08/07/2020 12:47Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hậu xuất tái kỳ 5
後出塞其五

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 25/01/2009 23:29

 

Nguyên tác

我本良家子,
出師亦多門。
將驕益愁思,
身貴不足論。
躍馬二十年,
恐孤明主恩。
坐見幽州騎,
長驅河洛昏。
中夜問道歸,
故里但空村。
惡名幸脫兔,
窮老無兒孫。

Phiên âm

Ngã bản lương gia tử,
Xuất sư diệc đa môn.
Tướng kiêu ích sầu tứ,
Thân quý bất túc luận.
Dược mã nhị thập niên,
Khủng cô minh chủ ân.
Toạ kiến U Châu[1] kỵ,
Trường khu Hà Lạc[2] hôn.
Trung dạ vấn đạo quy,
Cố lý đãn không thôn.
Ác danh hạnh thoát thố,
Cùng lão vô nhi tôn.

Dịch nghĩa

Mình vốn con nhà làm ăn lương thiện,
Đầu quân là việc của nhiều nhà.
Vị tướng kiêu căng càng làm thêm buồn chán,
Thân này chẳng đủ bàn tới.
Cưỡi ngựa đã hai mươi năm nay rồi,
Chỉ ngại rằng ơn vua chưa trả hết.
Ngồi coi đoàn quân kỵ mã ở U Châu,
Buổi tối rong ruổi nơi vùng Hà Lạc.
Nửa đêm đi về qua đường hẹp,
Làng cũ nay thành thôn hoang vắng.
Tiếng xấu may không bị mang lây,
Thân già này khốn đốn không có con cháu.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Vốn con nhà lương thiện,
Tôi đăng lính nhiều lần.
Thấy tướng kiêu, đâm ngại,
Nên mình sang, nỏ cần.
Yên ngựa hai mươi năm,
Đối vua, sợ phụ ân.
Binh mã mờ sông núi,
Đành nhìn chúng tiến quân,
Nửa đêm lách nẻo tắt,
Về làng, trống xóm thôn.
Tiếng xấu may khỏi chịu,
Già khổ không cháu con.
(Năm 755)

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
[1] Một trong chín châu xưa, nay là vùng bắc bộ Hà Bắc cho tới Liêu Ninh.
[2] Kết hợp tên hai con sông Hoàng Hà và Lạc Thuỷ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Hậu xuất tái kỳ 5