出都門

纍纍鐵鎖出都門,
慷慨悲歌舌尚存。
國土沉淪民族瘁,
男兒何事怕崑崙。

 

Xuất đô môn

Luy luy thiết toả xuất đô môn,
Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn.
Quốc thổ trầm luân dân tộc tuỵ,
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn.

 

Dịch nghĩa

Gông xiềng mang nặng, ra khỏi cửa đô thành,
Buồn hát một cách khảng khái, lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm, dân tộc tiều tuỵ,
Nam nhi chuyện gì mà sợ Côn Lôn.


Lời tự: “Trích Côn Lôn thời” 謫崑崙辰 (Làm lúc đi đày ở Côn Lôn).

Bị giam ở nhà giam Phủ Thừa ít lâu, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn Đảo. Lúc đi ngang qua cửa Thượng Tứ, ông ngâm bốn câu thơ này.

Nguồn: Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng, 1995

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Khôi

Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,
Hăng hái cười reo lưỡi vẫn còn.
Đất nước hãm chìm dân tộc héo,
Làm trai chi sá thứ Côn Lôn.


Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghĩa thục - Chương 11, NXB Văn hoá Thông tin, 2002
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Lãm Thắng

Xích xiềng ra khỏi cổng thành
Lời ca khảng khái, lưỡi đanh vẫn còn
Nước trầm luân, dân héo hon
Làm trai đất Việt, Côn Lôn sá gì?

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Xiềng gông cà kệ biệt đô môn,
Khảng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn,
Thân trai nào sợ cái Côn Lôn.


Nguồn: Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Xiềng gông mang nặng biệt đô môn,
Khảng khái buồn ca lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm, nòi giống nản,
Nam nhi đâu sợ đất Côn Lôn?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Xiềng gông nặng biệt thành đô,
Ca buồn khẳng khái lưỡi ta vẫn còn.
Đắm chìm dân nước héo hon,
Nam nhi đâu sợ Côn Lôn cuối trời.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời