新到崑崙獄得西湖先生書感作其一

萬死投荒昨悼君,
南冠今我亦云云。
不須更酒新亭淚,
鴻貉而今此一聞。

 

Tân đáo Côn Lôn ngục đắc Tây Hồ tiên sinh thư cảm tác kỳ 1

Vạn tử đầu hoang tạc điệu quân,
Nam quan kim ngã diệc vân vân.
Bất tu canh tửu Tân Đình lệ,
Hồng lạc nhi kim thử nhất văn.


Năm 1908, Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn Đảo. Lúc đầu, ông tưởng sẽ gặp Phan Chu Trinh ở đó, nhưng lúc tới nơi thì biết cụ Phan đã được cho ra ở ngoài làng An Hải trên đảo đó, tự do làm ăn không bị giam trong tù. Ngay hôm mới đến, Huỳnh Thúc Kháng đang ở trong tù thì có người ở ngoài ném vào mảnh giấy, mở ra xem thì là thư của cụ Phan viết: “Thoạt nghe tin anh em ra đây, dậm chưn van trời một tiếng! Đoạn, tự nghĩ rằng anh em vì quốc dân mà hy sanh đến phải ra đây, chắc là có trăm điều vui mà không có chút gì buồn, đây là một trường học thiên nhiên, mùi cay đắng trong ấy, làm trai giữa thế kỷ 20 nầy, không thể không nếm cho biết...” Nhân đó Huỳnh Thúc Kháng làm hai bài thơ này.

Hai bài thơ được chép trong Thi tù tùng thoại, không có đề tựa. Tiêu đề do người đăng tự đặt.

Nguồn: Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr. 34

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Đày hoang đảo, trước thế người sau,
Mũ áo ta nay cũng chức tù.
Thôi chớ Tân Đình rơi giọt lệ,
Ngàn năm sử Việt ấy trương đầu.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Hoang đảo đi đày, trước thế sau,
Ta nay mũ áo cũng tù lâu.
Tân Đình thôi chớ rơi giòng lệ,
Hồng Lạc ngàn năm nghe khúc đầu.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời