Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Trên thời chúa ngự ngai vàng,
Dưới thời văn võ hai hàng đai cân.
Chín châu bốn bể xa gần,
Khang cù kích nhưỡng muôn dân thái hoà.
Nhật trình ta mới kể ra,
Dặn người buôn bán nôm na sự lòng.
Con thuyền Phạm Lễ thong dong,
Bảo nơi nương tựa dầu lòng vào ra.
Nay mừng thanh yến hải hà,
Từ Thừa Thiên phủ tới hoà Vạn Ninh,
Trong địa đồ nhật trình mới dẫn,
Phủ Thừa Thiên lạch Thuận là đây.
Đồn Ông cột tháp thành xây,
Chèo lan thuyền quế tới ngay hải tần.
Gió nam huân buồm bay phảng phất,
Đã tỏ chừng lạch Cấp cát bay.
Ba chòm chín xóm là đây,
Là qua lạch Cấp sóng rày lao xao.
Cây kè, cửa Việt càng cao,
Viển vông cứ đó ra vào làm tiêu.
Vui chơi Quảng Trị dập dìu,
Lạch Tùng hai khẩu nhiều điều quanh co.
Vũng Vang ấy đó kia là,
Trông ra Hòn Cỏ tà tà khi nay.
Mũi Lài này lễ dâng Tam Thánh,
Khấn phù trì cát khánh chớ âu.
Tấn phòng đâu thấy ngạt ngào,
Cát bay một dải dài sao thế này.
Quảng Bình đây kim thang hắc thổ,
Khách bộ hành quen đó Đồng Quan.
Đầu Lao mũi ấy là ngàn,
Hải Môn, Nhật Lệ nghênh ngang ra vào.
Sóng dâng địa tục càng cao,
Xác lèo kéo lái gần vào không nên.
Chùa Bốn thời ở bên trên,
Lý Hoà, Đá Nhảy kề liền Linh Giang.
Tấn đây có luỹ có đồn,
Bỗng đâu sóng bổ lạch Ròn trông ra.
Tây nam gió thổi êm hoà,
Phút đâu đã thấy vũng La ngoài chuồng.
Ngoài cửa Chuồng, mũi Đao là đó,
Kìa đèo Ngang nọ nọ trông lên.
Sơn Dương gần đó Mũi Dòn,
Là qua lạch Áng lại lên Dinh Cầu.
Nào hòn Ba Đọ ở đâu,
Kim ngân lễ vật trước sau phải tuyền.
Phất phơ đôi cánh buồm tiên,
Tỏ chừng lạch Nhượng, Én duyên Loan kề.
Ngoài Trập che mà trong cửa Nhượng,
Thuyền ngư ông ngày tháng tiêu dao.
Kim ngân lễ cúng hòn Ngao,
Là qua lạch Sót hỏi nào Đầu Cân.
Ngoài hòn Mắt trông chừng Hà Tĩnh,
Lạch Lò Cương Gián thủng thỉnh vào ra.
Hòn Nồm kề với hòn Ngư,
Nghệ An, Cửa Hội lễ từ mới xong.
Cồn Khơi sóng vỗ ì ầm,
Kìa Lan Châu đó là Rồng Xá đây.
Lạch Lò đương lúc tỉnh say,
Chuồng Gà ai dễ, đếm bày hành nhân.
Sóng Cồn Chà dập dình mặt nước,
Trong Ngân Hào thuở trước bày ra.
Thuyền dần đà là qua bãi sóng,
Trên Hai Vai, lạch Vạn trông vô.
Tù mù gọi đó Hòn Câu,
Trường sa bãi cát một màu như in.
Hung, Chè thời ở bên trên,
Hoá công đâu đã kề liền lạch Thơi.
Hòn Riu, Hòn Kiến, sóng nhồi,
Chó nằm Xanh Bắc là nơi lạch Quèn.
Trong lạch Quèn, Ngựa Trâu giữ cửa,
Cáo bắt gà rệt ở đầu non,
Ông Bà đứng giữa chân sơn,
Trăng thu vằng vặc dạ còn như in.
Kim ngân lễ vật cầu yên,
Lòng thành mệnh bạc gọi rằng khách thương.
Đầu rồng đuôi lại vắt ngang,
Đã qua Hàm Ếch lại sang Bạch Đầu.
Cột Nanh đâu, hỏi đến đuôi rú,
Nào kim ngân cháo nổ đưa ra.
Lễ nồi ba chén khề khà,
No say đến Ói lại qua cửa Cờn.
Nơi nhà quan, vua Bà phù hộ,
Rồng Trắp chầu tỏ Rạn Nồi Rang.
Kìa kìa đá nhảy chan chan,
Thuyền qua bãi Sụn lại sang Đông Hồi.
Củ nằm giữa bãi sóng dồi,
Quách thành cao ngất là nơi Yên Hoà.
Lác trông ra thành nào trên rú,
Hay là thành trấn thủ đông tây.
Biện Sơn vụng Ngọc tốt thay,
Khi qua vụng Biện lặng thời như ao.
Trình đồn rồi lại nhổ neo,
Nay mừng gặp hội Đường Nghiêu lo gì.
Trông ra , trong kề Bung, Núc,
Trong bãi Đón ngựa giục Trường Sa.
Núi đầu trông cũng thấy tà tà,
Đó là hòn Bạng, cũng là hải môn.
Xưa kia Câu Chữ là hòn,
Anh linh hiểm cốc, Kình Côn tìm về.
Nằm mà nghe sóng kêu hòn Sủi,
Tới hòn Chay hỏi Rạn là đâu.
Bãi Hiều cát trắng một màu,
Chéo Vòng bát ngát biết cao mấy trùng.
Mặc tấm lòng ra tay chỉ núi,
Sóng cửa Hàu ghép lại cho nguyên.
Gầm, Ghép thời ở bên trên,
Tha hương ngộ cố anh em vui chào.
Ngoài cồn Trào lao xao sóng vỗ,
Tới chốn này chớ có đi vô.
Chính đây là đất Thanh Hoa,
Vào Trường ta đậu mua ăn chơi.
Bắt chân lên Sập mà ngồi,
Ở ngoài hòn Nẹ là nơi dựa thuyền.
Lưới câu thì ở bãi Diêm,
Lạch Sung thẳng tỏ trông lên Thần Phù.
Lèn Thần Phù lô xô chém chả,
Người Ninh Bình ăn nói cũng xinh.
Gió nam ta chạy bãi Sành,
Kia miền Nam Định rắp ranh lạch Đài.
Cồn Tiềm thời ở bên ngoài,
Đã qua lạch Lác muôn đời chớ âu.
Hỏi qua lạch Ba Lạt ở đâu,
Qua cồn Thống Chế trước sau phải dè.
Trà Lân, Trà Lý hầu kề,
Cột đồng ai đúc làm bia để truyền.
Lạch Hộ nay Quan Long là bãi,
Lạch Thái Bình đã tới Hải Dương.
[...]
Là qua lạch Cấm bán buôn thích tình.
Hải Phòng trai gái cũng xinh,
Phượng Hoàng, Hải Khẩu ấy thành Quảng Yên.
Ở ngoài bãi Sách trông lên,
Mà trông Bang Trí buồm tiên qua rồi.
Trông ra hòn Lạng, hòn Nhồi,
Thuyền bè san sát nhiều người mại thương.
Lạch Ngọc nay đã tỏ chừng,
Lạch Hầu qua khỏi tới chân Cát Bà.
Vạn Ninh phố xá nguy nga,
Anh em ta xuống để mà tiêu dao.
Nào mừng vua Thuấn đời Nghiêu,
Thuận tình thương mại ít nhiều quản chi.
Bán buôn ai có vật gì,
Phải xem vật thịnh, vậy thì nhân khang.
Dẫu ai đi bắc về nam,
Nhật trình phải biết để làm về sau.
Lật xem từ cuối chí đầu,
Ba mươi sáu tấn ta thời dặn cho.
Ai đi sông bến phải dò,
Đoạn rồi ta lại kể vô cho tường.


Bài nhật trình này kể từ Huế ra tới Vạn Ninh (tức Móng Cái hiện tại). Tác giả bài này không phải là người bình dân mà có học chữ Hán ít nhiều nên nhắc đến “con thuyền Phạm Lễ” đến vua Thuấn, vua Nghiêu,... Câu văn cũng không chỉ song thất lục bát hoặc lục bát mà chen nhau. Tác giả cũng nhân hoá hiện tượng thiên nhiên.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]