Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
6 bài trả lời: 6 bản dịch
Từ khoá: tòng quân (45) chiến tranh (218)
Đăng bởi Vanachi vào 25/01/2009 23:19, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 04/02/2015 17:22

後出塞其二

朝進東門營,
暮上河陽橋。
落日照大旗,
馬鳴風蕭蕭。
平沙列萬幕,
部伍各見招。
中天懸明月,
令嚴夜寂寥。
悲笳數聲動,
壯士慘不驕。
借問大將誰,
恐是霍嫖姚。

 

Hậu xuất tái kỳ 2

Triêu tiến Đông Môn doanh,
Mộ thượng Hà Dương kiều.
Lạc nhật chiếu đại kỳ,
Mã minh phong tiêu tiêu.
Bình sa liệt vạn mạc,
Bộ ngũ các kiến chiêu.
Trung thiên huyền minh nguyệt,
Lệnh nghiêm dạ tịch liêu.
Bi già sổ thanh động,
Tráng sĩ thảm bất kiêu.
Tá vấn đại tướng thuỳ,
Khủng thị Hoắc phiêu diêu.

 

Dịch nghĩa

Sớm tới cửa trại phía đông,
Chiều tới cầu Hà Dương.
Bóng chiều tà chiếu lên lá cờ lớn,
Ngựa hí, gió lồng lộng.
Nơi bãi cát bằng phẳng có hàng vạn bộ chỉ huy,
Các đội ngũ đều tề chỉnh.
Trăng sáng treo giữa trời,
Quân lệnh uy nghiêm nên ban đêm rất yên tĩnh.
Vài tiếng tù và kêu ảm đạm,
Người lính chiến buồn nhưng không kiêu ngạo.
Thử hỏi viên đại tướng là ai vậy,
Sợ chính là tướng phiêu diêu họ Hoắc.


(Năm 755)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Doanh Đông Môn buổi sáng,
Cầu Hà Dương buổi chiều.
Bóng xế soi cờ đỏ,
Ngựa hí gió hiu hiu.
Cát bằng đóng muôn trại,
Quân nào trại ấy theo.
Lệnh nghiêm đêm lặng lẽ,
Trăng sáng giữa trời treo.
Đôi tiếng kèn bi trỗi,
Tráng sĩ cùng buồn theo.
Đại tướng là ai đó,
E là Hoắc phiêu diêu.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Đông cửa thành mai đến,
Cầu Hà Dương tới chiều.
Soái kỳ, nắng xế chiếu,
Gío nhẹ ngựa lồng kêu.
Đội ngũ sẵn chờ lệnh,
Cát bằng cắm vạn lều.
Bầu trời trong vắt vẻo,
Nghiêm lệnh đêm cô liêu.
Kèn thảm lòng ray rức,
Hùng tâm giảm ít nhiều.
Hỏi ai làm đại tướng,
Có lẽ Hoắc phiêu diêu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Sáng ngày, đến đóng cửa đông,
Buổi chiều lại đến cầu sông Dương Hà,
Đại kỳ rọi ánh nắng tà,
Gió đưa tiếng ngựa từ xa hí đều.
Bãi bằng san sát vạn lều,
Lệnh truyền, đội ngũ thảy đều tuân theo,
Giữa trời vằng vặc trăng treo,
Lệnh nghiêm đêm vắng càng deo nỗi sầu,
Tù và nghẹn tiếng đêm thâu,
Khiến người tráng sĩ nuốt sầu bớt kiêu,
Tướng nào chinh chiến hẳn nhiều,
Chắc là đại tướng phiêu diêu đây rồi...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Sớm từ trại phía đông,
Chiều tới cầu Hàm Dương.
Ánh chiều soi cờ lớn,
Ngựa hí, cơn gió lồng.
Ban chỉ huy trên bãi,
Đội ngũ dàn thành hàng.
Trăng treo giữa trời sáng,
Đêm vắng lệnh khẩn trương.
Vài tiếng ốc vang dậy,
Buồn nhưng không xốn xang.
Thử hỏi ai là tướng,
Hoắc phiêu diêu chớ màng!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Dinh Đông môn tiến vào buổi sáng
Hà Dương chiều chạng vạng lên cầu
Nắng chiều cờ lớn tươi màu
Gió lay đoàn ngựa đua nhau hí dài
Lều trại được dựng theo bãi cát
Đội ngũ đều treo các hiệu cờ
Không trung trăng rọi mơ hồ
Lệnh nghiêm phăng phắc như tờ đêm thâu
Tiếng kèn báo trên lầu buồn bã
Chiến sĩ sầu nên đỡ kiêu căng
Chỉ huy đại tướng ai chăng?
Hắc phiêu diêu tướng e rằng chính ông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Sớm tới cửa trại phía đông,
Chiều về lại tới cầu sông Dương Hà.
Cờ lớn chiếu bóng chiều tà,
Ngựa hí, gió lộng từ xa vọng về.
Bãi bằng vạn chỉ huy lều,
Các đội ngũ đều chỉnh tề đợi ban.
Trăng sáng treo giữa trời quang,
Uy nghiêm quân lệnh nên càng tĩnh đêm.
Tiếng tù và ảm đạm thêm,
Người lính buồn nhưng không thèm ngạo kiêu.
Hỏi ai đại tướng phiêu diêu,
Chính Hoắc Khứ Bệnh tướng liều Sơn Tây.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời