
Uẩy đâu sự mới nực cười,
Chẳng hay con tạo trêu ngươi cớ gì?
Ông Đô đốc chốn kinh kỳ,
Nghe đồn Quỳnh Ngọc dung nghi khác vời.
Sắm sanh tử tế lạ đời,
Lọng xanh buông chỉ, võng mai ngà.
Rõ ràng bộ đẩy cẩm hoa,
Xênh xang áo thắm, nhởn nha quần điều.
Giáo , gươm bạc dập dìu,
590. Đôi khiêng đủng đảnh, cặp hèo nghênh ngang.
Luân thêu thảm vấn hoang mang,
Phập phào thuốc giấy ngó càng đẹp trai.
Ống nhổ bạc, tráp ngà voi,
Lò hương đồng bạch, nón quai đồi mồi.
Năm ngày ông rẽ tới nơi,
Trương công nghe nói tơi bời sửa sang.
Cắt người dọn chốn tĩnh đường,
Trắng ngần chiếu kẽ, sáng choang ống đồng.
- “Dám mời ông lớn vô trong”,
600. Tửu đồng tấp nập, trà phòng lanh trai.
Thung dung mới gởi khoan thai:
“Dám có việc chi người đến đây?”
Gởi thôi ông dạy làm vầy:
- “Ta nghe chúng nói ông rày có con,
Vậy nên tính việc cầu hôn,
Mần răng tính đó cho tròn mới xong.”
Trương công nghe nói hãi hùng,
Gởi rằng: “Trẻ nó ấu trùng dám đâu.
Vả tôi với khách doanh cầu,
610. Việc định với nhau đã rồi.”
Ông nghe thấy nói trái tai,
Đù oả sấu đá Đồng Nai ngầy ngà:
- “Đây không đáng rể ông già?
Gớm gan Đô đốc có là chi mô.
Trẻ bay phá cửa bay vô,
Nắm bắt ngó thử máu cô chừng nào.”
Trương công tìm giọng ngọt ngào:
- “Thân ông thương đến dạy sao vâng lời.
Vội vàng thế chửa hợp ngôi,
620. Hãy xin sắm sửa nữa tôi dâng người.”
Ông rằng: “Nỏ đặng nói chơi,
Chừng năm ba bữa ta sai chúng về.”
Sắp quân rẽ xuống kinh kỳ,
Ngựa lay mào thắm, võng kề lọng xanh.
Trương công tính toán trăm hình,
Nghĩ rằng chẳng lọt khỏi vành nầy đâu!
Bèn vào đến chốn xuân lâu,
Đòi Quỳnh nương nói trước sau mọi điều:
- “Bây giờ con nghĩ thế nào?
630. Nên chăng liệu lấy làm sao mặc lòng.”
Quỳnh nương thấy nói hãi hùng,
Than rằng: “Phận bạc má hồng gớm thay!
Lời nguyền văng vẳng còn đây,
Kim lang biết nỗi nước nầy hay không?
Cũng toan giếng thẳm cho xong,
Nhưng còn nghĩ lại tấm lòng chưa yên.
Thà rằng được thấy mặt chàng,
Tỏ bày tâm sự, thở than ân tình.
Rồi mình sẽ tính phận mình,
640. Cho toàn một ước, cho minh một nguyền.
Sai Hồng nương lại đưa tin,
Rơi châu đề bức gởi về:
Nguyệt lão xe dây khéo dở dang,
Xanh xanh chi nỡ phụ hồng nhan.
Rẩy run ngán nhẽ, tiên mà cú,
Đôi lứa ghê thay, ngọc lẫn than.
Lá ghét mày xanh chìm nước biếc,
Chim ghen môi thắm vắng tin vàng.
Đội ơn công tử lòng như một,
650. Bồ liễu duyên sao khéo bẽ bàng.
Bẽ bàng duyên phận liễu bồ,
Hoa xuân kém vẻ, nguyệt thu ủ chiều.
Vì ai gợi trêu,
Khiến hồng nhan gặp lắm điều gian truân!
Ngán ngẩm thay, phận ,
Thù gì con tạo tiếc xuân riêng mình.
Ngỡ là dì gió cũng bênh,
Mà van vỉ với rẳng tình bấy nay.
Ai ngờ nên nỗi nước nầy,
660. Nào bà nguyệt lão, nào thầy thiên tiên.
Long đong ngán nhẽ phận duyên,
Nợ nần nầy phải định nguyền kiếp sau.
Gởi đưa một bức về ,
Chữ tình xin ngỏ cho nhau kẻo mà.
Chàng nghe thư nói nẫu nà,
Chiều xuân ngao ngán, mặt hoa rầu rầu.
Độn xem một quẻ mới âu:
Khắc âm hậu thổ động câu đằng thần.
670. Bói thì quẻ thuỷ, lôi truân,
Lục thần vượng hổ, lục thân không tài.
Chân giò ủ cái xung ngoài,
Vị ly hoả vượng, cung đoài kim suy.
Càng thêm não nuột mọi bề,
Giục đồng sắm sửa thẳng đè chừng lên.
Ba ngày chàng tới ngụ miền,
Đèn xanh soi bóng khêu phiền gợi thương.
Canh ba sảng tiếng ,
Thác rèm hoa, thấy một nàng tiên nga.
Chiều ủ liễu, vẻ ôi hoa,
680. Ngọc ngân môi thắm, châu sa má đào.
Nhác xem chàng ngỡ chiêm bao,
Dẫu người sắt cũng lệ rào lọ ai.
Hai bên than trúc, nguyền mai,
Trách khuôn thiên nỡ hẹp hòi lượng dung.
Nàng rằng: “Phận thiếp đã xong,
Kiếp nầy đã vậy còn hòng kiếp sau.
Những thì u hiển khác nhau,
Dễ khi gặp gỡ đã hầu mà tin.
Thiếp nay tay có son in,
690. Quỳnh nương hai chữ thì xin nhớ cùng.
Tặng chàng hồ điệp đôi vòng,
Yến đồng xin sánh với Hồng thị nương.”
Chàng nghe nàng nói tỏ tường,
Kim hoàn gởi lại tay nàng xem qua.
Thề rằng đã có trời già,
Duyên sau chẳng gặp âu thà rằng không.
Khăng khăng sắt đá một lòng,
Ước nguyền cậy với non sông biết tình.
Chuyện thôi hồi trống giục canh,
700. Tạ chàng, nàng mới sắm sanh ra về.
Người , kẻ ,
Mõ quyên khua thảm, đàn ve gảy sầu.
Tàng tàng trang điểm lên lầu,
Ngựa đâu tiếng nhạc bên cầu giong gianh.
Vội vàng hé bức mành mành,
Quan quân đã chật trong dinh ngoài đường.
Nàng bèn vào chốn phòng hương,
Mở bao lấy mỡ , .
Trâm ngà, quạt thẻ đồi mồi,
710. Vòng đeo hổ phách, chuỗi cài kim minh.
Dạ châu nhẫn mặt hoa oanh,
Ngân trang dép khảm, thuỷ tinh liễn mồi.
Đòi Hồng nương nhủ mọi lời:
“Con nay đã định lứa đôi Yến đồng,
Giữ bề tứ đức tam tòng,
Xướng tuỳ cho vẹn đạo trong cương thường.
Thay ta hầu hạ Phạm lang,
Sớm trưa cho vẹn mọi đường chúa tôi.
Kiếp nầy giã thế gian rồi,
720. Hoạ là tái thế một mai xoay vần.”
Hồng nương thấy dạy ân cần,
Nghĩ tình thầy tớ muôn phần cảm thay!
Cầm dao lá trúc liền tay,
Quyết liều mình trả nghĩa thầy cho xong.
Nàng rằng: “Đây đã biết lòng,
Thờ thầy phải đạo, thờ chồng có nhân.
Ấy là trả nghĩa một lần,
Thì ta chín suối muôn phần cũng yên.”
Nói thôi phong gấm, phô ,
730. Ngũ hoa một chén, cửu tuyền nghìn thu.
Ngân thay nhẽ, áng diêm phù,
Kiếp sinh tử, mặc đông lưu một dòng.
Trương công nghe nói não nùng,
Tiếng ai oán đã dậy trong trang đài.
Hỡi ơi! Một tiếng thơ mai,
Nợ hồng trần để luỵ người hồng nhan.
Chàng nghe thấy sang,
Ngập ngừng đôi giọt thở than một nhời:
Trời xanh cao thẳm mấy lần khơi,
740. Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi.
Buồn đốt lò vàng, hương nhạt khói,
Sầu chén ngọc, rượu không hơi.
Lầu tây nguyệt gác, mây lồng bóng,
Ải bắc , bể tuyệt vời.
Đưa lời cho tới cung mây,
Nỗi sầu xin gỡ cho đây với cùng.
Túi tơ hồng trách ai xe mối,
750. Đến nửa chừng, bỗng nới dần ra.
Căm gan một ả trăng già,
Trêu nhau chi mãi chẳng tha thế nầy?
Kể từ ngày tha hương gặp gỡ,
Chữ chung tình để nợ cho nhau.
Ái ân mấy nỗi xưa sau,
Lời vàng đã ấy dễ hầu đơn sai.
Giận vì ai làm sao thèo đảnh,
Để cho người canh cánh đôi phương
Xui nên trắc trở mọi đường,
760. Nghĩ nông nỗi ấy như vương mối sầu.
Nguyệt lầu lầu vẻ thu nhấp nhánh,
Chén lương thần lóng lánh gương in.
Đông sang tuyết đượm áo chiên,
Khúc đàn lạc sự gảy chen tính tình.
Mái xuân đình đoá hoa sắc sỡ,
Bức thưởng tâm rờ rờ nét hương.
Hạ về gió lọt lầu trang,
Vịnh chơi mỹ cảnh bên tường mấy thơ.
Bỗng bây giờ tuyết tan gió lạnh,
770. Hoa phai màu, nguyệt lánh thềm lan.
Thơ vịnh oán, rượu châm hàn,
Bức tranh vẽ thảm, cung đàn gảy thương.
Giá sầu gương, bình ngân tủi sáp,
Nếp tàn hương phong hộp châu lan.
Bụi phong đôi chiếc điệp hoàn,
Mảng phai trầm bạch, lò tàn xạ hương.
Nghĩ những đường éo le trêu ghẹo,
Gớm ghê cho mụ mối thày lay.
Làm cho gàn quái duyên nầy,
780. Nẫu nà thay, để cho đây chữ tình.
Ấy vì mình hồng nhan bạc phận,
Hay vì ta gặp vận .
Cho nên lắm lúc nhỡ nhàng,
Dẫu sao thì vậy, dễ cam một bề.
Thuở phân kỳ hai đường u hiển,
Hương hồn thiêng xin đến ở đây.
Triện hương ngát, chén rượu say,
Văn nầy ngỏ đãi, lòng nầy bao nguôi.
Có khi vắng vẻ hiên mai,
790. Trướng trong êm giấc, lầu ngoài sang canh.
Thấy người thấp thoáng dưới mành,
Dường đeo chiều thảm, dường quanh mối sầu.
Trình rằng: “Thiếp ở ,
Cảm ơn công tử, xuống hầu tạ qua.
Thiếp xưa dự bậc tiên nga,
Yến quỳnh dao sẩy chén hoa mắc đày.
Mười lăm năm nhẫn tháng ngày,
Dạo Trì lại được sánh bày thiên tiên.
Thiếp tâm đã chót trần duyên,
800. Lại xin xuống để vẹn nguyền trần gian.
Xuân huyên chàng trước muộn màng,
Đã bàn cúng Phật, lại bàn .
Cửu trùng cảm đến lòng thành,
Sai Kim tinh xuống thác sanh cõi trần.
Chàng nay Thái Bạch ,
Ắt duyên ngư thuỷ thanh vân gặp thì.
Chàng nghe nói hết mọi bề,
Hỏi rằng: “Nàng biết nàng về đâu không?”
Nàng rằng: “Thầy chửa phán xong,
810. Còn ban mệnh ấy vào trong Dao đài.”
Chuyện thôi từ tạ một lời,
Bốn phương gió thổi, một trời hương bay.
Giật mình chàng tỉnh giấc say,
Bút hoa tả lại sầu này một thiên:
Oanh ru bên trướng giấc hoa nồng,
Say tỉnh hồn mai thức bướm ong.
Non nước mơ màng chừng lữ để,
Mây mưa phảng phất đỉnh Vu phong.
Quyên về viễn phố, hoa rầu rĩ,
820. Nhạn tếch Hành Dương, nguyệt não nùng.
Đàn tiếng ly loan tay ngại gảy,
Mối sầu ai gỡ hộ cho xong?
Chàng thêm thắc mắc trong lòng,
Đã hoa liễu trận, lại phong sương hồi.
Cơn say tỉnh, lúc đầy vơi,
Đương năn nỉ nguyệt, bỗng cười cợt hoa.
Ma từng chữa, thuốc từng tra,
Thầy non , sư già .
Bệnh mười chẳng giảm một phần,
830. Rè chuông sững trống, sai cân mòn cầu.
Thiếp minh đô cũng xấu màu,
Thư phong chữ kín, gương lầu bóng không.
Kinh cầu văn cúng dơ tuồng,
Ráo bình nước phép, nhẵn vòng trang linh.
Thôi vẻ đạo lại mầu tiên,
Khăn gieo bắc nhịp cầu lên mấy lần.
Bùa , ấn ,
Giá phong chú niệm, đằng vân phép mầu.
Dẫn qua một toạ thư lâu,
840. Dải vàng hai dãy, đỉnh châu ba toà.
Quân thiều nhạc tấu tiên nga,
Điệu tham , khúc pha sinh hoàng.
Quỳnh nương phong hộp ,
Gởi đồng đưa xuống chữa chàng phong sương.
Viêm lô đem lại thiều quang,
Chồi mai mưa , cành dương gió hoà.
Thong dong mở tiệc ,
Chàng cho Hồng, Yến thất gia vẹn nguyền.
Miền , mái thư hiên,
850. Hoa lay cầm kiếm, trăng in điển phần.
Thày lay thay đứa tiểu nhân,
Tiếng phi thường biết mấy lần mỉa mai.
Gian nan vì một chữ tài,
Chẳng hay con tạo quấy rầy ta chi?
Âu là lánh chốn thị phi,
Tìm nơi phong nguyệt qua thì .
Một sư một tiểu thảnh thơi,
Cảnh thanh có chốn đợi người .
Kim sơn thắng cảnh đâu bằng,
860. Hoa đưa chén cúc, hương lừng án thung.
Mành rủ liễu, tán dương tùng,
Trúc khua phách đá, lan lồng áo .
Đêm trăng tỏ đoá hải đào,
Cửa hang gió thổi tiếng điêu dập dìu.
Đầu non vượn hót, khỉ trèo,
Cây kề cửa động, hoa leo mái già.
Chim gà gióng giỏi tiếng ca,
Nước tuôn khe biếc, khói pha lá vàng.
Kinh thuỷ sấm, kệ kim cương,
870. Rẩy cành cam lộ, thét gươm đại hùng.
,
Kinh vang tiếng , cá giong giọng .
Nguyện Di Đà, niệm Tỳ lư,
Bồ đề là đạo, chân như ấy lòng.
Miệng ăn trai giới lạ lùng,
Chán mùi lại đồng .
Hoa bát nhã, quả ,
Áp hương giải thoát, đeo hoa ưu đàm.
Mũ ni, gậy trúc, giày rơm,
880. Dấn sồng vải mỏng, nhuộm chàm thổn thưa.
Chiều thanh lịch, vẻ trai lơ,
Vãi lờ đờ dạng, tiểu lơ thơ tuồng.
Tu hành nhờ đức Thế Tôn,
Ắt say sưa đạo, lại buồn .
Lọ là khấn vái thiên tiên,
Cậy Quan Âm với Mục Liên xót tình.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.