Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Gió thu hiu hắt khóm phương tùng[1],
Thổi rụng hàng châu nghẹn má hồng.
Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng[2],
Trúc vàng[3] thà điểm giọt Ngu cung.
Hoa kề cổ trủng[4] đeo tình nặng,
Trăng rọi cô lư[5] sáng tiếng trong.
Dệt gấm Thanh Nê câu nhất tiếu,
Thêu nền Thuý Ái[6] chữ tam tùng.


Chú thích:
[1]
Một giống tùng thơm.
[2]
Trướng của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Khi ông bị vây ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự vận để ông khỏi bận tâm.
[3]
Giống trúc lá có vân ngoằn ngoèo, người ta bảo là do nước mắt của hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh khóc chồng là vua Thuấn vẩy lên.
[4]
Nấm mồ cũ.
[5]
Lều cỏ lẻ loi, chỉ Nghĩa Lư của nàng Long Cơ.
[6]
Thuý Ái là tên con sông thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nơi bà Phan Thị Thuấn tuẫn tiết theo chồng là Ngô Cảnh Hoàn đời Hậu Lê. Phan Thị Thuấn là vợ bé Ngô Cảnh Hoàn. Hoàn vâng lệnh vua Lê đem quân đi đánh quân Tây Sơn, bị tử trận tại sông Thuý Ái. Người nhà được tin ai nấy đều thương khóc, riêng bà vẫn cười nói như thường. Có người hỏi, bà đáp “Được chết vì nước còn chi hơn nữa mà buồn”. Người chung quanh cạn nghĩ chê rằng không thương chồng, bà không chút quan tâm. Đến tuần bá nhật, cúng tế xong, bà trang điểm lịch sự, sai bơi thuyền ra nơi Ngô Cảnh Hoàn tuẫn quốc, ung dung tự trầm. Lúc ấy bà mới 20 tuổi, chưa con. Nhân dân địa phương thương người tiết nghĩa, lập đền thờ ở bên sông. Sau vua Tự Đức sắc phong là Tiết nghĩa phu nhân và sai dựng bia đá ở trước đền.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]