Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Cuồn cuộn xe mây kíp ruổi rong,
Dễ mà theo hỏi chốn hành tung.
Khêu sầu chín khúc chùng dây sắt[1],
Diễn thảm năm canh quạnh giọt đồng[2].
Niêm đảo mơ màng hồi thú cổ[3],
Sinh tiêu[4] văng vẳng tiếng thiền chung[5].
Huyền thương[6] ví chẳng thù hồng phấn[7],
Chi kiếp trần hoàn trả chửa xong!


Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ là anh trai của Trương Quỳnh Như. Ông là cựu thần nhà Lê, người làng Thanh Nê, trấn Sơn Nam, làm Hiệp trấn Lạng Sơn. Vua Quang Trung dứt nhà Lê, ông không tòng vong, ở lại làm quan cùng triều Tây Sơn để làm nội ứng cho nghĩa binh Cần Vương đương ngấm ngầm lo việc khôi phục. Việc lớn chưa thành, ông bỗng nhiên qua đời. Vợ lẽ của ông là Long Cơ đưa linh cữu về Thanh Nê. Tang ma xong yên, bà lẻn ra bên mộ, treo cổ tuẫn tiết nhưng người nhà cứu khỏi. Bà bèn cất một ngôi nhà bên mộ gọi là Nghĩa Lư, một mình ở thờ chồng.

Chú thích:
[1]
Một thứ đàn, thường hoà điệu với đàn cầm, và chỉ tình vợ chồng.
[2]
Đồng hồ nước. Xưa dùng nước nhả từng giọt để đếm thời gian.
[3]
Tiếng trống của đoàn quân biên thuỳ, ám chỉ khi Thanh Xuyên hầu còn làm trấn thủ Lạng Sơn, Long Cơ đi theo.
[4]
Sinh và ống tiêu, hai thứ nhạc khí.
[5]
Tiếng chuông chùa.
[6]
Huyền là huyền bí, huyền nhiệm; thương là xanh, chỉ trời.
[7]
Chỉ người phụ nữ.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]