Thơ » Nga » Nikolai Nekrasov » Ai là người hạnh phúc ở nước Nga » Phần 1 » Lời dẫn truyện
Đăng bởi Tung Cuong vào 11/04/2025 20:56, đã sửa 12 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 29/06/2025 13:55
В каком году — рассчитывай,
В какой земле — угадывай,
На столбовой дороженьке
Сошлись семь мужиков:
Семь временнообязанных,
Подтянутой губернии,
Уезда Терпигорева,
Пустопорожней волости,
Из смежных деревень:
10. Заплатова, Дырявина,
Разутова, Знобишина.
Горелова, Неелова —
Неурожайка тож,
Сошлися — и заспорили:
Кому живется весело,
Вольготно на Руси?
Роман сказал: помещику,
Демьян сказал: чиновнику,
Лука сказал: попу.
20. Купчине толстопузому! —
Сказали братья Губины,
Иван и Митродор.
Старик Пахом потужился
И молвил, в землю глядючи:
Вельможному боярину,
Министру государеву.
А Пров сказал: царю...
Мужик что бык: втемяшится
В башку какая блажь —
30. Колом ее оттудова
Не выбьешь: упираются,
Всяк на своем стоит!
Такой ли спор затеяли,
Что думают прохожие —
Знать, клад нашли ребятушки
И делят меж собой...
По делу всяк по своему
До полдня вышел из дому:
Тот путь держал до кузницы,
40. Тот шел в село Иваньково
Позвать отца Прокофия
Ребенка окрестить.
Пахом соты медовые
Нес на базар в Великое,
А два братана Губины
Так просто с недоуздочком
Ловить коня упрямого
В свое же стадо шли.
Давно пора бы каждому
50. Вернуть своей дорогою —
Они рядком идут!
Идут, как будто гонятся
За ними волки серые,
Что дале — то скорей.
Идут — перекоряются!
Кричат — не образумятся!
А времечко не ждет.
Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]
Gửi bởi Tung Cuong ngày 11/04/2025 20:56
Đã sửa 6 lần,
lần cuối bởi Tung Cuong
vào 12/11/2025 16:19
Chuyện năm nào - mời bạn vào tính toán,
Việc ở đâu - bạn cứ đoán, biết liền,
Chuyện kể rằng, trên đường cái qua làng
Bảy mugich đi việc riêng, tụm lại;
Toàn tá điền gánh nợ tô bại hoại,
Ở một tỉnh đói kém doạ thường niên
Thuộc huyện Ter pi gô rep - Khổ đã quen
Trong một xã, nguồn lương ăn đã cạn
Họ đều đến từ các làng lân cận
10. Làng Áo vá - Daplatôp, thôn Mặc rách - Đưriavin
Thôn Radutôp, làng Dnabiashin.
Làng Khốn khổ - Gorelop, thôn Nheelop - Nhịn đói -
Làng Mất mùa Nheurogiaik cùng một hội,
Họ gặp nhau và tranh cãi rất hăng:
Xem ở Nga có ai hạnh phúc chăng,
Có ai được tự do thực thụ?
Rôman bảo: tự do là địa chủ,
Đêmian khen: quan lại sướng no nê,
Luca kêu: cha cố mới sướng ghê.
20. Thương gia bụng phệ là nghề sung sướng! -
Anh em nhà Gu bin cãi bướng,
Tên họ là Ivan với Mitrodor.
Ông lão Pakhom nghĩ mãi mới ra,
Rồi mở miệng, mắt nhìn qua xuống đất:
Quan quý tộc là người sướng thật,
Các ông thượng thư của triều đình.
Còn Prop khăng khăng: sướng nhất Nga hoàng…
Dân mugich cũng như bò đầu đất
Có điều nhảm nhí ghi đầu gã thật -
30. Thì dù roi hay gậy quất vào đầu
Không moi ra được khỏi óc gã đâu,
Vãi nói vãi hay, sư kêu sư phải!
Họ cãi vã như mổ bò, lải nhải,
Còn người qua đường thấy thế nào -
Thì hệt như chuyện bắt được hũ vàng
Giờ phải chia thế nào cho nhanh gọn…
Ai cũng mải việc mình, đang bận rộn
Phải đến trưa, họ mới bước ra đường:
Người thì đi tới tận chỗ lò rèn,
40. Kẻ đến làng Ivankovo bên cạnh
Sang mời gọi cha Prokophi nhờ việc trọng
Tới làm lễ đặt tên cho trẻ mới sinh.
Pak vội vàng đem đõ mật ong
Mang sang chợ Velikoie để bán,
Còn hai anh em nhà Ghubin tính toán
Muốn chỉ dùng dây không vẫn dám làm
Đòi bắt xong con ngựa bất kham
Dẫn ngựa trả về đúng đàn nhà chủ.
Đáng ra phải chia tay từ lâu chứ
50. Đường ai nấy đi, cứ thế mà theo -
Thế mà giờ đây họ vẫn bước cùng nhau!
Đi như bị ai đằng sau đuổi bắt
Có sói xám ngay sau lưng bám sát,
Càng chạy xa, càng thấy sói nhanh hơn.
Đi bộ thì bị chúng vượt qua luôn!
Mà hét doạ thì đầu chúng không tỉnh lại!
Mà thời gian đâu có chờ đợi mãi.
Gửi bởi Tung Cuong ngày 12/04/2025 07:18
Đã sửa 4 lần,
lần cuối bởi Tung Cuong
vào 14/04/2025 07:13
PHÂN TÍCH TRƯỜNG CA
CHỦ ĐỀ
§.Tư tưởng chủ đạo của trường ca “Ai là người hạnh phúc ở nước Nga” là nhân dân xứng đáng được hưởng hạnh phúc và họ có quyền đấu tranh giành hạnh phúc. Nhà thơ tin vào điều này, và bằng toàn bộ tác phẩm của mình, ông đã chứng minh cho điều đó. Nếu chỉ một người riêng lẻ hạnh phúc là chưa đủ, đó không phải là giải pháp cho vấn đề. Trường ca đặt vấn đề kêu gọi mọi người suy ngẫm về việc toàn dân được hưởng hạnh phúc, về “Bữa tiệc chiêu đãi toàn thế giới”.
§.Trong trường ca của mình, Nhecrasôp đã thể hiện quá trình diệt vong của thế giới cũ. Và sự nảy sinh thế giới mới. Nước Nga, đang ở ranh giới giữa hai thời đại, đang đặt chân vào con đường thay đổi. Một mặt, chúng ta thấy nhiều tàn tích của giới quý tộc và dấu tích của thời còn chế độ nông nô, những thứ đó làm khuôn mặt của dân tộc Nga bị biến dạng, biến dân tộc Nga thành một khối hỗn loạn dốt nát và xấu xí. Mặt khác, chúng ta cũng chứng kiến dần dần, trong người nông dân đã thể hiện nhiều mầm mống của sự tự nhận thức, đã xuất hiện những con người yêu nước thật sự với tổ quốc mình, kiểu người như Girin và Dobroxklonop. Đây cũng là tư tưởng chính của trường ca “Al là người hạnh phúc ở nước Nga “- là thể hiện những thay đổi toàn diện ở nước Nga và cổ vũ bạn đọc tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước tươi đẹp hơn.
Tư tưởng chủ đạo và quan điểm của tác giả Nhecrasôp thể hiện ở chỗ nước Nga sẽ bước vào thời đại đổi mới và tự do, nhân dân Nga sẽ sống trong hoà bình và phồn thịnh. Nhưng muốn vậy, toàn dân phải đoàn kết đồng lòng và nhận thức được cương vị mới: giờ đây họ không còn là thần dân và nô lệ, mà họ là những công dân có đày đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình.
CÁC CHỦ ĐỀ
Hệ thống chủ đề trong trường ca “Ai là người hạnh phúc ở nước Nga” là chất xúc tác thú vị để con người hiện đại suy ngẫm.
-Hạnh phúc: Việc tìm kiếm và đạt tới hạnh phúc theo Nhecrasôp và các nhân vật của ông phải đặt lên hàng đầu. Mặc dù trong cuộc sống có thể gặp mọi sự khủng khiếp và bất công, nhà văn vẫn tin tưởng rằng, sớm hay muộn, nhân dân Nga sẽ có thể xây dựng một thế giới mới, hạnh phúc.
-Lòng yêu nước: Tình yêu Tổ quốc của Nhecrasôp được thể hiện qua việc tận tuỵ phục vụ những người bình thường. Chỉ những ai, vì hạnh phúc của dân tộc mình mà sẵn sàng hy sinh bàn thân mình mới là nhà yêu nước chân chính của nước nhà.
-Tổ quốc: Việc phục vụ tổ quốc và nhân dân mình là người thiện nguyện ở cấp cao nhất, theo ý kiến của Nhecrasôp. Nước Nga cần các anh hùng của mình và xứng đáng được họ giúp đỡ. Nước Nga thật giàu có và phong phú, hào hiệp và dễ nhượng bộ, tươi đẹp và hùng vĩ. Trên mảnh đất này, con người có thể và phải được sống sung sướng
-Chủ đề nhân dân: Trong trường ca, nhân dân Nga được thể hiện thông qua hình ảnh những con người mệt mỏi, nghèo đói, bị áp bức và đè đầu cưỡi cố, tuy nhiên, đồng thời, nhân dân vẫn giữ được tính vị tha, khát vọng công bằng và giúp đỡ lẫn nhau. Nhecrasôp tin rằng, nhân dân Nga đang đứng tại giai đoạn mở đầu thời đại mới, tốt đẹp hơn, nơi sẽ không còn cảnh áp bức và bất công.
-Chủ để đường sá: Chuyến chu du của bảy mugich trên các nẻo đường nước Nga tượng trưng cho con đường trường kì mà dân Nga phải trải qua để thực hiện được hết tiềm năng của mình.
-Phong cảnh: Trong trường ca Nhecrasôp có thiên hướng miêu tả nhiều quang cảnh nông thôn tỉnh lẻ ở nước Nga. Những cánh đồng rộng mênh môngj bát ngát, những khu rừng tối sẫm và bao làng mạc trông thật buồn đưa chúng ta hoà nhập vào sinh hoạt của những người lao động đơn giản của thời đó. Thiên nhiên trong trường ca “Ai là người hạnh phúc ở nước Nga” đã trở thành người bạn trung thành của người nông dân. Như vậy, chính cuộc sống cùng rừng núi và đồng ruộng, mà Matriona đã tìm thấy cho mình sự cân bằng trong tâm hồn và sức lực tiếp tục cuộc sống nặng nề.
-Lòng vị tha: Người nông dân Nga được thể hiện như một con người giàu lòng vị tha, chân thành, họ luôn sẵn sàng chìa tay ra giúp đỡ người gặp nạn và thậm chí còn hy sinh cả cuộc sống đầy đủ của mình để giúp đỡ người thân cận.Thí dụ, có một chi tiết sau: khi Pavel Vềrẽtênnhikôp đã đưa tiền cho Vavila làm quà tặng cho cháu gái.
-Chủ đề sống tha hương cũng được phản ánh trong trường ca. Chẳng hạn, chính nhiều người đấu tranh bảo vệ nhân dân đã bị trừng phạt đi tù đầy, sống tha hương - Xavelí và (sau đó) cả Grigori. Điều này cho thấy rằng, điều đau khổ lớn nhất với người Nga là phải rời bỏ quê hương thân yêu.
Những bài học về đạo đức trong trường ca “Ai là người hạnh phúc ở nước Nga” là lời kêu gọi đòi hỏi công bằng và thái độ nhân đạo nhằm vào tất cả các tầng lớp xã hội, nhưng nhiều nhất là giới quý tộc, v
NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH
-Sự bất công trong xã hội: Trong trường ca trình bày cách hiểu khá sâu sắc về sự bất bình đẳng trong xã hội ở Đế quốc Nga. Chúng ta thấy rằng, phần lớn cư dân trong nước, mặc dù triều đình đã bãi bó chế độ nông nô, nhưng vẫn tiếp tục sống cuộc sống nô lệ, đầy tăm tối.
-Tình trạng nô lệ: theo ý kiến của Nhecrasôp, chế độ nông nô đã để lại dấu vết cực kì sâu đậm trong ý thức của người Nga. Nhà thơ cho chúng ta thấy rằng.cải cách nông thôn đã gây cú sốc vì được tự do một cách quá đột ngột cho người nông dân, và cả thiểu số giới quý tộc đã quen hướng nhiều đặc quyền đặc lợi, giới quý tộc chống lại những thay đổi và muốn đòi lập lại nước Nga nông nô thời xưa. Nhà thơ cho rằng, chỉ bằng cách vượt qua bản chất tự nhiên của mình, người Nga mới có thể đạt tới hạnh phúc.
-Chế độ bạo chúa: Nhà văn đã chỉ ra không chỉ chế độ độc tài trong cách cư xử của quý tộc với nông nô của mình mà cả nạn độc tài trong cư xử của nông dân với nhau. Thí dụ, nhà thơ kể lại câu truyện một kẻ phản bội, người này đồng ý nhận phần thưởng của người có quyền thừa kế để tiêu huỷ giấy di chúc của ông chủ, để không phải giải phóng nông dân, cho họ tự do.
-Thân phận của phụ nữ: Thông qua thí dụ về Kor tra ghina, Nhecrasôp đã kể cho chúng ta biết về địa vị bị áp bức của phụ nữ Nga trong một xã hội nam quyền. Phụ nữ không được giải phóng ngay cả sau thời kỳ đã xoá bỏ chế độ nông nô và tiếp tục là nô lệ ngay chính trong gia đình mình, nơi mà họ bị yêu cầu vừa phải làm vợ, vừa phải chăm sóc con cái và chăm lo kinh tế gia đình.
-Tình trạng mù chữ, thất học, dốt nát: Nhà văn rất công phẫn trước hiện trạng người dân Nga không được học hành đầy đủ. Chỉ khi nào, người nông dân bắt đầu đọc các loại sách quý giá, biết rèn luyện, phát triển bản thân mình, học tập, xã hội Nga mới thay đổi thật sự. Còn lúc này, bất cứ một nhân viên văn phòng nào cũng có thể lừa dối những người lao động mù chữ và dốt nát.
-Thói say rượu bê tha: Nhecrasôp lên án tệ nạn uống rượu phổ biến trong giới nông dân, tuy nhiên, đồng thời, nhà văn cũng tranh luận một định đề về tình trạng toàn dân Nga nát rượu. Nhà văn đã khẳng định rằng, trong số nông dân cũng rất nhiều người không nghiện rượu, tuy nhiên đời sống của số người này cũng không hề tốt hơn những người nghiện rượu. Nhecrasôp cho rằng, khi nâng cao được mức phúc lợi của mọi người, thì có thể sẽ mãi mãi tiêu diệt được tệ nạn nghiện rượu. Nó là hậu quả gây ra đau khổ vô tận.
-Các cuộc nổi loạn, khởi nghĩa: Nhecrasôp đã miêu tả tình trạng nông dân bất bình nổi dậy thường gặp ở nông thôn. Những người vốn hôm qua còn là nông nô, chưa sẵn sàng chấp nhận những nhà quý tộc quen sống trên lưng người nông dân. Đồng thới, các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn tỏ ra vô nghĩa lý và có thái độ quá tàn nhẫn.
-Công cuộc cải cách. Việc giải phóng nông dân là thảnh công của nước Nga, nhưng nhà thơ muốn thu hút sự chú ý của bạn đọc tới cả các mặt tiêu cực của việc xoá bỏ chế độ nông nô. Khi bỏ đi chế độ nông nô, thì mục tiêu của thế kỷ sẽ đánh mạnh một mặt là các nhà quý tộc chủ đất, mặt khác, cũng giáng mạnh vào người nông dân. Nghĩa là phải có cách thức hiệu chỉnh và thay đổi, vì con người không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp nhận các đổi thay cực đoan.
Gửi bởi Tung Cuong ngày 12/04/2025 07:22
Đã sửa 6 lần,
lần cuối bởi Tung Cuong
vào 13/01/2026 14:55
CẤU TRÚC
Phần một là phần duy nhất không có tên gọi. Phần này được viết ngay sau khi triều đình bãi bỏ chế độ nông nô. Dựa vào bốn dòng thơ, có thể nói rằng, Nhecrasôp lúc ban đầu có ý định bóng gió nêu lên tất cả các vấn đề của nước Nga thời đó.
Chuyện năm nào - mời bạn vào tính toán,
Việc ở đâu - bạn cứ đoán, biết liền,
Chuyện kể rằng, trên đường cái qua làng
Bảy mugich đi việc riêng, tụm lại;
Họ gặp nhau và tranh cãi rất hăng:
Xem ở Nga có ai hạnh phúc chăng,
Có ai được tự do thực thụ?
Trong lúc tranh cãi, họ không để ý nhận thấy ngày đã hết, và giờ trở về nhà là muộn. Họ quyết định ngủ lại trong rừng và khi nhóm đống lửa lên họ lại lao vào cuộc đấu khẩu dữ dội hơn.
Vào lúc này, một chú chim sẻ non bị lọt ra khỏi tổ rơi xuống đất. Những người nông dân đã cứu chú sẻ non, nhờ vậy, để trả ơn nhóm người này, sẻ mẹ đã kể cho cả nhóm bẩy người nghe chỗ để chiếc khăn trải bàn có phép thần, biết tự bày ra mọi đồ ăn, thức uống.
Từ giờ trở đi, chiếc khăn trải bàn thần kỳ sẽ giúp nhóm nông dân có ăn uống và giải quyết được nhiều vấn đề trong sinh hoạt. Họ quyết định sẽ đi tiếp, mà không về nhà ngay, cho tới khi tìm ra câu trả lời đúng đắn mà họ đang tranh cãi mới thôi.
Chương I. Cha cố
Nhóm bẩy người nông dân tiếp tục lên đường. Họ gặp gỡ nhiều người, nhưng họ không hỏi han ai về cuộc sống. Tất cả đều thấy họ quen thuộc: nào thợ giày, thợ thủ công, người ăn mày, người đánh xe ngựa. Một người lính không thấy mình sung sướng. Anh ta cạo râu bằng lưỡi riu, sưởi ấm bằng khói. Đến gần đêm, họ gặp một cha cố. Nhóm chu du đứng thành hàng dài và chào cha cố. Luka bắt đầu hỏi cha cố, ông có thấy hạnh phúc không. Cha cố nghĩ ngợi một lát rồi bắt đầu kể. Ông không đả động gì tới những năm tháng đi học. Cha cố thấy lòng mình không bình yên. Cha cố được gọi tới thăm người ốm, người đang hấp hối. Trái tim ông thấy buốt đau vì thương các trẻ mồ côi, và những người sắp từ giã cõi đời này. Ông không đủ can đảm đưa tay nhận những đồng xu của họ khi họ trả tiền công làm các việc như lễ thánh, ma chay cưới xin. Mà muốn sống thì phải sống bằng gì chứ. Cha cố không được trọng vọng. Người ta gọi cha cố bằng đủ các lời tủi nhục, người đời tránh gặp cha cố trên đường, kể đủ mọi thứ truyện về cha cố. Người đời không có cảm tình với con gái cha cố, vợ cha cố và cả sinh viên trường dòng. Cha cố không được mọi giai tầng xã hội kính trọng, Cha cố giàu có là do đâu? Trước kia, nước Nga có nhiều nhà quý tộc. Trong các điền trang có trẻ em mới sinh, tổ chức đám cưới. Ngay cả khi, trong số địa chủ, có ai đó sống ở thành phố, thì họ vẫn về quê để chết và di chúc cho gia đình chôn người chết tại xứ đạo. Mọi người vẫn tìm đến các cha cố, nhờ vậy, các cha cố thành giàu có hơn và tài sản tăng lên nhiều hơn, thêm vào đó, giáo dân cũng nhận được chút ít gì đó. Còn ngày nay, ở nước Nga mọi thứ đã thay đổi. Các gia đình địa chủ bị tan đàn xẻ nghé sống trên nhiều vùng khác nhau, để lại trên quê hương nhiều điền trang đã bị mai một, bỏ hoang vắng. Cha cố than phiền về số những người ly giáo, chống đối, bất đồng chính kiến với xã hội đang sống cùng những người theo Chính thống giáo.
Quả thật, ở đây cha cố vẫn còn may mắn chán, ông ta không bắt buộc phải kiếm tiền trên lưng những người ly giáo, bất đồng chính kiến, là vì trong xóm đạo của họ, đa số mọi người theo Chính thống giáo, chiếm 2/3. Nhưng cuộc sống của cha cố mỗi ngày một khó khăn hơn, nguồn thu nhập chỉ dựa vào nông dân nghèo. Mà nông dân nghèo thì có thể biếu họ được gì? Chỉ được it xu lẻ và gói bánh dịp lễ, với dăm ba quả trứng nhân lễ phục sinh. Cha cố kết thúc câu chuyện buồn phiền của mình và lên đường đi tiếp. Nhóm chu du lao vào đánh Luka vì anh ta đã khẳng định rằng cha cố là người hạnh phúc.
Chương II Hội chợ làng quê
Nhóm bảy nông dân lại đi tiếp và gặp phiên hội chợ tại làng Kudmin. Họ hy vọng sẽ gặp tại chợ người hạnh phúc thật sự. Đây là làng giàu có, làm nghề buôn bán, trông làng bẩn thỉu. Trong làng Kudmin có tất cả những gì mà nước Nga có. Một khách sạn trông nhếch nhác treo tấm biển hiệu đẹp đẽ và một khay đồ ăn với bát đĩa. Hai nhà thờ: một nhà thờ Chính thống giáo và một nhà thờ cựu giáo cũ. Một trường dạy nghề. Một trạm xá, người ốm được trích máu. Nhóm chu du tìm đến quảng trường. Ở đó có nhiều lều trại bày bán nhiều thứ hàng hoá khác nhau. Toán mudich đi lướt qua các dãy buôn bán, tỏ vẻ ngạc nhiên, cười đùa, nhìn ngắm khách qua lại. Người thì bán hàng thủ công, kẻ thì kiểm tra vành đai bánh xe và bị văng đập vào trán, Phụ nữ chê bôi các loại vải của Pháp. Một ông say rượu nên không biết chọn mua món quà đã hứa cho cháu gái. Ông ta được sự hỗ trợ của Pavlusha Vềrẽtếnhịkôp, một người không có tước hiệu gì. Ông khách mua đôi ủng cho cháu gái. Toán nông dân rời khỏi làng này, kết quả, họ chưa gặp được người họ đi kiếm là người sung sướng. Khi đứng trên triền đồi cao, họ cảm thấy như làng Kudmin cùng với nhà thờ đang chao đảo, đung đưa.
Chương III. Đêm say rượu
Nhóm mugich đi tiếp trên đường, họ gặp nhiều người say rượu. Dân say rượu “bò toài, nằm vạ vật, phi ngựa. chìm nổi dưới sông”. Nhóm chu du đầu óc tỉnh táo vẫn bước chân đi, họ nhìn quanh bốn phía và nghe mọi người trò chuyện. Một số người trông đần độn đến mức thấy kinh hãi cảnh dân Nga say rượu bê tha. Đứng dưới kênh, các bà phụ nữ đang tranh cãi xem ai sống khổ nhất. Một bà đi về nhà mà như vào nơi tù đầy, một bà khác bị con rể đánh đập và cướp bóc.
Toán nông dân chu du nghe tiếng nói quen quen của Pavlusha Vềrẽtênnhikôp. Ông khen ngợi dân Nga thông minh vì có nhiều câu tục ngữ và bài hát, nhưng ông tỏ ra đau lòng vì nạn rượu chè đến mụ mị cả người. Nhưng người mugich không cho phép ông ghi chép lại các câu tục ngữ. Ông bắt đầu chứng minh rằng, người nông dân uống rượu theo thời vụ. Ngày mùa bận rộn, họ ra đồng, họ làm việc và nuôi sống cả nước. Cứ một gia đình nát rượu thì có một gia đình không hề đụng đến rượu. Nhưng tai hoạ vẫn đến với mọi người y như nhau. Những người nông dân xấu xí, nát rượu không đáng sợ hơn những người bị rệp hay rắn rết trong đầm lầy cắn, đốt. Một trong nhiều người nát rượu là Iakim Nagôi. Ông này quyết định ganh đua với một nhà buôn và bị bắt vào tù. Iakim rất yêu thích tranh, vì các bức tranh mà ông suýt chết cháy trong một vụ hoả hoạn. Khi tháo tranh xuống, ông không kịp lấy ra các đồng rúp đúc. Chúng bị nóng chảy ra thành một cục, mất hết giá trị. Nhóm nông dân vẫn cả quyết rằng, rượu không thể khuất phục được dân Nga.
Chương IV. Những người hạnh phúc
Nhóm nông dân chu du đang đi tìm người hạnh phúc giữa đám đông trong ngày hội ở chợ. Nhưng mọi lý do mà những người họ gặp đã nói ra thì họ vẫn thấy không thuyết phục. Không có ai là thật sự hạnh phúc cả. Niềm hạnh phúc của một ông mugich không gây ấn tượng cho nhóm mugich đi chu du. Nhóm được chỉ đến chỗ gặp Ermil Gìrin. Ông này đứng ra thu tiền của mọi người trong một tiếng. Tất cả các nông dân đã tụ họp lại và giúp Ermil chuộc lại cối xay lúa mì để đấu với nhà buôn Antưnhikôp. Một tuần sau, Ermil đã trả lại mọi người đến đồng xu cuối cùng, không một ai đòi ông trả thừa một hào., không có ai bị lừa đảo cả. Có một rúp mà một người đã không nhận lại từ Ermil, thì Ermil đã đem trả cho những người mù. Nhóm mugich quyết định tìm hiểu xem Ermil có phép thần gì. Grin đã thực hiện vai trò lý trường một cách ngay thẳng. Nhưng ông ta không thể cho em trai gia nhập lính, và đã nhờ một nông dân đi thay em mình. Việc làm sai trái này đã khiến Girin thấy áy náy, dằn vặt nặng nề. Bị lương tâm cắn xé, Girin đã để người nông dân trở về nhà, còn người em trai lại nhập ngũ. Girin đã từ bỏ chức lý trường và nhận thuê khoán cối xay bột. Nhưng số phận cay đắng vẫn quay lại làm hại Girin, ông ta bị bắt vào tù. Những người mugich lên đường đi tiếp, khi hiểu rằng, đây không phải là người hạnh phúc nhất ở nước Nga.
Chương V. Địa chủ
Đoàn mugich gặp một địa chủ. Người địa chủ đã 60 tuổi. Và tác giả đã có một sự cố gắng đặc biệt. Nhà thơ chọn cho nhân vật một cái tên khác thường - Obolt - Obolduiep Gavrila Afanaxievich. Tay địa chủ cứ nghĩ rằng, ông ta sắp bị ăn cướp. Ông ta giằng được súng lục, nhưng những người nông dân trấn an ông này và giải thích thực chất cuộc cãi vã giữa họ với nhau, Gavrola -Afanãevich thấy buồn cười rũ rượi trước câu hỏi của toán nông dân. Ông bật cười ha hả, đến chán mới thôi và bắt đầu kể về cuộc đời ông, Ông mở đầu câu chuyện từ cây phả hệ gia đình ông. Nhóm nông dân hiểu nhanh ông địa chủ kể về chuyện gì. Tổ tiên của ông là Oboldui, họ đã có từ hơn hai trăm năm mươi năm rồi. Cụ tổ tiên của dòng họ đã diễn trò mua vui cho nữ hoàng bằng các tiết mục với thú. Mặt khác, dòng họ nhà ông bắt nguồn từ một bá tước, từng âm mưu phóng hoả Matxcơva nên bị xử tử. Ông địa chủ này còn khoe rằng, cây phả hệ càng lâu đời bao nhiêu, thì dòng họ càng nổi tiếng bấy nhiêu. Vốn tài sản giàu có của gia đình lớn đến mức hình như có thể không phải lo nghĩ cho tương lai. Rừng đầy thỏ, sông ngòi đầy cá, ruộng đồng trĩu lúa mì nặng bông. Nhà được xây có mái kính. Chòi ngồi nghỉ ngơi chuyện trò và công viên. Các gia đình địa chủ thường tổ chức hội hè và các cuộc đi dạo. Thứ giải trí được ưa thích là săn bắn. Nhưng dần dần, cùng với đó, sức mạnh của địa chủ Nga đã mất dần. Nông dân mang biếu quà cho địa chủ từ khắp mọi miền đất nước to lớn. Cuộc sống phóng khoáng đã chấm dứt nhanh chóng. Nhà cửa bị tháo dỡ tới từng viên gạch, mọi thứ cứ bắt đầu suy kém dần. Chỉ còn lại đất đai ruộng vườn, thi đòi hỏi phải lao động, Địa chủ không biết lao động, cả đời anh ta quen ngồi mát ăn bát vàng, Nhóm mugich hiểu ra, địa chủ không phải là người hạnh phúc mà họ đang đi tìm.
Chủ nô sót lại cuối cùng (trích từ phần hai)
Vào mùa thu hoạch cỏ bận rộn nhất, nhóm mugich đã tới sông Volga. Ở đây, họ được chứng kiến một cảnh lạ lùng: trên ba con thuyền đang đến gần bờ, chở gia đình ông chủ. Những người thợ cắt cỏ vừa ngồi ghé lưng xuống định nghỉ ngơi, thì bỗng đứng bật cả dậy cốt chỉ để cho ông chủ già thấy họ chăm chỉ, cần mẫn thế nào. Hoá ra, nông dân làng Vakhlatrin đang giúp những người được hưởng quyền thừa kế che giấu để Utiatin - người chủ nông nô sót lại cuối cùng, đầu óc đã không còn minh mẫn, - không biết chuyện triều đình đã bãi bỏ chế độ nông nô. Muốn vậy, những người con của chủ nhà đã hứa sẽ trả cho nông dân các khu đồng cỏ. Nhưng sau cái chết được chờ đợi rất lâu của ông chủ, những người con này đã quên đi lời họ hứa, và toàn bộ vở kịch do họ dàn dựng thành công cốc.
Bà nông dân (trích phần ba)
Trong phần này, nhóm mugich quyết định tiếp tục cuộc tìm kiếm ai là người hạnh phúc ở nước Nga trong giới phụ nữ. Tại làng Nagatin, nhiều phụ nữ nói với nhóm mugich này rằng, ở Klim có phu nhân tỉnh trưởng Matriona Timofeevna: “không có bà nào thông minh và mềm mỏng, bình tĩnh hơn bà này.” Bảy ông mugich đã tìm được nhân vật nữ này và thuyết phục bà ta kể lại câu chuyện đời mình, vào cuối buổi chuyện, bà đã làm nhóm đàn ông tin rằng ở Nga không có hạnh phúc, và rằng phụ nữ ở Nga, nói chung, không hạnh phúc.
Bữa tiệc đãi cả làng, cả tổng (trích từ phần 4)
Phần này là sự tiếp tục một cách logic của phần hai (“Chủ nô sót lại cuối cùng”). Trong phần này có miêu tả bữa tiệc mà nhóm mugich đã tổ chức sau cái chết của ông già chủ nô sót lại cuối cùng”). Chuyến chu du của nhóm chưa kết thúc tại phần này., nhưng cuối cùng, một người trong số người dự tiệc - Grisha Đobroxklon, con trai của cha cố, ngay sáng hôm sau sau bữa tiệc, khi đi dạo trên bờ sông, anh ta đã phát hiện ra bí quyết làm người Nga hạnh phúc và thể hiện trong bài ca ngắn “Nước Nga”, tiện lời, xin nói, V. I. Lenin đã dùng trong bài báo “Nhiệm vụ chủ yếu của thời đại chúng ta”.
Phần kết của trường ca theo giả thuyết
Trong số 2 của tạp chí “Con ong”, ra ngày 8 tháng giêng năm 1878, có dẫn một chi tiết trong cuộc đàm thoại giữa Glep Uspenski về đoạn kết mà nhà thơ dự định. Giả thuyết cho rằng, không một thành viên nào trong đoàn nông dân chu du có thể chứng minh là mình đúng và tất cả trở lại làng xóm quê hương mình. Hoá ra là các làng của họ ở không xa nhau, mỗi làng đều có con đường nhỏ dẫn tới quán rượu. Họ chắc chắn phải gặp tại quán một tay sâu rượu hay thắt dây lưng và phải từng uống rượu với người này. Như vậy, theo lời kể của Uspenski, người hạnh phúc nhất ở Nga, mà Nhecrasôp dự định quy lại là anh chàng bợm rượu.
§.Cái kết tương tự, có lẽ, có nghĩa rằng, ở nước Nga không có hạnh phúc thật sự, chỉ có thể có thứ hạnh phúc trong ảo ảnh mà thôi, tượng trưng của loại hạnh phúc này là hạnh phúc của anh say rượu. G.I. Uspenxki không nói rõ, ông nêu tên ai là người hạnh phúc theo giả định cho N.A.Nhecrasop. Người ta thấy rõ việc Uspenxki im lặng, không nói ra rõ ràng là do kiểm duyệt: bất cứ một ứng viên nào, trừ nhà vua, cũng đều có thể nêu tên thẳng ra. Còn giả như đến ngay cả nhà vua cũng không hạnh phúc, thì nói gì đến những ứng viên khác? Như vây, N.A.Nhecrasop đặt cơ sở cho trường ca của mình là ý tưởng cho rằng, ngay những con người hùng mạnh của thế giới này, kể cả nhà vua, là những người hoàn toàn không hạnh phúc, rằng ở nước Nga không có và không thể có người nào hạnh phúc.
Gửi bởi Tung Cuong ngày 12/04/2025 07:26
BẢNG NHÂN VẬT
CÁC NHÂN VẬT CHÍNH
-Đemian tự học đọc, anh dễ nắm được các chữ bình thường, nhưng các chữ “bác học” thì khó vào hơn. Thông qua nhân vật này, tác giả cho thấy rằng, ngay cả những người nông dân bình thường cũng muốn được học hành và khao khát trí thức.—
-Luka là người bướng bình, hay nói, hơi đần đần. Ta biết rằng, trong quá khứ không xa, anh ta có thời gian ba năm làm việc cho cha cố. Tác giả so sánh nhân vật này với chiếc cối xay gió do luôn vảy tay và có nhiều động tác tay, hình như anh muốn bay lên cao mà không thành. Đây chính là vòng tròn khép kín, nơi người nông dân đang sống họ không muốn thay đổi cuộc sống của mình, nhưng tiếng nói của người ở phía bên kia, ở tư thế cao hơn, luôn khép kín cửa đối với họ. Có thể là, bây giờ mọi sự đã đổi thay, do đã xoá bỏ chế độ nông nô.
-Rô man - tác giả không cung cấp thông tin gì về nhân vật này. Có thể, anh ta tượng trưng cho địa vị của người nông dân trong xã hội, khi không ai quan tâm đến cá nhân và nhân cách của họ. Họ không có diện mạo, hình hài gì cả.
-Hai anh em nhà Gubin, tên là Ivan và Mitrodor. Một người được đặt tên bình thường, người kia mang họ tên hiếm gặp. Có lẽ do tính đỏng đảnh và giải khuây của chủ nhà. Hai anh em nhà này có tật uống rượu say đến mức sắp chết, mỗi người đều có thể uống hết một xô rượu được. Họ say mê ngựa. Hai nhân vật này thể hiện tính cách của người nông dân nát rượu.
-Pakho Ônhixi mứch là ông già, người nuôi ong. Tác giả so sánh nhân vật này với những con ong thông minh. Trong số nông dân có nhiều người thông thái. Tuổi tác của Pakho cho thấy rằng, ông ta là người có kinh nghiệm, có tính lanh lợi và thông minh.
-Prop là người nghiêm túc, it nói, kiên nhẫn và nét mặt hay cau có. Một tráng sỹ thật sự, có thể khuất phục anh ta, nhưng phải nhiều người mới vật ngã nổi anh ta. Tượng trưng cho sức mạnh thể lực và sự cần cù làm việc. Người nông dân buộc phải làm việc đến chết thì mới sống được.
CÁC NHÂN VẬT PHỤ
-Bá tước Utiatin (Chủ nô sót lại cuối cùng) một người đứng tuổi, đầu óc không còn minh mẫn. Ông ta bị sốc nặng khi biết tin triều đình xoá bỏ chế độ nông nô. Ông ta không muốn mình bị mất quyền sai khiến nông nô. Các con thừa kế của bá tước đề nghị nông dân đóng vai nông nô, vì không muốn mất quyền thừa kế. Họ hứa sẽ trả lại nông dân đồng cỏ và trả tiền cho từng việc làm kì cục của ông già.
-Ipad là một trong nhiều người hầu già, trung thành của bá tước Utiatin. Ngay cả sau khi bãi bỏ chế độ nông nô, ông vẫn làm cho chủ cũ. Ngay khi bá tước không chế nhạo anh ta: anh ta bắt bas tước thay vì một con ngựa, ném bas tước xuống một hố băng vào mùa đông và dùng xe trượt tuyết cán qua bá tước.
-Vlas- là ông già, một nông dân sống làm việc cho gia chủ Utiatin. Chính ông đã kể cho các nông dân đang đi tìm hiểu xem ai là người hạnh phúc ở Nga, về vị bá tước kì lạ và người nông dân trung thành với chủ, tên là Ipat. Để giúp đỡ những người thừa kế của Utiatin, ông đã giả vờ cùng với nhiều nông dân còn lại. Vì vậy, ông ta đã bỏ công việc làm lý trường ở xóm lương dân.
-Klim Lavin là nông dân, láu lỉnh, biết chữ. Nhiều nông dân không ưa anh này vì tội anh kết giao với nhiều người Digan, hay rượu chè và lười lao động. Đã từng đến Matxcơva, Xibir và Peterburg.
-Kortraghina Matriona Timofeepna - một phụ nữ dáng người bệ vệ, nữ nông dân, 38 tuổi, xinh đẹp, có đôi mắt to. Những người trong tốp nông dân cho rằng, bà là người hạnh phúc.Tuy nhiên, mọi thứ không hẳn như vậy, tuổi thơ của bà may mắn, và hạnh phúc, nhưng sau khi lấy chồng thì mọi thứ thay đổi cả. Họ hàng người bên phía nhà chồng luôn không để bà yên ổn, bà trải qua việc mất đứa con nhỏ, con đã mất do lỗi của ông chồng.
-Iakim Nogoi một nông dân, cần cù, ngay thẳng, hiểu biết nhiều thứ. Trong con người ông, mặt tinh thần chiếm ưu thế, ông hiểu cái đẹp, luôn trang điểm nhà mình bằng các bức tranh mà khi nhà bị cháy, thì cái ông cứu đầu tiên là các bức tranh. Dám đứng ra bảo vệ bản thân và những người khác, có tính công bằng.
-Errmin Girin là người công bằng, hiểu biết và ngay thẳng, được nông dân kính trọng.
-Ông Xaveli một tráng sỹ già, một người ngay thẳng, tốt bụng, công bằng. Ông đã 107 tuổi, 40 năm ông lang bạt trong các nơi tù đầy và khổ sai. Sống xung khắc với gia đình, coi mình có lỗi trong cái chết của đứa chắt - con trai của Matriona Kortraghina.
-Agap Petrốp là người thô lỗ, không thuần tính. Khi ông chủ bắt được ông này, đang vận chuyển gỗ lấy từ nhà chủ, đã nổi cơn khùng lên và ăn nói thô lỗ về tình trạnh nông nô tình nguyện có thật trong đời, ở nơi mà ông bị đẩy vào. Chỉ có thể làm ông trở lại tâm trạng yên ổn sau khi cho uống rượu say, ngày hôm sau thì ông ta chết.
-Địa chủ Sha lashnhi k ô p quân nhân. Người độc ác, Khi nông dân không nộp đủ tô, ông ta dùng vũ lực bắt nông dân phải nộp đủ. Đã hy sinh trong chiến trận.
-Gav rila A fa na xưich Obolt Obolduep một quý tộc. Ông ta không hề làm một việc gì, mà toàn sống dựa sức lao động của người khác. Nuối tiếc về thời quá khứ đã qua. Thích rượu chè và thích hồi tưởng lại thời gian đã qua, khi xưa, nông dân thuộc sở hữu của ông và ông ra lệnh, sai phái họ, cảm thấy mình vừa là chúa trời, vừa là vua.
-Cha cố chân thành cho rằng, con người hạnh phúc nếu anh ta giàu có, tiếng tăm của anh ta không bị vây bẩn và sống trong bình yên. Ông vẫn mơ ước cuộc sống như vậy. Ông cảm thấy nặng nề với tình trạng hiện nay, hơn nữa, người dân không còn yêu quý các vị cha cố phục vụ trong nhà thờ. Nguồn thu nhập của cha cố phụ thuộc vào mức sống của nông dân, phụ thuộc vào sự quan tâm của cha cố muốn đời sống của nông dân được sung túc hơn.
-Pan Glukhopxki một người giàu có và có tước quý tộc, rất độc ác. Một tội phạm bị sa đoạ, thích tra tấn và hành hạ người khác, luôn mang nặng lòng ham quyền lực.
-Grisha Dbro xklonop một người trẻ tuổi, nông dân, sinh viên trường dòng. Sinh ra trong một gia đình nghèo, một người ưa hoà bình và tương lai tiến bộ. Chăm làm việc, thích sáng tác các bài hát về hạnh phúc,và hát cho người ở xung quanh nghe.
-Pap lushka Ve rẻ tennhikop người đi sưu tầm thơ ca dân gian. Các nhân vật chính đã gặp người này trong hội chợ làng quê.
Gửi bởi Tung Cuong ngày 12/04/2025 07:32
Đã sửa 2 lần,
lần cuối bởi Tung Cuong
vào 14/04/2025 07:57
TRÍCH TỪ TIỂU SỬ
Bệnh tật và cái chết
1.Vào đầu năm 1875, Nhecrasôp bị ốm nặng. Các bác sỹ phát hiện ông bị ung thư ruột - một bệnh không chữa được, trong suốt hai năm sau đó, bệnh tật đã trói chặt ông vào giường, không đi lại được. Thời gian này, cuộc sống của ông biến thành quá trình chết dần chết mòn. Nhecrasôp được mổ bởi một bác sỹ do mời riêng từ Bỉ sang, ông này tên là Bilpot, tuy nhiên cuộc phẫu thuật chỉ có tác dụng kéo dài cuộc sống thêm một ít thời gian.
Tin ông bị bệnh nặng thập tử nhất sinh càng làm tiếng tăm của ông lan rộng hơn rất nhiều. Từ khắp mọi nơi trên đất nước rất rất nhiều người hâm mộ ông đã gửi thư từ và điện tín tới thăm hỏi ông. Sự động viên của bạn đọc đã giúp ông rất nhiều để vượt qua các cơn đau khủng khiếp và thôi thúc ông tiếp tục sáng tác.
2.Vào thời kỳ khó khăn này, ông đã viết “Những bài ca cuối cùng”, xét về mức độ chân thành trong tình cảm, những sáng tác này được xếp vào hàng tác phẩm tuyệt vời nhất. Vào những năm cuối cùng, trong lòng ông cũng hiện lên rõ ràng hơn nhận thức của ông về ý nghĩa sáng tác của mình trong lịch sử ngôn ngữ Nga. Thí dụ, trong bài hát ru con “À ơi, à ơi” cái chết đã nói với nhà thơ: Đừng sợ bị quên lãng một cách cay đắng, tôi đã giữ chặt trong tay tôi vòng hoa tình yêu, vòng hoa tha thứ, món quà Tổ quốc thân yêu tặng bạn. Bóng tối bướng bình rồi sẽ phải nhường chỗ cho ánh sáng, bạn sẽ nghe được bài ca của mình vang trên sông Volga, sông Oka, sông Kama, à ơi, à ơi…”
3.Trong Nhật ký Đôxtôiepxki có viết: “Tôi đã gặp ông lần cuối cùng trước khi ông mất. Lúc nhìn ông, có cảm tưởng ông gần như đã là cái xác, vì vậy thật là lạ khi thấy rằng, cái xác này biết nói, vẫn mấp máy môi. Nhưng ông không chỉ nói được mà còn giữ được trí óc minh mẫn. Hình như, ông vẫn không tin rằng, cái chết đã ở gần. Một tuẩn trước khi mất, ông bị liệt hẳn nửa người bên phải. Nhecrasôp ra đi mãi mãi ngày 27 tháng 12 năm 1877, (8 tháng giêng năm 1878) vào lúc 8 h tối.
Đến tiễn đưa ông đi con đường cuối cùng có rất nhiều người. Tang lễ của ông đã trở thành sự kiện lần đầu tiên toàn dân nước Nga đã đến chào vĩnh biệt ông, Lễ tang bắt đầu vào lúc 9 h sáng, và có kèm theo cuộc tuần hành có tính chất văn học và chính trị. Mặc dù trời lạnh buốt, đám đông tập trung tới vài ngàn người, chủ yếu là những người trẻ, đã đến đưa tiễn linh cữu ông về nơi yên nghỉ an bình đời đời trong nghĩa trang Nôvơdevitri ở Peterburg. Nhiều bạn trẻ tuổi đã ngắt lời người đang phát biểu ngay trên tang lễ là nhà văn Đôxtôiépxkì, khi ông xếp Nhecrasôp ở vị trí thứ ba trong nền thơ ca Nga, đứng sau Puskin và Lermôntôp (diễn giả có đôi lời rào trước đón sau về việc này), nhưng đám trẻ đã cắt lời diễn giả bằng tiếng hô lớn: “Phải đặt Nhecrasôp lên vị trí cao hơn Puskin, cao hơn Lermôntôp.” Cuộc tranh luận này, sau đó, được đưa lên báo chí, một bộ phận dân chúng ủng hộ những người trẻ tuổi nhiệt tình nói trên, một bộ phận khác thì nói lên quan điểm của mình rằng, Puskin và Lermôntôp là các nhà thơ đại diện cho cả xã hội Nga, còn Nhecrasôp chỉ đại diện cho một nhóm cư dân thôi. Còn có quan điểm thứ ba cho rằng, họ công phẫn ngay ý nghĩ về việc đặt ngang hàng giữa các sáng tác nghệ thuật đưa nền thơ ca lên đỉnh cao hoàn thiện và những bài thơ “vụng về” của Nhecrasôp, theo ý kiến của họ, thơ của Nhecrasôp không có bất cứ giá trị nào về nghệ thuật cả.
4.Trong tang lễ của Nhecrasôp có sự tham gia của đại diện tổ chức “Trái đất và ý trí”, và nhiều tổ chức cách mạng khác, họ đã đặt lên mộ nhà thơ vòng hoa với dòng chữ:”Đại diện những người xã hội”.
Đời tư.
Những người phụ nữ
1.Đời tư của N. A. Nhecrasôp không hoàn toàn thành công. Năm 1842, trong một dạ hội thơ ca, ông đã gặp Avđôtia Panaeva (tiếng Ucraina: Brianxkaia)- vợ của nhà văn Ivan Panaep. Avddôtia Panaeva là một phụ nữ tóc đen, đầy quyến rũ, nàng được coi là một trong nhiều phụ nữ xinh đẹp nhất của Peterburg thời đó. Ngoài ra, nàng là người thông minh, là chủ nhân salông văn học, thường được tổ chức tại nhà của ông chồng Ivan Panaep. Tài năng văn học của nàng đã thu hút vào nhóm văn học những nhà văn còn trẻ, nhưng đã nổi tiếng, như Trẻcnưshepxki, Đobrolíubốp, Turrghênhep, Belinxki. Chồng của nàng, nhà văn Pa naep, có đặc điểm là một công tử quen ăn chơi bạt tử. Mặc dù vậy, nàng lại được xem là người đứng đắn và Nhecrasôp cũng phải tốn nhiều công sức, tâm huyết mới chinh phục được nàng. Trong số người phải lòng Avdotia có cả Phiodor Đôxtôiepxki, tuy nhiên Đôxtôiepxki không được đáp lại. Ban đầu, Panaeva còn khước từ cả Nhecrasôp khi đó mới 26 tuổi, Nhecrasôp cũng say mê nàng, do vậy, ông suýt nữa đã quyên sinh vì tình.
2.Ở một trong nhiều chuyến đi của gia đình Panaev và Nhecrasôp về tỉnh Kadan, hai người cũng tỏ tình với nhau, thổ lộ hết tình cảm của họ. Sau khi về nhà, họ bắt đầu sống chung không hôn thú trong căn hộ của Panaev, cùng đồng thời với người chồng có hôn thú của Apdotia là Ivan Panaep. Mối liên minh tay ba này kéo dài gần 16 năm, cho đến tận khi Panaep chết.
Toàn bộ câu chuyện này từng bị dư luận xã hộ lên án- về Nhecrasôp người đời nói rằng, ông đang sống nhờ nhà người ta, lại yêu vợ người ta và đồng thời vẫn giở các vở ghen tuông với chồng hợp pháp của bà vợ. Trong thời kỳ này, thậm chí một vài người bạn của Nhecrasôp đã quay lưng, không quan hệ với Nhecrasôp nữa. Nhưng mặc dù vậy, Nhecrasôp và Panaeva vẫn thấy họ hạnh phúc. Nhecrasôp đã viết xong một trong nhiều chùm thơ hay nhất của ông là loạt bài thơ “Chùm thơ PanaEva” (nhiều bài trong chùm thơ này có sự hợp tác làm việc của cả hai người cùng viết và hiệu đính). Sự cộng tác giữa Nhecrasôp và Xtanhitski (bí danh của Apdootia Iakoplepna) đã cho ra đời một số tiểu thuyết thu được thành công đáng kể. Mặc dù có cách sống không chuẩn mực, bộ ba này vẫn là những người có cùng chí hướng và bạn chung tay làm hồi sinh lại và lập ra tạp chí “Современник”.
3.Năm 1849, Apdotia Iakoplepna đã sinh hạ cậu con trai thứ hai cho Nhecrasôp, cũng giống bé trai đầu, bé chỉ sống được một thời gian ngắn. Trong khoảng thời gian này, chính Nhecrasôp bị ốm. Có người nêu giả định rằng, tại do con trai bị chết, mà Nhecrasôp xuất hiện nhiều cơn tức giận mạnh và tâm trạng luôn thay đổi, sau này thành nguyên nhân dẫn tới hai người cắt đứt quan hệ với nhau. Năm 1862, Ivan Panaep mất, và ngay sau đó, Apdotia Panaeva cũng rời bỏ Nhecrasôp đi hẳn. Tuy nhiên, Nhecrasôp vẫn luôn nhớ tới bà cho đến tận cuối đời và khi soạn di chúc, ông vẫn ghi tên bà trong số người được hưởng thừa kế.
4.Tháng năm 1864, Nhecrasôp ra nước ngoài, chuyến đi kéo dài gần ba tháng. Ông đã sống phần lớn thời gian ở Paris cùng với hai bạn nữ đồng hành - em gái ruột Anna Aleksseepna và một cô gái Pháp tên là Selina Lefren (tiếng Pháp là Lefrensne), nhà thơ đã quen Selina từ lúc còn ở Peterburg vào năm 1863. Selina là nữ diễn viên thuộc một đoàn hát của Pháp, đã lưu diễn tại nhà hát Mikhailopxki. Selina tính tình sôi động và nhẹ nhàng.
5.Mùa hè 1866, Selina đến ở Kavrabich, còn mùa xuân 1867, Selina ra nước ngoài, cũng như lần trước, cùng đi với Nhecrasôp và em gái của ông là Anna. Tuy nhiên trong lần này, Selina không quay trở lại Nga nữa. Sau khi tiễn Selina, Nhecrasôp quay về Nga và khi ở Iarroxlap, nhà thơ đã quen với Praxkovia Nhikolaiepna Meyshen, Theo tin đồn, Nhecrasôp cũng định cưới người phụ nữ này, tuy nhiên, sau đó, quan hệ chấm dứt và Meyshen đã bỏ đi. Việc say mê Meyshen không hề làm ngắt quan hệ của ông với Selina. - năm 1869, hai người gặp lại nhau ở Paris và cả tháng tám họ cùng ra biển nghỉ ở Điepp. Nhecrasôp thấy hài lòng với chuyến đi này, sức khoẻ của ông đã khá hơn. Trong thời gian nghỉ ngơi, ông thấy mình hạnh phúc, nguyên nhân chính là do có mặt Selina, người ông thấy phù hợp về tâm hồn, tuy rằng thái độ của Selina đối với nhà thơ là đều hoà và thậm chí hơi khô khan một chút. Đi nghỉ trở về, Nhecrasôp trong một thời gian khá dài, ông không hề quên Selina và giúp đỡ Selina. Trong di chúc lập trước khi chết, ông đã để lại cho Selina mười ngàn rưỡi rúp.
6.Sau này, Nhecrasôp có quen với một thôn nữ, con gái một người lính, Phiokla Anhiximopna Viktorova, một thiếu nữ dễ chịu và tốt bụng, nhưng tính tình đơn giản và trình độ văn hoá thấp. Nhà nghiên cứu sáng tác của Nhecrasôp tên là Mikhail Makeep đã kể: nhà thơ có thú nhận với Ladaepxki rằng ông đã đưa Phiokla từ nhà chứa về. Cô ta 23 tuổi, còn Nhecrasôp đã 48 tuổi. Nhà thơ nhiều lần đưa nàng đi xem hát, dự hoà nhạc và xem triển lãm, với mong muốn lấp bớt những chỗ hổng trong học vấn của nàng. Nhikolai Alekseevich nghĩ ra một cái tên đặt cho nàng - Dina. Thế là, Phiokla Anhiximopna từ nay được gọi là Dinaida Nhikolaiepna. Cô này đã học thuộc lòng nhiều bài thơ của Nhecrasôp và rất hâm mộ những bài thơ này. Họ có làm lễ cưới ngay trước khi ông mất, nhưng ông vẫn coi cô này là vợ hợp pháp. Tuy nhiên, Nhecrasôp vẫn buồn nhớ mối tình đầu của ông - Avdotia Panaeva - và đồng thời ông yêu thương cả Dinaida, cả cô người Pháp Selina Lefren là mối tình giữa ông và cô này trong thời gian ở Paris. Một trong những tác phẩm thơ nổi tiếng nhất của mình, nhà thơ đề tặng riêng cho Panaeva là “Ba niềm vui sướng”
Thú bạc bài
1.Thú chơi bài bạc (thí dụ, преферанс - một dạng trò chơi đánh bài có tính thương mại, người thắng được bài do nhờ kỹ năng cao hơn) là theo di truyền trong dòng họ quý tộc nhà Nhecrasôp, bắt đầu từ đời cụ của Nhikôlai Aleksêy evich - Iakop Ivanovich, một địa chủ người Riadan giầu nứt đố đổ vách, cụ đã thua bạc rất nhanh và mất sạch cơ ngơi của mình. Nói chung, cụ này lại phất lên giàu rất nhanh: có một thời gian, cụ Iakop là tướng lĩnh ở Xibir. Nhờ thú ham mê bài bạc, con trai của cụ Aleksey chỉ được thừa kế một đình cơ ở Riadan. Sau khi lấy vợ, ông nhận của hồi môn là làng Greshnhevow. Nhưng con trai của ông là Xecgeey, sau khi đặt cầm cố Greshnhevow tại Iaroslap, và thua mất trắng. Ông Aleksêy Xecgeevich, khi kể cho con trai là Nhikolai, nhà thơ tương lai, gia phả lừng danh dòng họ mình, đã tổng kết lại như sau: “Thế hệ các cụ nhà ta giàu có lắm. Thế hệ cụ cụ của nhà ta từng thua bạc mất bảy ngàn nông nô, cụ của con thua mất hai ngàn nông nô, ông của con (bố ta) thua bạc mất một ngàn nông nô, còn bố - không thua gì, vì rằng, nhà chẳng còn gì để thua, nhưng ta cũng ham mê chơi bài bạc.” Và chỉ có Nhikolai Alekseye ích là thay đổi được hưởng vận may số phận, biến thú chơi cờ bạc thành nguồn thu nhập.
2.Bí quyết thành công của Nhecrasôp khá đơn giản. Thứ nhất, Nhecrasôp không chơi trò đỏ đen, mà chơi các trò thương mại, việc thắng các trò này phụ thuộc không chỉ vào may mắn, mà phụ thuộc vào cả kỹ năng của người chơi. Thứ hai, ông chỉ chơi tại Câu lạc bộ Anh ở Sanh-Peterburg, nghĩa là chơi trong giới những người rất giàu có, trong số này có nhiều quan chức hàng đầu của Đế quốc Nga. Những người này chơi không chỉ nhăm nhăm vào thắng bài, mà họ ngồi vào bàn chơi chỉ là tìm thú vui giết thời gian một cách thú vị: khi thua dù một khoản cực lớn, đối với họ cũng không phải thảm hoạ. Nhecrasôp nhanh chóng hiểu rằng, những người mang nếp tâm lý như vậy thường chơi rất không tập trung và không thể thắng được một đối thủ thông minh và hết sức tập trung tư tưởng.
3.Cùng với năm tháng, ông đã xây dựng cho mình những nguyên tắc rèn luyện thể lực để dùng cho các môn chơi bài bạc một cách nghiêm túc, chỉ đến câu lạc bộ, sau khi đã ngủ đẫy giấc và tắm táp trong bồn tắm, thêm vào đó, rót thêm ít rượu rum pha vào nước tắm để tạo tâm trạng phấn khích.
Nhecrasôp đã chơi tại câu lạc bộ trong nhiều năm; nhiều khi ông từng thua bạc, nhưng tính tổng chung lại vẫn là ông thắng nhiều hơn và tiền thắng bạc lên tới hàng trăm ngàn.
Chỉ nguyên một viên bộ trưởng tài chính tương lai Aleksandr Abada từng thua bạc Nhecrasôp hơn một triệu frank. Người từng thua bạc Nhecrasôp một khoản rất lớn là thiếu tướng - sĩ quan tuỳ tùng Aleksandr Adler berg, bộ trưởng Hoàng gia và bạn thân của Aleksandr II. Nhờ các nguồn thu nhập như vậy, Nhecrasôp đã có thể tích luỹ được một số vốn lớn và thanh toán tiền nợ cầm cố và lấy lại Greshenhevoo, nơi ông từng sống qua tuổi thơ ấu và từng bị mất vì món nợ cầm cố từ thời ông nội. Một phần số tiền thắng bạc ông đã dùng cho chi phí xuất bản tạp chí “современник»
Riêng về chuyện thành công khác thường của Nhecrasôp trong việc chơi bài bạc và lòng đam mê các trò bạc bài đã có nhiều truyện tiếu lâm. Thí dụ:
Một lần một thương gia tỉnh nhỏ đến làm quen với nhà thơ nổi tiếng, ông này lên thủ đô để bán gỗ. Việc làm quen như vậy khiến thương gia thiệt hại một khoản rất lớn. Mấy hôm sau, Belinxki tò mò muốn tìm hiểu xem ở Nhecrasôp:
-Thế nào cuộc chơi hay chứ?
-Hay, nhưng ông ta cuỗm của tôi tám ngàn. - Nhecrasôp công phẫn thốt lên.
-cuỗm là làm sao? Vì chính anh tính gian với ông ta cơ mà.
-Phải, có tính gian, ông ta còn khôn ngoan quá, sang nhà khác chơi và ở đó ông ta thua thêm tám ngàn nữa- nhưng không phải thua tôi, không phải thua tôi đâu nhé.
Gửi bởi Tung Cuong ngày 05/11/2025 14:06
Đã sửa 4 lần,
lần cuối bởi Tung Cuong
vào 13/01/2026 15:05
CHÚ THÍCH
Chú thích trong bản dịch này đều dịch hay dùng ở dạng rút gọn từ các nguồn sau:
-Источник: https://nekrasov-lit.ru/n...hit-horosho/comment-1.htm
-Подробнее на «Меле»: https://mel.fm/gramotnost...mu-na-rusi-zhit-khoroóho
-Непонятные слова в поэме Кому на Руси жить хорошо
-AI, ChatGPT,Wikipedia,
Lời dẫn truyện - Пролог
36-37.И делят меж собой...
По делу всяк по своему
Ý nghĩa nghệ thuật:
• Nekrasov dùng motip cổ tích (hũ vàng) để dẫn người đọc từ giấc mơ dân gian (vàng = hạnh phúc) sang hiện thực xã hội (thật ra hạnh phúc không nằm trong vàng, mà trong công lý và cuộc sống con người).
• Do đó, từ chi tiết chia vàng, câu chuyện chuyển sang hành trình lớn — tìm hạnh phúc thật sự ở nước Nga.
Tóm lại:
Câu “И делят меж собой… По делу всяк по своему” ban đầu đúng là nói chia hũ vàng,
nhưng Nekrasov dùng nó như một ẩn dụ mở đầu cho cuộc hành trình tìm hạnh phúc,
nơi “mỗi người đi theo việc riêng” chính là mỗi hướng nhìn khác nhau về niềm vui, về công bằng và hạnh phúc của con người Nga.
Số 93 là dòng thứ 93. верста: 1 верста = 1,0668 km (khoảng một cây số).
Tức là 1 верста ≈ 1066 mét.
108.косушка – đơn vị đo chất lỏng thời xưa, bằng 0,31 lít.
166.зоколотится хлеб… Chim cu thôi gáy khi lúa mì đậu hạt chĩu ngọn (theo quan sát của dân gian)
199.Без тела - а живет оно
ChatGPT Giải thích câu đố có nghĩa:
• Lời nói không có thân thể → “без тела”.
• Nhưng nó sống mãi, truyền từ người này sang người khác, tác động đến tâm hồn con người → “а живет оно”.
Đó là ẩn dụ đẹp về sức sống của ngôn từ — “lời nói không hình dạng nhưng có linh hồn”
- Đáp án: эхо,(tiếng vọng), Слово (Lời nói, ngôn từ).
→ Dịch sang tiếng Việt:
Không có thân xác, mà vẫn sống — tiếng vọng, lời nói
335.чур:
ChatGPT:
1. “Чур” như lời kêu cầu, khấn bảo vệ (từ mê tín dân gian):
Nguồn gốc: từ cổ Slav, dùng trong bùa chú, tín ngưỡng dân gian — “чур меня!”, “чур меня, нечистая сила!”
Nghĩa: “xin thần hộ mệnh che chở tôi”, “xa ta ra, ma quỷ!”
Dịch:
• “Tránh xa ta!”
• “Xin thần phù hộ!”
• “Cấm quỷ dữ lại gần!”
Ví dụ:
Чур меня! нечистая сила!
→ Tránh xa ta, ma quỷ dữ!
2. “Чур” như lời cảnh báo, tuyên bố quyền sở hữu (trẻ con, nông dân hay nói):
Trong lời nói dân gian, “чур” dùng để “giữ phần”, “tuyên bố trước”:
Чур моё! — “Của tôi đấy nhé!”
Чур не трогай! — “Cấm đụng vào!”
Dịch:
• “Của tao đấy nhé!”
• “Không được động vào!”
• “Phần tôi rồi!”
3. “Чур” như thán từ trong văn thơ (dùng để gọi, nhấn mạnh, hô hào):
Khi xuất hiện trong thơ Nekrasov, đôi khi “чур” là từ cảm thán dân gian, tạo màu sắc khẩu ngữ, nông dân, đôi khi mang sắc thái mỉa mai hoặc cầu khấn.
Ví dụ (giả định):
Чур, бедняку не погибнуть!
→ “Cầu cho người nghèo đừng chết mất!”
Ở đây “чур” = “cầu xin”, “mong sao”, “cho đừng”.
Dịch:
• “Cầu cho…”, “Xin đừng…”, “Mong sao…”
• Hoặc giữ màu dân gian bằng “chớ”, “đừng”, “cho khỏi…”
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.