20/09/2021 15:27Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Xuất đô môn
出都門

Tác giả: Phan Chu Trinh - 潘周楨

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 26/08/2005 17:30

 

Nguyên tác

纍纍鐵鎖出都門,
慷慨悲歌舌尚存。
國土沉淪民族瘁,
男兒何事怕崑崙。

Phiên âm

Luy luy thiết toả[1] xuất đô môn,
Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn.
Quốc thổ trầm luân dân tộc tuỵ[2],
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn.

Dịch nghĩa

Gông xiềng mang nặng, ra khỏi cửa đô thành,
Buồn hát một cách khảng khái, lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm, dân tộc tiều tuỵ,
Nam nhi chuyện gì mà sợ Côn Lôn.

Bản dịch của Phan Khôi

Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,
Hăng hái cười reo lưỡi vẫn còn.
Đất nước hãm chìm dân tộc héo,
Làm trai chi sá thứ Côn Lôn.
Lời tự: “Trích Côn Lôn thời” 謫崑崙辰 (Làm lúc đi đày ở Côn Lôn).

Từ sau Mậu Thân dân biến (1908), nhiều sĩ dân bị khép tội và đày ra Côn Đảo, mà người đầu tiên là Phan Chu Trinh. Năm 1906, ông vượt biển sang Nhật Bản, khi về nước làm bản điều trần đưa lên chính phủ Pháp khiến quan trường đem lòng thù ghét. Năm 1908, khi đang ở Hà Nội, ông bị bắt giải về kinh đô Huế giam ở Hộ Thành, kết án chung thân đày ra Côn Lôn không ân xá. Khi ra hội đồng xử án, không khẳng khái không khuất, nên lúc bị giam ông tự nghĩ không còn hy vọng sống. Được ít hôm, có người đội và hai tên lính vào nhà giam, xem xét xiềng gông, khoá tay rồi dẫn ra cửa ngục, ông định chắc là dẫn đi chém. Theo lệ, tù trọng tội dẫn ra cửa bắc (An Hoà), nay thấy dẫn ra cửa nam (Thượng Tứ), ông hỏi thì người đội trả lời là mang đày ra Côn Lôn. Ông khẩu chiếm bài thơ này.

Nguồn:
1. Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng, 1995
2. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr. 2
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghĩa thục - Chương 11, NXB Văn hoá Thông tin, 2002
[1] Bản trong Thi tù tùng thoại in là “già toả” 枷鎖.
[2] Bản trong Thi tù tùng thoại in là 悴.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phan Chu Trinh » Xuất đô môn