Thường khi ngoảnh mặt về Nam,
Trông về cố quốc chạnh niềm giang sơn.
Tưởng trong nước đang cơn khủng bố,
Đồng bào mình thân có ra chi.
Thịt dao cá thớt thôi thì,
Phen này mặc sức quân Tây chặt vằm.
Chốn ngục thất ngàn trăm oan khuất,
Thịt heo kềm da đứt với roi.
Côn Lôn, Lao Bảo mấy người,
Chân rừng góc bể là nơi chết già.
Lại đến kẻ đem ra hành tội,
Giữa pháp trường một lưỡi gươm theo.
Thân bảy thước nhẹ bao nhiêu,
Hồn chiến sĩ, đạn bay vèo cái xong!
Nghĩ mình cũng đồng trong thanh khí,
Cũng đồng tâm, đồng chí với ai.
Cũng yêu giống, cũng thương nòi,
Cũng chèo non nước, cũng vai sơn hà.
Sao ai chịu vô vàn cực khổ,
Mà thân ta lại được an toàn.
Thân này tạm được bình an,
Dám đâu yên hưởng mà sờn chí xưa.
Làm sao có một lúc nào,
Thúc ran nhịp trống dương cao ngọn cờ.
Về đánh đổ Lang-sa đế quốc,
Để trả thù rửa nhuốc anh cha.
Lưỡi gươm Tây đã giết ta,
Bây giờ ta lại quay mà giết Tây.
Lại giết luôn cả bầy tẩu cẩu,
Chịu cam tâm thờ lũ quốc cừu.
Phá cách mạng, giết đồng bào,
Gây nên khủng bố phong trào ngày nay.
Mới hả dạ người nơi luỹ tiết,
Mới thoả hờn ai chết trước mình.
Mới không phụ chí bình sinh,
Mới không uổng cái công trình xuất dương.
Nôm na chắp vá mấy hàng,
Xin người trong hội đoạn trường biết cho.


Bài thơ viết năm 1931 khi tác giả đang hoạt động cách mạng ở Trung Quốc.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968