老來

老來萬事付悠然,
待漏霜靴亦可憐。
秋晚魚蝦思海上,
家貧兒女樂燈前。
塵迷病眼書難讀,
酒滯愁腸夜不眠。
不學五陵年少氣,
夢間勁弩響空絃。

 

Lão lai

Lão lai vạn sự phó du nhiên,
Đãi lậu sương ngoa diệc khả liên.
Thu vãn ngư hà tư hải thượng,
Gia bần nhi nữ lạc đăng tiền.
Trần mê bệnh nhãn thư nan độc,
Tửu trệ sầu tràng dạ bất miên.
Bất học Ngũ Lăng niên thiếu khí,
Mộng gian kình nỗ hưởng hông huyền.

 

Dịch nghĩa

Già rồi muôn việc phó mặc thời gian dài dằng dặc,
Đôi giầy đi sương chờ buổi vào chầu cũng đáng thương.
Cuối thu, tôm cá nhớ biển cả,
Nhà nghèo, con cái vui cảnh trước đèn.
Bụi làm mắt đau khó đọc sách,
Rượu đọng trong dạ sầu, đêm không ngủ được.
Chẳng học kiểu cách bọn thiếu niên ở Ngũ Lăng,
Trong giấc mơ nghe tiếng nỏ cứng vang tiếng dây không.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phong Hạo

Bạc đầu vạn sự phó nhân duyên,
Hài cỏ đi sương để cũ mèm.
Tôm cá vãn thu mơ bể lớn,
Trẻ nhà khốn khó quẩn bên đèn.
Mắt nhèm đọc sách thêm mỏi mệt,
Rượu đọng lòng đau giấc chẳng nên.
Học phái Ngũ Lăng theo chẳng nổi,
Đêm đêm kình nỏ thúc mơ êm

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Già rồi vạn sự phó duyên thiên,
Giầy cỏ đi sương đã cũ mèm.
Tôm cá cuối thu mơ biển cả,
Nhà nghèo con cái tụ bên đèn.
Bụi làm đau mắt không xem sách,
Rượu đọng dạ sầu giâc chẳng bền.
Chẳng học Ngũ Lăng theo kiểu cách,
Trong mơ nỏ cứng tiếng dây êm.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời