舟次中秋

海中望月使人悲,
望到三更淚暗垂。
家裏去秋雙對影,
舟中此夜獨相隨。
盈虧天上原無異,
悲喜人間自有期。
寄語姮娥如解悶,
不應今夜月行遲。

 

Chu thứ trung thu

Hải trung vọng nguyệt sử nhân bi,
Vọng đáo tam canh lệ ám thuỳ.
Gia lý khứ thu song đối ảnh,
Chu trung thử dạ độc tương tuỳ.
Doanh khuy thiên thượng nguyên vô dị,
Bi hỉ nhân gian tự hữu kỳ.
Ký ngữ Hằng Nga như giải muộn,
Bất ưng kim dạ nguyệt hành trì.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 102, tháng 2-1926

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Buồn vì trăng ngắm giữa xa khơi
Ngắm đến canh ba lệ bỗng rơi
Thu trước nhà huyên hai đối ảnh   
Đêm nay thuyền chiếc một mình thôi
Đầy vơi trời thẳm trăng nào khác
Vui khổ nhân gian tự đổi dời
Nhắn nhủ Hằng Nga sầu muốn giải
Đêm nay chớ để muộn trăng trôi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ngắm trăng buồn giữa xa khơi,
Ngắm đến canh ba lệ rơi âm thầm,
Thu trước đối ảnh nhà huyên,
Đêm nay độc một chiếc thuyền mình thôi.
Trăng nào trời thẳm đầy vơi,
Vui khổ nhân gian đổi dời có khi.
Hằng Nga muốn giải sầu bi,
Đêm nay chớ để muộn thì trăng trôi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phanxipăng

Giữa biển ngắm trăng quá đau buồn,
Ngắm đến canh ba, nước mắt tuôn.
Thu trước, nhà êm vui đôi lứa,
Đêm nay, thuyền lắc thảm thân đơn.
Tròn khuyết trên trời, trăng chẳng khác,
Dở hay dưới thế, chuyện thay luôn.
Thông điệp Hằng Nga dường chán nản,
Khuya này chớ đóng trăng vào khuôn.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời