感懷【述懷】

世事悠悠奈老何,
無窮天地入酣歌。
時來屠釣成功昜,
運去英雄飲恨多。
致主有懷扶地軸,
洗兵無路挽天河。
國讎未報頭先白,
幾度龍泉戴月磨。

 

Cảm hoài [Thuật hoài]

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

 

Dịch nghĩa

Sự đời dằng dặc mà ta già rồi, biết làm sao đây!
Trời đất mênh mông thu vào trong cuộc rượu hát nghêu ngao.
Khi gặp thời thì anh hàng thịt, người câu cá cũng dễ lập công,
Nếu thời vận đã qua thì anh hùng cũng chỉ uống hận.
Muốn giúp chúa, ôm hoài bão nâng trục trái đất mà xoay chuyển lại,
Mong rửa sạch giáp binh nhưng không có lối để kéo Ngân Hà xuống.
Thù nước chưa báo được, mà đầu thì đã bạc rồi,
Bao lần mang kiếm Long Tuyền ra mài dưới bóng trăng.


Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006.

Nguồn:
1. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968
2. Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 4 trang (35 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hải Đà

Việc chưa xong tuổi đã già
Đất trời thu gọn chỉ là cơn say
Thành công kẻ tiện gặp may
Anh hùng lỡ vận nuốt cay nghẹn lời
Phò vua vũ trụ nghiêng vai
Rửa binh đâu lối sông trời kéo đâu
Chưa xong nợ nước bạc đầu
Mài gươm bóng nguyệt canh thâu ngậm ngùi...

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tuấn Sơn

Việc nước nhiều ghê ngại tuổi già
Khắp trong trời đất tiếng rên la
Gặp thời kẻ vụng thành công dễ
Việc cũ hùng anh hận tới da
Biết chúa lòng mong giúp đất nước
Đuổi thù đường tận cứu sơn hà
Chưa xong nợ nước tóc sương trắng
Mấy độ mài gươm ánh nguyệt tà.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng

Việc dở dang, há vội già!
Mênh mang trời đất ta bà khúc say.
Ðược thời, hèn mọn có ngày,
Vận thua, hào kiệt đắng cay nỗi lòng.
Những toan giúp chúa trùng hưng,
Hận sao chẳng sức níu sông Ngân Hà.
Hai vai nợ nước thù nhà,
Tóc sương mấy độ trăng tà mài gươm!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Nhất Lang

Chuyện đời còn rối tuổi già rồi
Trời đất bao la những ngậm ngùi
Hèn mạt gặp thời công cũng lạ
Anh hùng lỡ bước hận khôn nguôi.
Chí nâng trục đất mong phò chúa
Binh tẩy sông trời chẳng biết nơi
Đầu bạc chưa xong thù phục quốc
Dưới trăng mài kiếm biết bao hồi.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Danh tướng Đặng Dung & bài thơ Thuật hoài.

Danh tướng Đặng Dung & bài thơ Thuật hoài.

Đặng Dung (? – 1414) là tác giả bài thơ Thuật hoài (hay Cảm hoài) nổi tiếng và là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông người huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí - phần Nghệ An tỉnh thì:
Tổ tiên Đặng Dung vốn người Hóa Châu, sau di cư đến làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc.
Dưới triều nhà Hồ, ông giúp cha là Đặng Tất (? - 1409) cai quản đất Thuận Hóa. Sau khi quân Minh từ Trung Quốc tiến chiếm nước Việt (khi ấy có quốc hiệu là Đại Ngu), nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi, tức Giản Định Đế.

Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay); vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan là Nguyễn Quỹ, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoáng từ Thanh Hóa về đất Chi La (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), tôn lên ngôi vua (tức Trùng Quang Đế), và ông được giữ chức Đồng bình chương sự.

Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng Hoàng.
Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng.” (Nguyễn Khắc Thuần, sách dẫn bên dưới, tr. 234).

Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia (theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Dẫn lại theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).
Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép lại đánh như sau:
“Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức quay lại đánh. (Đặng) dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết.” (theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b).
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tương tự và hạ bút viết lời tiếc rẻ: ''Trời nuông tha trương Phụ'' (Chính biên, quyển 12, tờ 39)

Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp:  
“Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo.” (Sách dẫn bên dưới, tr. 236)

Trần Trọng Kim cũng cho biết tương tự:
“Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoáng, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Quý Khoách nhảy xuống bể tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng.
Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh...” (Nxb Tân Việt, Sài Gòn, tr. 197)

Và Thuật hoài là bài thơ tự sự duy nhất còn lại của Đặng Dung, được chép trong Toàn Việt Thi Lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1784), khi ông đem quân giúp vua Trùng Quang Đế, nhưng do lòng người ly tán, quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn nên cuối cùng đã thất bại.

Bài Thuật hoài được viết bằng chữ Hán theo thể thất ngôn luật, thể hiện ý chí sắt đá của một người anh hùng nhưng không may là không gặp thời thế, công việc chưa xong thì tuổi đã già.

Thơ đời trần, bất kể là vui hay buồn thường thể hiện sự khẳng định nhân phẩm và niềm tự hào về bản lĩnh con người. Và ngay cả trong cái buồn của thơ ca cuối thế kỷ thứ 14 vẫn còn còn phảng phất dư ba của hào khí Đông A (theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A, vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)). Và Thuật hoài, chính là một trong những bài thơ hay và tiêu biểu cho phong cách thơ ấy.

Từ điển văn học (bộ mới) đánh giá:
Tuy là thơ của một người...ôm hận vì bất lực trước thời thế, “người đọc vẫn thấy toát lên ở đây tình cảm cao cả tràn khắp đất trời, đó là lòng yêu nước thiết tha của một tráng sĩ vì nước bôn ba, là niềm tin và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc qua hình tượng rất đẹp, rất thơ: “Mấy phen mang gươm Long Tuyền mài dưới trăng”. Thuật hoài ra đời vào những ngày cuối cùng của nhà Trần, nhưng vẫn mang trọn hào khí dân tộc của những năm đầu dựng nước và giữ nước cả về nội dung lẫn hình thức.
Lý Tử Tấn (1378 - ?, quan thời Lê) nhận xét "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng" (Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm được bài thơ này).

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.

Tài liệu tham khảo:
- Trần Trọng Kim, Việt nam sử lược, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, tr. 197.
- Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam, tập 4,  Nxb Giáo dục, 2006, tr. 236.
- Ngữ văn 10 (nâng cao), Nxb Giáo dục, 2007, tr. 157.
- Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004, tr. 389.
- Văn học Việt Nam thế kỷ 10 đến nửa đầu thế kỷ 18, tập I, do Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương biên soạn, Nxb Đại học & THCN, 1978, tr. 177-178.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Việc nước miên man nở vội già!
Đất trời lồng lộng phút cuồng ca
Gặp thời bần tiện công nêu dễ
Lỡ vận tài danh hận tới già
Giúp chúa những mong xoay trục đất
Rửa đồng khôn lối kéo Ngân Hà
Bạc đầu thù nước còn chưa trả
Mấy độ mày gươm bóng nguyệt tà

Thời lai đồ điếu thành công dị
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa
14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Thị Minh Mỵ

Đời còn nặng nợ tuổi đã cao
Mênh mông trời đất biết phương nào
Cơ hội gặp may vui thắng thế
Tài năng lỡ bước hận tuôn trào
Phò chúa những mong tài xoay chuyển
Giáp gột sông sâu khó sạch sao
Nợ nước chưa xong đầu đã bạc
Dưới trăng mấy độ lưỡi gươm bào.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Quang Ái

Tuổi già, thế sự cứ vần xoay
Đất rộng trời cao lệ rượu đầy
Tiểu tốt gặp thời vênh váo mặt
Anh hùng thất thế ngậm ngùi say
Một lòng giúp chúa xoay nòng đất
Ngầu máu sông Ngân, kiếm giáp bày
Thù trả chưa xong đầu vội bạc
Dưới trăng bao độ lóe gươm mài

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về bản dịch bài thơ " Cảm hoài" của bạn Hải Đà

Tuy là dịch bằng lục bát nhưng bản dịch của bạn Hải Đà hay, súc tích. Chỉ tiếc câu " Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà" bạn dịch là " Rửa binh đâu lối sông trời kéo đâu" nghe hơi rối và tối. Câu này có thể chỉnh lại thế này thì dễ hiểu hơn " rửa binh nào lối sông trời ở đâu". Mạo muội vài chữ vậy xin quý hữu đại xá nhé.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Hùng II

Sao đời chơi ác mãi ông già?
Trời đất vô cùng: khúc hận ca!
Gặp thời "tiểu tốt" thành công dễ;
Nuốt hận anh hùng lỡ dịp qua.
Tìm vua mong giúp xoay quả đất;
Rửa binh không lối nước thiên hà.
Nợ nước chưa đền đầu bạc trước,
Bao lần mài kiếm đội trăng tà

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 4 trang (35 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối