Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
5 bài trả lời: 5 bản dịch
Từ khoá: tòng quân (45) chiến tranh (218)
Đăng bởi Vanachi vào 25/01/2009 23:29, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 04/02/2015 17:44

後出塞其五

我本良家子,
出師亦多門。
將驕益愁思,
身貴不足論。
躍馬二十年,
恐孤明主恩。
坐見幽州騎,
長驅河洛昏。
中夜問道歸,
故里但空村。
惡名幸脫兔,
窮老無兒孫。

 

Hậu xuất tái kỳ 5

Ngã bản lương gia tử,
Xuất sư diệc đa môn.
Tướng kiêu ích sầu tứ,
Thân quý bất túc luận.
Dược mã nhị thập niên,
Khủng cô minh chúa ân.
Toạ kiến U Châu kỵ,
Trường khu Hà Lạc hôn.
Trung dạ vấn đạo quy,
Cố lý đãn không thôn.
Ác danh hạnh thoát thố,
Cùng lão vô nhi tôn.

 

Dịch nghĩa

Mình vốn con nhà làm ăn lương thiện,
Đầu quân là việc của nhiều nhà.
Vị tướng kiêu căng càng làm thêm buồn chán,
Thân này chẳng đủ bàn tới.
Cưỡi ngựa đã hai mươi năm nay rồi,
Chỉ ngại rằng ơn vua chưa trả hết.
Ngồi coi đoàn quân kỵ mã ở U Châu,
Buổi tối rong ruổi nơi vùng Hà Lạc.
Nửa đêm đi về qua đường hẹp,
Làng cũ nay thành thôn hoang vắng.
Tiếng xấu may không bị mang lây,
Thân già này khốn đốn không có con cháu.


(Năm 755)

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Vốn con nhà lương thiện,
Tôi đăng lính nhiều lần.
Thấy tướng kiêu, đâm ngại,
Nên mình sang, nỏ cần.
Yên ngựa hai mươi năm,
Đối vua, sợ phụ ân.
Binh mã mờ sông núi,
Đành nhìn chúng tiến quân,
Nửa đêm lách nẻo tắt,
Về làng, trống xóm thôn.
Tiếng xấu may khỏi chịu,
Già khổ không cháu con.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Ta vốn con nhà phải,
Đã qua nhiều thứ quân.
Tướng kiêu, nên gặp tủi,
Chẳng nói chỉ lo thân.
Hai chục năm yên ngựa,
Chúa hiền, e phụ ân.
U Châu trông lính kỵ,
Hà Lạc xế đi lần.
Đêm muộn về đường tắt,
Làng xưa vắng lặng dần.
May chưa mang tiếng ác,
Không cháu con, già bần!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Ta nhà lương thiện xưa nay,
Đầu quân, nhiều chốn thân này đã qua.
Tướng kiêu, rầu rĩ thêm ra,
Tấm thân là quý, bàn ta đau lòng.
Trên yên hai chục năm ròng,
Ơn vua, há phụ tấm lòng này đâu.
Ngồi nhìn lính kỵ U Châu,
Đường xa Hà Lạc đi đâu, tối rồi.
Trong đêm, đường tắt về thôi,
Làng thôn trống rỗng, trông thời buồn thay.
Thoát mang tiếng xấu, thật may,
Già, nghèo, về ở chốn này, không con...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Mình vốn con nhà lành,
Đi lính là nghĩa vụ.
Tướng kiêu khiến thêm buồn,
Thân hèn nào đáng kể.
Cưỡi ngựa hai mươi năm,
Ơn vua chưa trả đủ.
U Châu sáng đi qua,
Hà Lạc đêm dừng ở.
Đường hẹp nửa đêm len,
Xóm hoang, đây làng cũ.
Tiếng xấu không bị mang,
Kiếp già không con cháu.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Vốn nhà lương thiện từ ông cha,
Sự việc đầu quân của vạn nhà.
Tướng soái kiêu căng thêm chán ngán,
Thân này chẳng đủ sức bàn ra.
Hai mươi năm đã ngồi lưng ngựa,
Chỉ ngại ơn vua trả chẳng hoà.
Ngồi ngắm U Châu đoàn kỵ mã,
Chiều hôm Hà Lạc ruổi rong qua.
Nửa đêm đi về qua đường hẹp,
Làng cũ nay thành hoang vắng nhà.
Tiếng xấu may không bị mang lây,
Cháu con không có khốn thân già.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời