留別

不道今相見,
猶疑夢未真。
書來兒有母,
獄定我為人。
遷地清秋晚,
高堂白髮新。
承歡諸弟在,
暫別莫沾巾。

 

Lưu biệt

Bất đạo kim tương kiến,
Do nghi mộng vị chân.
Thư lai nhi hữu mẫu,
Ngục định ngã vi nhân.
Thiên địa thanh thu vãn,
Cao đường bạch phát tân.
Thừa hoan chư đệ tại,
Tạm biệt mạc triêm cân.


Nguyễn Hàm Ninh có lần bị tội nhưng được vua Thiệu Trị tha tội chết, nhưng bắt ông vào Đà Nẵng sung quân. Lúc ra đi ông có người em là ông tú Nguyễn Hàm Trạch ra tiễn. Lúc tiễn, Hàm Trạch cho tin tác giả biết rằng bà ở nhà đã sinh một con gái. Nhân đó, ông làm bài thơ này.

Nguồn: Đời tài hoa, Hiệu sách Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 1938

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Đề

Phải chăng đối mặt bắt tay ngồi,
Hay lại chiêm bao đấy nữa rồi?
Góc biển thư về con có mẹ,
Phương trời ngục định mỗ làm người.
Màu thu tiết mượn thương thân kẻ,
Mái tuyết gương soi tủi phận ai.
Thôi chớ dầm khăn khi dứt áo,
Thân nhà còn cả các em ngoài!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Nay gặp nhau không ngờ
Còn nghi thực hay mơ
Thư đến con có mẹ
Ngục định ta đã chờ
Đất dời sắc thu muộn
Mẹ cha tóc bạc thêm
Ngậm vui cậy các em
Tạm biệt đừng rơi lệ.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Phải chăng đối mặt không ngờ,
Nghi ngại phải thực hay mơ nữa rồi
Con có mẹ thư chân trời,
Phương xa ngục định làm người chờ ta.
Thương thân tiết muộn thu qua,
Gương soi mái tuyết mẹ cha tủi đời.
Thôi chớ dầm khăn khi rời,
Thân nhà còn cả em thời cậy trông!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời