Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

竹帛湖

殷鋻小腆依湖水,
宋帝廢儀返朔天。
風雨關河皆涕淚,
未亡人死玉宮前。

 

Trúc Bạch hồ

Ân giám[1] tiểu thiển y hồ thuỷ,
Tống đế phế nghi phản sóc thiên.
Phong vũ quan hà giai thế lệ,
Vị vong nhân[2] tử ngọc cung tiền.

 

Dịch nghĩa

Nước nhỏ nhà Ân như tấm gương răn đe vẫn còn bên hồ nước,
Tống đế bỏ nghi thức trở về phương Bắc.
Gió mưa nơi quan hà tất thảy đều rơi lệ,
Về người vợ goá đã chết trước cung ngọc.


Nguyên chú: Hồ Trúc Bạch ở ngoài cửa bắc, thuộc huyện Vĩnh Thuận. Phía đông hồ có nhiều nhà cửa san sát, là nơi Nguyễn Kim Nương một cung tần của vua Lê Chiêu Thống tuẫn tiết. Vào năm Gia Long thứ 1 (1802), vua Chiêu Thống cùng thái hậu từ Đại Thanh trở về, đã cho bỏ một số nghi thức cung đình, nên về ở phía đông hồ Trúc Bạch là nơi người cung tần họ Nguyễn đã đến tạm nghỉ trong những ngày nhà vua chạy sang Trung Quốc. Khi sống ở đó, bà không ăn không ngủ, toan đến cung Dịch Ngọc ngắm nhìn áo mũ của nhà vua rồi đi tự vẫn. Quan Tổng trấn Bắc Thành nghe tin, khâm sắc biểu dương đức hạnh, ban biển treo đề chữ “Phù cố Lê sơn lăng”. Xét: Cung tần họ Nguyễn, tự là Kim Nương là người xã Tỳ Bà, huyện Lương Tài, theo hầu vua Lê Chiêu Thống, sinh ra Nguyên Tử. Khi nhà vua chạy sang Trung Quốc cầu viện, không bắt bà đi theo, nên bà đã đến trú ngụ, rồi mất ở đó.

Hồ Trúc Bạch ( 21.046,105.839): Hồ Trúc Bạch 竹帛 thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, nguyên là một phần phía đông nam của hồ Tây. Thời trước khu vực này vì sóng lặng hơn nên cá hồ Tây thường tụ về đây. Năm 1620, dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp một con đê nhỏ để ngăn góc này lại, đánh cá cho dễ hơn, và sau là nuôi cá. Sau đó, chúa Trịnh cho đắp con đê rộng ra, và gọi là đê Cố Ngự (nghĩa là giữ vững). Sau này đường Cố Ngự bị đọc chệch thành Cổ Ngư, và trở thành đường Thanh Niên ngày nay. Khi mới bị ngăn ra, hồ chưa có tên riêng, vẫn chỉ là một góc của hồ Tây. Gần hồ có làng Trúc Yên, trồng nhiều trúc, còn có tên là Trúc Lâm. Vào thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung điện để nghỉ mát cạnh hồ và cũng gọi là Trúc Lâm, về sau trở thành nơi giam giữ các cung nữ phạm tội, họ buộc phải tự dệt lụa để sinh sống. Lụa của họ rất đẹp và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Lụa đẹp, bóng bẩy gọi là lụa trúc (chữ Hán là “trúc bạch”). Từ đó xuất hiện một làng chuyên dệt lụa với tên là làng Trúc, và hồ cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. Hồ có hai hòn đảo, gồm đảo Ngũ Xã ở phía đông xưa có dân năm làng đúc đồng ở Bắc Ninh tụ ở đây hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã, và đảo Châu Chử rất nhỏ ở phía tây có miếu Cẩu Nhi (nay được gọi là đền Thuỷ Trung Tiên).

Hồ Trúc Bạch ngày nay
Hình: Hồ Trúc Bạch ngày nay

Hồ Trúc Bạch và đê Cố Ngự đầu thế kỷ 20
Hình: Hồ Trúc Bạch và đê Cố Ngự đầu thế kỷ 20



Chú thích:
[1]
Chữ từ Kinh thi bài Đãng, chỉ việc nhà Ân diệt nhà Hạ, thì sau đời Ân, nên lấy việc nhà Hạ bị diệt làm tấm gương răn đe. Sau “Ân giám” cũng phiếm chỉ lấy sự việc đời trước làm tấm gương răn đe.
[2]
Người vợ goá, đây chỉ cung tần Nguyễn Kim.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Văn Nghi

Ân răn nước nhỏ bên hồ ở,
Tống bỏ nghi triều lại bắc phương.
Mưa gió non sông đều rớt lệ.
Quyên sinh vợ goá trước cung đường.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Ngọc Phương

Ân cũ tàn dư in kính nước,
Đế về phương bắc trút uy nghiêm.
Biên quan mưa gió chung hoà lệ,
Goá phụ cung tiêu tuẫn trước thềm.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Một chút kiến giải về bài Trúc Bạch Hồ của Bùi Cơ Túc

- 殷鑑 - Ân giám : 《詩經·大雅·蕩》:“殷鑒不遠,在夏后之世。” : Gương của nhà Ân không xa, ở ngay tại các đời vua nhà Hạ.

Chuyện Thiếu Khang trốn sự truy sát của Kiêu (con Hậu Nghệ) chạy sang Hữu Ngu thị. Được tộc trưởng là Ngu Tư hứa gả cho 2 con gái, lại cấp cho ruộng một thành, người một lữ... Sau này diệt Kiêu - Ế, khôi phục lại nhà Hạ.

- 小腆 - Tiểu điến : “殷小腆,誕敢紀其敘”出自《尚書·大誥》: Chu Công mắng Vũ Canh "Lũ tàn dư nhỏ bé nhà Ân dám mưu đồ khôi phục lại trật tự cũ" .

Chu Vũ Vương sau khi diệt Trụ, vì không muốn tuyệt hương hoả nhà Ân mà phong cho Vũ Canh cai trị đất Ân. Vũ Canh sau này bởi mưu đồ khôi phục lại nhà Ân, nên bị Chu Công đem quân tiêu diệt.

- 宋帝 - Tống đế: trong bài này là tác giả muốn giảm tránh đi khi nói về vua Lê Chiêu Thống lần nữa chạy về đất nhà Thanh.

Bàn về chuyện vua Lê Chiêu Thống.

"Xưa nhà Hạ có lần suy bại,
Một lữ thành dấy lại cơ đồ."
(Trích Tiêu Cung Tuẫn Tiết Hành - Nguyễn Huy Túc)

Sau khi Tôn Sỹ Nghị với trận đại bại ở Thăng Long tháo chạy về nước, vua cũng vì tấm gương của nhà Ân xưa, đành trút bỏ sự uy nghiêm của một vị quân vương, cũng theo tàn quân nhà Thanh một lần nữa chạy về phương bắc. Sau này lưu lạc rồi chết ở đất khách.

Ngày hoàng phi Nguyễn Thị Kim ngược lên biên quan tiếp rước linh quan, quan lại cùng nhân dân dọc đường khóc thương vô cùng. Về đến nơi, sau khi khấn vái nhìn mặt vua lần cuối, hoàng phi trở vào trong uống thuốc độc tự sát để bảo toàn danh tiết.

So sánh hai người với nhau trong bài thơ này. Vua thì bởi nung nấu chí phục quốc như Thiếu Khang nhà Hạ, hay sợ bị nhổ cỏ tận gốc như Vũ Canh nhà Ân, mà đem Từ Vi cùng Nguyên Tử phản hồi bắc phương, nhưng hệ quả đều là đến tôn nghiêm của mình cũng đem vứt bỏ. Hoàng phi thì lại khác, tuy là nữ nhi mau nước mắt nhưng tâm chí lại quá cương liệt, cho đến tính mạng cũng chẳng hề luyến tiếc, quyết một lòng giữ trọn danh tiết cùng tôn nghiêm hoàng thất.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời