弔首科勳

三番慷慨誓同仇,
不死沙場志不休。
張將雄風碑並峙,
文山正氣史長留。
悲哉國勢危懸髮,
死耳男兒恥叩頭。
十里湫江波浪怒,
孤舟月夜不勝愁。

 

Điếu thủ khoa Huân

Tam phiên khẳng khái thệ đồng cừu,
Bất tử sa trường chí bất hưu.
Trương tướng hùng phong bi tịnh trĩ,
Văn sơn chính khí sử trường lưu.
Bi tai quốc thế nguy huyền phát,
Tử nhĩ nam nhi sỉ khấu đầu.
Thập lý Tho giang ba lãng nộ,
Cô chu nguyệt dạ bất thăng sầu.

 

Dịch nghĩa

Ba phen khẳng khái thề cùng giết giặc,
Chưa chết ở chốn sa trường thì chí này chưa nguôi.
Phong thái oai hùng của Trương tướng cùng sừng sững với bia đá,
Chính khí của Văn sơn còn lưu mãi trong sử sách.
Buồn thay! thế nước nguy ngập như treo đầu sợi tóc,
Thà chết thôi chứ kẻ nam nhi thẹn với chuyện phải cúi đầu trước quân thù.
Sông Mỹ Tho mười dặm sóng dậy,
Trên chiếc thuyền con dưới ánh trăng, khôn xiết buồn bã.


Lời tự: "Dụng tiền nhân điếu công nguyên cú" 用前人弔公原句 (Dùng nguyên câu của người trước điếu ông).

Bài thơ này hoạ vần bài Tuyệt mệnh thi của Nguyễn Hữu Huân.

Nguồn:
1. Ngô Đức Kế, Phan Tây Hồ di thảo, nhà in Chân Phương, 1927
2. Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng, 1995

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Đức Kế

Hăng hái thề bồi quyết bấy lâu,
Liều mình vì nước trả thù sâu.
Gan liền Trương tướng bia còn mãi.
Chính khí Văn sơn sách để sau.
Thế nước đến nguy như sợi tóc,
Tài trai thà chết chẳng nghiêng đầu.
Sông Tho mấy dặm dồn cơn sóng,
Trăng dõi quanh thuyền nghĩ chạnh đau.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Giết giặc ba phen thề khẳng khái,
Sa trường chưa chết chí chưa thành.
Oai hùng Trương tướng còn bia đá,
Chính khí Văn sơn mãi sử xanh
Thế nước nguy như treo sợi tóc,
Nam nhi thà chết trước quân thù.
Mỹ Tho sông dậy mười cơn sóng,
Khôn xiết thuyền con buồn nguyệt mờ.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời