Thơ » Trung Quốc » Thịnh Đường » Lý Bạch
Đăng bởi Vanachi vào Hôm qua 17:58
天上白玉京,
十二樓五城。
仙人撫我頂,
結發受長生。
誤逐世間樂,
頗窮理亂情。
九十六聖君,
浮雲掛空名。
天地賭一擲,
未能忘戰爭。
試涉霸王略,
將期軒冕榮。
時命乃大謬,
棄之海上行。
學劍翻自哂,
為文竟何成。
劍非萬人敵,
文竊四海聲。
兒戲不足道,
五噫出西京。
臨當欲去時,
慷慨淚沾纓。
嘆君倜儻才,
標舉冠群英。
開筵引祖帳,
慰此遠徂征。
鞍馬若浮雲,
送余驃騎亭。
歌鍾不盡意,
白日落昆明。
十月到幽州,
戈鋋若羅星。
君王棄北海,
掃地借長鯨。
呼吸走百川,
燕然可摧傾。
心知不得語,
卻欲棲蓬瀛。
彎弧懼天狼,
挾矢不敢張。
攬涕黃金臺,
呼天哭昭王。
無人貴駿骨,
騄耳空騰驤。
樂毅倘再生,
於今亦奔亡。
蹉跎不得意,
驅馬過貴鄉。
逢君聽弦歌,
肅穆坐華堂。
百里獨太古,
陶然卧羲皇。
徵樂昌樂館,
開筵列壺觴。
賢豪間青娥,
對燭儼成行。
醉舞紛綺席,
清歌繞飛梁。
歡娛未終朝,
秩滿歸咸陽。
祖道擁萬人,
供帳遙相望。
一別隔千里,
榮枯異炎涼。
炎涼幾度改,
九土中橫潰。
漢甲連胡兵,
沙塵暗雲海。
草木搖殺氣,
星辰無光彩。
白骨成丘山,
蒼生竟何罪。
函關壯帝居,
國命懸哥舒。
長戟三十萬,
開門納凶渠。
公卿如犬羊,
忠讜醢與菹。
二聖出遊豫,
兩京遂丘墟。
帝子許專征,
秉旄控強楚。
節製非桓文,
軍師擁熊虎。
人心失去就,
賊勢騰風雨。
惟君固房陵,
誠節冠終古。
僕卧香爐頂,
餐霞漱瑤泉。
門開九江轉,
枕下五湖連。
半夜水軍來,
潯陽滿旌旃。
空名適自誤,
迫脅上樓船。
徒賜五百金,
棄之若浮煙。
辭官不受賞,
翻謫夜郎天。
夜郎萬里道,
西上令人老。
掃蕩六合清,
仍為負霜草。
日月無偏照,
何由訴蒼昊。
良牧稱神明,
深仁恤交道。
一忝青雲客,
三登黃鶴樓。
顧慚禰處士,
虛對鸚鵡洲。
樊山霸氣盡,
寥落天地秋。
江帶峨眉雪,
川橫三峽流。
萬舸此中來,
連帆過揚州。
送此萬里目,
曠然散我愁。
紗窗倚天開,
水樹綠如髮。
窺日畏銜山,
促酒喜得月。
吳娃與越艷,
窈窕誇鉛紅。
呼來上雲梯,
含笑出簾櫳。
對客小垂手,
羅衣舞春風。
賓跪請休息,
主人情未極。
覽君荊山作,
江鮑堪動色。
清水出芙蓉,
天然去雕飾。
逸興橫素襟,
無時不招尋。
朱門擁虎士,
列戟何森森。
剪鑿竹石開,
縈流漲清深。
登臺坐水閣,
吐論多英音。
片辭貴白璧,
一諾輕黃金。
謂我不愧君,
青鳥明丹心。
五色雲間鵲,
飛鳴天上來。
傳聞赦書至,
卻放夜郎回。
暖氣變寒谷,
炎煙生死灰。
君登鳳池去,
忽棄賈生才。
桀犬尚吠堯,
匈奴笑千秋。
中夜四五嘆,
常為大國憂。
旌旆夾兩山,
黃河當中流。
連雞不得進,
飲馬空夷猶。
安得羿善射,
一箭落旄頭。
Thiên thượng Bạch Ngọc kinh,
Thập nhị lâu ngũ thành.
Tiên nhân phủ ngã đính,
Kết phát thụ trường sinh.
Ngộ trục thế gian lạc,
Phả cùng lý loạn tình.
Cửu thập lục thánh quân,
Phù vân quải không danh.
Thiên địa đổ nhất trịch,
Vị năng vong chiến tranh.
Thí thiệp bá vương lược,
Tương kỳ hiên miện vinh.
Thời mệnh nãi đại mậu,
Khí chi hải thượng hành.
Học kiếm phiên tự sẩn,
Vi văn cánh hà thành.
Kiếm phi vạn nhân địch,
Văn thiết tứ hải thanh.
Nhi hí bất túc đạo,
Ngũ y xuất Tây kinh.
Lâm đương dục khứ thời,
Khảng khái lệ triêm anh.
Thán quân thích thảng tài,
Tiêu cử quán quần anh.
Khai diên dẫn tổ trướng,
Uý thử viễn tồ chinh.
Yên mã nhược phù vân,
Tống dư Phiêu Kỵ đình.
Ca chung bất tẫn ý,
Bạch nhật lạc Côn Minh.
Thập nguyệt đáo U Châu,
Qua diên nhược la tinh.
Quân vương khí Bắc Hải,
Tảo địa tá trường kình.
Hô hấp tẩu bách xuyên,
Yên Nhiên khả tồi khuynh.
Tâm tri bất đắc ngữ,
Khước dục thê Bồng Doanh.
Loan hồ cụ Thiên Lang,
Hiệp thỉ bất cảm trương.
Lãm thế Hoàng Kim đài,
Hô thiên khốc Chiêu Vương.
Vô nhân quý tuấn cốt,
Lục Nhĩ không đằng tương.
Nhạc Nghị thảng tái sinh,
Ư kim diệc bôn vong.
Tha đà bất đắc ý,
Khu mã quá Quý Hương.
Phùng quân thính huyền ca,
Túc mục toạ hoa đường.
Bách lý độc thái cổ,
Đào nhiên ngoạ Hy hoàng.
Trưng nhạc Xương Lạc quán,
Khai diên liệt hồ trường.
Hiền hào gian thanh nga,
Đối chúc nghiễm thành hàng.
Tuý vũ phân ỷ tịch,
Thanh ca nhiễu phi lương.
Hoan ngu vị chung triêu,
Trật mãn quy Hàm Dương.
Tổ đạo ủng vạn nhân,
Cung trướng dao tương vương.
Nhất biệt cách thiên lý,
Vinh khô dị viêm lương.
Viêm lương kỷ độ cải,
Cửu thổ trung hoành hội.
Hán giáp liên Hồ binh,
Sa trần ám vân hải.
Thảo mộc dao sát khí,
Tinh thần vô quang thái.
Bạch cốt thành khâu sơn,
Thương sinh cánh hà tội?
Hàm quan tráng đế cư,
Quốc mệnh huyền Kha Thư.
Trường kích tam thập vạn,
Khai môn nạp hung cừ.
Công khanh như khuyển dương,
Trung đảng hải dữ thư.
Nhị thánh xuất du dự,
Lưỡng kinh toại khâu khư.
Đế tử hứa chuyên chinh,
Bỉnh mao khống cường Sở.
Tiết chế phi Hoàn, Văn,
Quân sư ủng hùng hổ.
Nhân tâm thất khứ tựu,
Tặc thế đằng phong vũ.
Duy quân cố Phòng Lăng,
Thành tiết quán chung cổ.
Bộc ngoạ Hương Lô đính,
Xan hà, sấu dao tuyền.
Môn khai Cửu Giang chuyển,
Chẩm hạ Ngũ Hồ liên.
Bán dạ thuỷ quân lai,
Tầm Dương mãn tinh chiên.
Không danh thích tự ngộ,
Bách hiếp thướng lâu thuyền.
Đồ tứ ngũ bách kim,
Khí chi nhược phù yên.
Từ quan bất thụ thưởng,
Phiên trích Dạ Lang thiên.
Dạ Lang vạn lý đạo,
Tây thướng linh nhân lão.
Tảo đãng lục hợp thanh,
Nhưng vi phụ sương thảo.
Nhật nguyệt vô thiên chiếu,
Hà do tố thương hạo?
Lương mục xưng thần minh,
Thâm nhân tuất giao đạo.
Nhất thiểm thanh vân khách,
Tam đăng Hoàng Hạc lâu.
Cố tàm Nễ xử sĩ,
Hư đối Anh Vũ châu.
Phàn Sơn bá khí tận,
Liêu lạc thiên địa thu.
Giang đới Nga My tuyết,
Xuyên hoành Tam Giáp lưu.
Vạn khả thử trung lai,
Liên phàm quá Dương Châu.
Tống thử vạn lý mục,
Khoáng nhiên tán ngã sầu.
Sa song ỷ thiên khai,
Thuỷ thụ lục như phát.
Khuy nhật uý hàm sơn,
Xúc tửu hỉ đắc nguyệt.
Ngô oa dữ Việt diễm,
Yểu điệu khoa diên hồng.
Hô lai thượng vân thê,
Hàm tiếu xuất liêm lung.
Đối khách tiểu thuỳ thủ,
La y vũ xuân phong.
Tân quỵ thỉnh hưu tức,
Chủ nhân tình vị cực.
Lãm quân Kinh Sơn tác,
Giang, Bão kham động sắc.
Thanh thuỷ xuất phù dung,
Thiên nhiên khứ điêu sức.
Dật hứng hoành tố khâm,
Vô thời bất chiêu tầm.
Chu môn ủng hổ sĩ,
Liệt kích hà sâm sâm.
Tiễn tạc trúc thạch khai,
Oanh lưu trướng thanh thâm.
Đăng đài toạ thuỷ các,
Thổ luận đa anh âm.
Phiến từ quý bạch bích,
Nhất nặc khinh hoàng kim.
Vị ngã bất quý quân,
Thanh điểu minh đan tâm.
Ngũ sắc vân gian thước,
Phi minh thiên thượng lai.
Truyền văn xá thư chí,
Khước phóng Dạ Lang hồi.
Noãn khí biến hàn cốc,
Viêm yên sinh tử hôi.
Quân đăng Phụng Trì khứ,
Hốt khí Giả Sinh tài.
Kiệt khuyển thượng phệ Nghiêu,
Hung Nô tiếu Thiên Thu.
Trung dạ tứ ngũ thán,
Thường vi đại quốc ưu.
Tinh bái giáp lưỡng sơn,
Hoàng Hà đương trung lưu.
Liên kê bất đắc tiến,
Ẩm mã không di do.
An đắc Nghệ thiện xạ,
Nhất tiễn lạc Mao Đầu!
Chốn Bạch Ngọc kinh ở trên trời,
Có mười hai lầu và năm toà thành.
Tiên nhân xoa đỉnh đầu ta,
Từ lúc búi tóc đã truyền dạy đạo trường sinh.
Trót lỡ đuổi theo niềm vui thế tục,
Lại muốn nghiên cứu tận cùng lẽ trị loạn hưng vong.
Chín mươi sáu vị thánh quân thời cổ,
Danh tiếng rốt cuộc chỉ như mây nổi treo giữa khoảng không.
Đem cả đất trời ra đánh cược một ván,
Vẫn chưa thể quên chuyện chiến tranh.
Thử đem mưu lược bá vương ra thi thi triển,
Hy vọng đạt được vinh hoa xe lọng tước lộc.
Nhưng thời vận và số mệnh lại quá trái ngược,
Như bị ném ra nổi trôi trên biển khơi.
Học kiếm thuật lại tự cười mình,
Làm văn chương rốt cuộc thành tựu được gì?
Kiếm thuật chẳng địch nổi muôn người,
Văn chương chỉ may mắn trộm lấy tiếng thơm bốn biển.
Tất cả như trò trẻ con chẳng đáng nói,
Cất bài ca Ngũ y mà rời khỏi Tây kinh.
Lúc sắp sửa bước chân ra đi,
Lòng ngậm ngùi đau đớn, giọt lệ đầm đìa dải mũ.
Khen anh có tài năng tuấn dật khôi ngô,
Phong thái đứng đầu trong các bậc anh hùng.
Mở yến tiệc, dựng trướng tiễn đưa,
Để an ủi kẻ ra đi đường xa như ta.
Yên ngựa đông đúc tấp nập như mây nổi,
Tiễn ta đến tận đình Phiêu Kỵ.
Tiếng đàn ca chuông trống chưa nguôi trọn ý,
Mặt trời đã lặn xuống hồ Côn Minh.
Tháng mười ta đi đến đất U Châu,
Giáo mác của quân giặc dày đặc như sao sa.
Vương công quan lại lơ là bỏ mặc vùng Bắc Hải,
Dọn sạch đất đai cho con cá kình lớn (An Lộc Sơn) hoành hành.
Hơi thở của nó làm chuyển động cả trăm sông,
Núi Yên Nhiên vững chãi cũng có thể bị tàn phá sụp đổ.
Trong lòng biết rõ giặc sắp mưu phản nhưng không dám nói,
Nên lại muốn lui về ở ẩn chốn Bồng Doanh.
Giương cung thì sợ sao Thiên Lang,
Kẹp mũi tên trong tay mà không dám bắn.
Lau nước mắt đứng ở đài Hoàng Kim,
Gào trời mà khốc than Yên Chiêu Vương.
Không còn ai coi trọng xương ngựa tuấn,
Ngựa thần Lục Nhĩ đành nhảy vót trong vô vọng.
Nhạc Nghị nếu như có tái sinh,
Ở thời nay cũng phải bỏ chạy trốn.
Lận đận ngập ngừng chẳng được như ý,
Đành cưỡi ngựa đi qua vùng Quý Hương.
Gặp lại anh, được nghe tiếng đàn ca,
Trang nghiêm ngự ngồi nơi hoa đường.
Vùng đất trăm dặm anh cai trị giữ nguyên phong khí thái cổ,
Say sưa ngất ngây nằm ngủ tựa thời Phục Hy.
Mời tấu nhạc tại quán Xương Lạc,
Mở tiệc lớn, bày vô số hũ chén rượu ngon.
Bậc hiền hào tài giỏi xen lẫn cùng các mỹ nữ,
Trước ánh nến trang nghiêm ngồi thành hàng.
Điệu múa lúc say rộn rã trên chiếu gấm,
Tiếng hát trong trẻo quấn quít quanh xà nhà.
Cuộc vui chơi chưa dứt trọn một buổi,
Anh đã hết hạn làm quan, trở về Hàm Dương.
Lễ tiễn đưa có đến hàng vạn người vây quanh,
Trướng tiệc bày ra ngút tầm mắt xa xa.
Một khi chia tay liền cách trở ngàn dặm,
Vinh khô thay đổi, tình đời nóng lạnh khác nhau.
Thói đời nóng lạnh trải qua mấy lần thay đổi,
Khắp chín vùng đất bỗng chốc vỡ tan hoảng loạn.
Binh giáp nhà Hán trộn lẫn với lính rợ Hồ,
Khói bụi cát mù mịt cả vùng mây biển.
Cỏ cây cũng rung chuyển sùng sục sát khí,
Mấy chòm sao trên trời mất sạch vẻ quang thái.
Xương trắng chất thành từng gò núi,
Bách tính muôn dân rốt cuộc có tội tình gì?
Cửa Hàm Cốc hiểm trở bảo vệ nơi đế đô,
Vận mệnh quốc gia lại phó thác treo trên tay Kha Thư Hàn.
Ba mươi vạn quân cầm giáo dài,
Lại mở cửa quan đón nhận tên trùm giặc dữ.
Hàng công khanh bị xua đuổi như chó cừu,
Kẻ trung thần can gián bị băm vằm thành mắm muối.
Hai vị vua phải rời kinh đi tuần thú tránh loạn,
Hai kinh thành (Trường An, Lạc Dương) biến thành gò đống hoang tàn.
Hoàng tử Vĩnh Vương được phép tự chuyên chinh phạt,
Cầm cờ tiết chế nắm giữ vùng đất Sở mạnh.
Tài tiết chế điều hành lại chẳng bằng Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công,
Dưới quyền quân sư lại toàn lũ hung hãn như gấu hổ.
Lòng người mất hướng đi về xu ngược,
Thế giặc trỗi dậy cuồn cuộn như bão táp mưa sa.
Chỉ có anh kiên cố giữ vững đất Phòng Lăng,
Lòng thành tiết nghĩa đứng đầu từ xưa đến nay.
Ta vốn nằm ẩn cư ở đỉnh Hương Lô,
Ăn mây hớp sương, súc miệng dòng suối ngọc.
Mở cửa thấy Cửu Giang uốn lượn,
Dưới gối nối liền vùng Ngũ Hồ.
Nửa đêm thuỷ quân kéo đến,
Đất Tầm Dương rợp trời cờ quạt.
Chút hư danh trót tự làm hại mình,
Ta bị ép buộc phải bước lên lầu thuyền.
Uổng công ban tặng năm trăm lượng vàng,
Ta vứt bỏ đi coi nhẹ như làn khói nổi.
Từ quan không nhận phần thưởng,
Rốt cuộc lại bị gièm pha khép tội đày tới vùng trời Dạ Lang.
Đường đi Dạ Lang xa xăm vạn dặm,
Ngược dòng về phía tây khiến người mau già nua.
Khi giặc giã được quét sạch vũ trụ yên bình,
Ta vẫn như cây cỏ hứng chịu sương tuyết oan khuất.
Mặt trời mặt trăng vốn không chiếu soi lệch lạch,
Biết làm sao kêu van với trời xanh?
Vị quan cai trị giỏi như anh được khen là thần minh,
Rất đỗi nhân từ thương tình bạn cũ.
Một mai hổ thẹn làm khách mây xanh,
Ba lần bước lên lầu Hoàng Hạc.
Ngoảnh lại hổ thẹn với danh sĩ Nễ Hành thời trước,
Hờ hững đối diện bãi Anh Vũ.
Khí bá vương ở núi Phàn Sơn đã tan sạch,
Mênh mông hiu hắt giữa mùa thu đất trời.
Dòng sông mang theo tuyết tan từ núi Nga My,
Sông ngòi cuồn cuộn chảy qua vùng Tam Giáp.
Muôn con thuyền từ đây xuôi ngược,
Cánh buồm giăng giăng nối đuôi qua đất Dương Châu.
Phóng tầm mắt theo vạn dặm xa xăm,
Nỗi sầu trong lòng chợt khoáng đạt tiêu tan.
Khung cửa sổ mỏng mở ra tựa lưng vào trời cao,
Cây cối bên dòng nước xanh tươi như mái tóc thiếu nữ.
Nhìn mặt trời chỉ sợ lặn sau núi,
Giục chuốc rượu mừng vui khi trăng lên.
Gái đẹp đất Ngô và người diễm lệ đất Việt,
Yểu điệu khoe sắc trang điểm phấn hồng.
Gọi họ bước lên gác cao mây thềm,
Mỉm cười vén rèm bước ra.
Đối diện trước khách múa điệu tiểu thuỳ thủ,
Tà áo lụa tung bay rộn rã trong gió xuân.
Khách quỳ xuống xin ngưng nghỉ,
Chủ nhân tình cảm nồng hậu vẫn chưa thoả.
Xem bài thơ Kinh Sơn của anh sáng tác,
Sẽ khiến Giang Yêm, Bão Chiếu xưa cũng phải biến sắc kinh ngạc.
Như hoa sen thơm mọc lên từ dòng nước trong,
Vẻ đẹp tự nhiên không hề đẽo gọt gượng gạo.
Hứng phóng khoáng tràn đầy nơi ngực áo rộng,
Không lúc nào là không tìm gặp tri âm.
Nơi cửa đỏ quy tụ đông đảo tráng sĩ dũng mãnh,
Hàng giáo cắm rợp rậm rạp làm sao.
Đục đá đốn trúc mở rộng lối đi,
Dòng nước uốn lượn dâng lên trong trẻo và sâu thẳm.
Lên đài cao ngồi nơi thuỷ các,
Bàn luận thốt ra toàn những tiếng kiệt xuất.
Vài lời quý hơn ngọc bích,
Một lời hứa coi nhẹ vàng mười.
Anh bảo rằng ta không làm thẹn lòng anh,
Có chim xanh chứng giám cho tấm lòng son.
Chim hỉ thước trong mây ngũ sắc,
Vừa bay vừa hót từ trên trời giáng xuống.
Truyền tin rằng chiếu đại xá đã tới,
Tha cho kẻ bị đày Dạ Lang trở về.
Hơi ấm xua tan thung lũng giá lạnh,
Khói nóng bùng lên từ đống tro tàn.
Anh bước lên ngai Phụng Trì làm quan lớn,
Sao nỡ bỏ quên tài năng của Giả Nghị này?
Chó nhà Kiệt còn sủa vua Nghiêu,
Giặc Hung Nô cười chê Xa Thiên Thu.
Đêm khuya thở dài bốn năm bận,
Luôn vì vận mệnh nước lớn mà lo âu.
Cờ xí hai bên quả núi,
Sông Hoàng Hà chảy qua ở giữa.
Như gà buộc với nhau không thể tiến lên,
Ngựa đang uống nước thì ngập ngừng do dự.
Làm sao có được Hậu Nghệ bắn giỏi,
Một mũi tên bắn rơi sao Mao Đầu dẹp tan giặc loạn!
Trang trong tổng số 1 trang (1 bài trả lời)
[1]
Trên trời Bạch Ngọc kinh,
Mười hai lầu năm thành.
Tiên nhân xoa đầu tóc,
Kết búi dạy trường sinh.
Trót tìm vui thế tục,
Hưng vong xét thấu tình.
Chín sáu vua từ trước,
Như mây chỉ hư danh.
Đất trời cược một ván,
Chưa quên được chiến tranh.
Thử mưu tranh vương bá,
Mong đạt được lộc vinh.
Nhưng mệnh trời trái ngược,
Ném vào biển mông mênh.
Học kiếm tự cười giễu,
Văn chương cũng chẳng thành.
Kiếm khôn địch muôn kẻ,
Văn trộm được chút danh.
Trò ranh chẳng đáng nói,
Ngũ y rời Tây kinh.
Lên đường sắp sửa bước,
Dải mũ lệ thấm quanh.
Khen khôi ngô tuấn tú,
Quần hùng ai bằng anh.
Mở yến tiệc đưa tiễn,
An ủi kẻ viễn hành.
Người ngựa như mây nổi,
Phiêu Kỵ, tiễn bên đình.
Sáo ca không hết ý,
Mặt trời lặn Côn Minh.
U Châu, tháng mười đến,
Giáo mác giặc sáng tinh.
Vua quan bỏ Bắc Hải,
Khắp chốn mặc hoành hành.
Hơi thở phủ sông suối,
Yên Nhiên như tan tành.
Lòng biết không thể nói,
Lui ẩn chốn Bồng Doanh.
Cầm cung sợ Thiên Lang,
Kẹp tên chẳng dám giương.
Đài Hoàng Kim gạt lệ,
Gào trời khóc Chiêu Vương.
Không ai quý tuấn mã,
Ngựa Lục Nhĩ nhảy cuồng.
Nhạc Nghị nếu sống lại,
Cũng bỏ trốn vội vàng.
Lận đận không theo ý,
Cưỡi ngựa tới Quý Hương.
Gặp anh, nghe ca sáo,
Trang nghiêm chốn hoa đường.
Trăm dặm anh cai trị,
Như dưới thời Hy hoàng.
Tấu nhạc quán Xương Lạc,
Mở tiệc, rượu ngút ngàn.
Hiền tài bên mỹ nữ,
Đuốc nến xếp thành hàng.
Múa rộn trên chiếu gấm,
Ca hát tiếng rộn ràng.
Vui vẻ chưa trọn buổi,
Hết quan về Hàm Dương.
Tiệc bày ngút tầm mắt,
Vạn người tiễn vây quanh.
Từ biệt bao xa cách,
Khác nóng lạnh, héo xanh.
Nóng lạnh mấy lần đổi,
Chín châu bỗng vỡ tung.
Quân Hồ lẫn binh Hán,
Cát bụi mịt núi sông.
Cỏ cây rung sát khí,
Sao trời tối mịt mùng.
Xương trắng chất thành núi,
Muôn dân có tội chăng?
Ải Hàm Cốc che trở,
Vận nước: Kha Thư Hàn.
Giáo dài ba mươi vạn,
Đón giặc mở cửa quan.
Công khanh như cừu chó,
Can gián bị băm vằm.
Đôi vua đi tránh loạn,
Hai kinh hoá gò hoang.
Hoàng tử đi chinh phạt,
Chiếm Sở giữ một vùng.
Tài chẳng như Tề, Tấn,
Dưới quyền toàn bạo hung.
Lòng người mất phương hướng,
Thế giặc gió cuốn phăng.
Chỉ anh lòng tiết nghĩa,
Kiên cố giữ Phòng Lăng.
Đỉnh Hương Lô ta náu,
Súc suối ngọc, ăn sương.
Mở cửa Cửu Giang uốn,
Dưới gối Ngũ Hồ thông.
Nửa đêm thuỷ quân đến,
Cờ xí rợp Tầm Dương.
Bị ép xuống thuyền chiến,
Chút hư danh tự thương.
Uổng vứt như mây khói,
Đã ban năm trăm vàng.
Từ quan không nhận thưởng,
Bị đày tới Dạ Lang.
Dạ Lang xa vạn dặm,
Về tây người già nhanh.
Bốn bể quét hết giặc,
Ta cây sương đẫm cành.
Nhật nguyệt không soi lệch,
Sao kêu với trời xanh?
Anh cai trị sáng suốt,
Với bạn cũ thương tình.
Xấu hổ thân khách quý,
Ba lần Hoàng Hạc lâu.
Thẹn với Nễ ẩn sĩ,
Hững hờ Anh Vũ châu.
Phàn Sơn vương khí sạch,
Trời đất hắt hiu thu.
Núi Nga My tan tuyết,
Dòng Tam Giáp chảy mau.
Vạn thuyền lướt xuôi ngược,
Buồm giăng quá Dương Châu.
Phóng mắt xa muôn dặm,
Khoáng đạt tan hết sầu.
Khung cửa dựa trời mở,
Cây nước thướt tha màu.
Sợ mặt trời dần lặn,
Trăng lên chuốc rượu mừng.
Gái Ngô cùng gái Việt,
Yểu điệu khoe phần hồng.
Gọi lên bậc mây múa,
Bước ra cười ung dung.
Trước khách tiểu thuỳ thủ,
Tà áo gió xuân lồng.
Khách quỳ xin ngừng nghỉ,
Tình chủ vẫn chưa xong.
Xem thơ Kinh Sơn mới,
Giang, Bão phải thẹn lòng.
Tự nhiên không đẽo gọt,
Sen thơm từ nước trong.
Hứng lộng trong ngực áo,
Tri âm luôn chờ mong.
Cửa đỏ nhiều dũng sĩ,
Giáo kích rợp khôn cùng.
Đục đá, đốn trúc mở,
Nước trong lượn theo dòng.
Ngồi nhàn trên thuỷ các,
Luận bàn tiếng vọng vang.
Câu quý như ngọc bích,
Lời hứa coi nhẹ vàng.
Anh với ta không thẹn,
Chim xanh chứng cho lòng.
Mây màu chim thước rộn,
Từ trời xuống hót vang.
Báo tin xá tội tới,
Tha kẻ đày Dạ Lang.
Hơi ấm xua hang lạnh,
Khói nóng từ tro bùng.
Anh lên Phụng Trì bước,
Giả Nghị, bỏ tài năng?
Vua Nghiêu, chó Kiệt sủa,
Xuân Thu, Hung Nô cười.
Đêm thở dài mấy bận,
Lo vận nước chẳng nguôi.
Cờ xí hai bên núi,
Hoàng Hà giữa chảy xuôi.
Gà buộc khó cùng tiến,
Ngựa uống muốn nghỉ ngơi.
Sao có tài Hậu Nghệ,
Một tên Mao Đầu rơi!

Hình: Hoàng Hạc lâu

Hình: Hoàng Hạc lâu
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.