình, hé miệng nơi bến sông trong chiều vắng, ngỡ nơi đây là chốn bình yên, bỗng nhiên, chú Cò đi qua mổ
vào ruột Trai vì miếng ngon lồ lộ. Vừa hay lúc đó, khi Cò đang đau đớn bởi bị Trai kẹp, thì có chú cáo già đi qua, một công đôi ba việc, xơi luôn cả hai. Đôi khi, kẻ đi săn mồi ngỡ mình đang bắt được con mồi, nhưng mấy ai nghĩ rằng, mình cũng là miếng mồi béo bở của kẻ khác.
Trong thế giới của loài vật, Đỗ Toàn Diện phát hiện ra loài kỳ nhông chuyên thay đổi và nguỵ trang cho phù hợp với hoàn cảnh. Đây là loài khó nhận biết màu sắc thật của chúng. Cái diện mạo giả - thật ấy khó lường cho kẻ khác:
Một loài vật giỏi nguỵ trang
trắng, đen, xanh, đỏ, đa mang sắc màu thay hình đổi dạng lẹ mau chỉ chuyên rình rập biết đâu mà lường...
(Kỳ nhông)
Trên đời có nhiều kẻ khoác áo kỳ nhông, tù mù hù doạ nhiều người. Tuy nhiên, khi đã nắm bắt được quy luật của màu sắc, ánh sáng và vòng quay của sự tiến hoá, sinh tồn ta sẽ nhận diện đúng những con “kỳ nhông” - ích kỷ và “khôn ngoan” quỷ quyệt ấy!
Bức tranh trực diện:
Bằng thủ pháp nhân hoá và trừu tượng - đi qua miền cổ tích, Đỗ Toàn Diện đã cho chúng ta thấy ý nghĩa xã hội qua lăng kính đa chiều. Cái nhìn châm biếm, đầy tính phê phán qua việc điểm
xuyết, minh triết của một nhà giáo, qua tư duy tích cực, đầy tính phản biện - thế giới đa chiều, đa sắc của muôn mặt đời thường mà con người là trung tâm đã hiển hiện rất rõ. Mỗi người phải chịu một phần trách nhiệm của mình trong đó.
Đây là hình ảnh nhãn tiền của một “đầy tớ” của dân:
“Đầy tớ” thời này sướng như vua muốn làm “đầy tớ” cũng phải “mua” ngông nghênh một ghế ông chễm chệ
ngất nghểu trên ngai hưởng lộc “chùa”...
(Chuyện lạ)
Bao chuyện tiêu cực trong xã hội, như hợp lý hoá bằng cấp để “ngoi” lên chức quyền, xu nịnh, bợ đỡ kẻ có chức quyền ưa phỉnh nịnh để cầu danh, dùng quyền lực để thao túng lũ ô trọc... đến những mưu mẹo hòng ăn bẩn và sống trên mồ hôi nước mắt của dân lành (bài thơ Ông bốn chi, Mặc cả, Lên trời, Giặc - quan, Đầu gối kẻ nịnh...). Tất cả đã đi vào thơ Đỗ Toàn Diện cụ thể và khái quát nhất. Những hình ảnh ấy hàng ngày đập vào mắt chúng ta. Nhưng, những bài thơ cảnh báo, chua xót và phê phán nghiêm khắc của anh đã ám ảnh người đọc.
Tôi tâm đắc bài thơ Tự đánh bóng của anh: Mình tự đánh bóng mình/ cho sáng choang“như ngọc”/ ôi! cái đồ đồng nát/ sẽ han rỉ lại ngay/ có nhiều kẻ đánh bóng/ làm cho bao người say/ cho bao kẻ loá mắt/ sự thật sẽ phơi bày/ sự thật như sắt thép/ thời gian khó gặm mòn/ tượng đất mạ vàng son/ bóng thời gian giũ sạch/ chỉ còn nguyên sự thật...
Có những sự thật hơn cả sự thật đã phơi bày, và mỗi nhà thơ - bằng tài năng và nhân cách của mình, đã chuyển tới thông điệp của nhân văn, với ý nghĩa tích cực nhất đối với con người và xã hội đã không vô ích. Thế giới nghệ thuật trong thơ anh đã đủ sức mở để chứa cho những luận đề, cổ tích - thế giới của thực hư và những điều đã xảy ra và sẽ xảy ra. Hiện thực, vì thế trong thơ anh cũng ngồn ngộn chảy, xuyên thấu trái tim và cảm xúc con người. Tuy nhiên, ở đề tài châm biếm, với cách nhìn hí hoạ, đa chiều, bức tranh hiện thực mà con người là điểm nhấn ấy đã chi phối và có sức chuyển tải những tư tưởng không chỉ của cá nhân nhà thơ mà là của cả thời đại. Bức tranh phiếm chỉ - luận đề qua cách nhìn trào phúng ấy thể hiện ở đa chiều cuộc sống, giữa các mối quan hệ đan chen và diện mạo của những thành tố tạo nên sự sinh động.
Nhà văn:CHU THỊ THƠM
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.