Hồ Trúc Bạch và đê Cố Ngự đầu thế kỷ 20
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Hồ Trúc Bạch 竹帛 thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, nguyên là một phần phía đông nam của hồ Tây. Thời trước khu vực này vì sóng lặng hơn nên cá hồ Tây thường tụ về đây. Năm 1620, dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp một con đê nhỏ để ngăn góc này lại, đánh cá cho dễ hơn, và sau là nuôi cá. Sau đó, chúa Trịnh cho đắp con đê rộng ra, và gọi là đê Cố Ngự (nghĩa là giữ vững). Sau này đường Cố Ngự bị đọc chệch thành Cổ Ngư, và trở thành đường Thanh Niên ngày nay. Khi mới bị ngăn ra, hồ chưa có tên riêng, vẫn chỉ là một góc của hồ Tây. Gần hồ có làng Trúc Yên, trồng nhiều trúc, còn có tên là Trúc Lâm. Vào thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung điện để nghỉ mát cạnh hồ và cũng gọi là Trúc Lâm, về sau trở thành nơi giam giữ các cung nữ phạm tội, họ buộc phải tự dệt lụa để sinh sống. Lụa của họ rất đẹp và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Lụa đẹp, bóng bẩy gọi là lụa trúc (chữ Hán là “trúc bạch”). Từ đó xuất hiện một làng chuyên dệt lụa với tên là làng Trúc, và hồ cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. Hồ có hai hòn đảo, gồm đảo Ngũ Xã ở phía đông xưa có dân năm làng đúc đồng ở Bắc Ninh tụ ở đây hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã, và đảo Châu Chử rất nhỏ ở phía tây có miếu Cẩu Nhi (nay được gọi là đền Thuỷ Trung Tiên).
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.