御製遭遇詩

閱罷摟船海上回,
崑莊得得六飛來。
只今綠野閒雲墅,
尚憶藍山負鳳才。
壺裡有天忘甲子,
山中無地起樓臺。
憑誰為我丹青手,
畫出湖山點柳梅。

 

Ngự chế tao ngộ thi

Duyệt bãi lâu thuyền hải thượng hồi,
Côn trang đắc đắc lục phi lai.
Chỉ kim Lục Dã nhàn vân thự,
Thượng ức Lam Sơn phụ phượng tài.
Hồ lý hữu thiên vong giáp tý,
Sơn trung vô địa khởi lâu đài.
Bằng thuỳ vị ngã đan thanh thủ,
Hoạ xuất hồ sơn điểm liễu mai.

 

Dịch nghĩa

Từ thuyền lầu duyệt thuỷ trận xong, nhân lúc trở về,
Dùng xe sáu ngựa, bon bon đến [thăm tiên sinh ở] Côn Sơn.
Cũng là thăm biệt thự của Lục Dã để ngắm mây nhàn,
Nhớ lại thời ở Lam Sơn, [tiên sinh] đã trổ tài phượng hoàng giúp vua.
Trong bầu tiên, có riêng trời, quên tuổi tác,
Nơi núi non, không có đất để dựng lâu đài.
[Ta] muốn nhờ ai có tài dùng màu sắc vẽ khéo,
Tô điểm [cho ta] cảnh liễu mai nổi bật giữa núi hồ.


Sau mấy năm lui về Côn Sơn vui với tùng trúc mai hạc, năm 1440, vua Lê Thái Tông ban chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan, phục lại chức tước cũ, kiêm tri Tam quán sự. Dù lần này chức tước không cao, vẫn chỉ là vị quan văn lo việc đối nội và soạn thảo giấy tờ, chép sử, tiến cử hiền tài, nhưng Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra với khát vọng “trí quân trạch dân”, với niềm ưu ái không nguôi và viết bài Tạ ân biểu nổi tiếng, thể hiện tấm lòng vì dân vì nước. Tuy làm quan trở lại, nhưng cụ vẫn ở Côn Sơn, thi thoảng có việc mới về triều đình để chầu. Mùa thu năm Nhâm Tuất (1442), nhân đi tuần du và duyệt binh ở Chí Linh, nhà vua có ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Nhâm Tuất, năm thứ 3 (tức 1442), mùa thu, tháng 7, ngày 27, vua [Thái Tông] đi tuần về miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi. Nhân cuộc gặp gỡ này, vua Lê Thái Tông đã viết bài thơ tao ngộ này.

Dẫn theo Nguyễn Trãi danh nhân truyện ký (Bùi Văn Nguyên, NXB Văn hoá, 1980), Ức Trai di tập bổ sung (NXB Khoa học Xã hội, 1994), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 4, NXB Khoa học Xã hội, 1995).

Nguồn: Nguyễn Công Lý, “Thêm hai bài thơ chữ Hán của Ức Trai tiên sinh”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 (108), 2011

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Văn Nguyên

Thuyền trận duyệt xong, buổi thoái hồi,
Côn Sơn xe ngựa ruổi qua chơi.
Thăm nền Lục Dã nhìn mây rỗi,
Nhớ thuở Lam Sơn trổ phượng tài.
Trong động riêng trời, quên tuổi giáp,
Bên non hiếm đất, dựng lâu đài.
Đan thanh nét vẽ nhờ ai đó,
Tô điểm núi hồ cảnh liễu mai.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Công Lý

Duyệt xong thuỷ trận, buổi lui về,
Xa giá bon bon ghé núi Côn.
Được ngắm mây nhàn nhà Lục Dã,
Trổ tài rồng phương chốn Lam Sơn.
Mảnh trời, bầu rượu, quên cao tuổi,
Bên núi, đất đâu, dựng biệt đài.
Cảnh đẹp là đây ai khéo vẽ,
Điểm tô non nước, liễu cùng mai?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Quân Sơn

Trên biển thuyền lâu binh duyệt về
Côn Sơn sáu ngựa vó buông oai
Nhắm theo Lục Dã nhàn mây ốc
Nhớ lại Lam Sơn giúp phượng tài
Bầu Lý có trời quên tuổi tác
Núi trong không đất dựng lâu đài
Có ai biết hoạ cho mầu khéo
Vẽ cảnh non hồ thắm nhánh mai.

Quân Sơn
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Duyệt trận thuyền về dặm biển dài
Côn Sơn, sáu ngựa vội phi lai
Thăm nhà Lục Dã mây nhàn ngắm
Còn nhớ Lam Sơn gánh phượng tài
Trời có trong bầu quên tuổi tác
Giữa rừng không đất dựng lâu đài
Nhờ ai vì trẫm ra tay hoạ
Non nước hoạ đồ điểm liễu mai.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thuyền trận duyệt xong lúc thoái hồi,
Côn Sơn sáu ngựa, đến thăm thôi.
Lam Sơn nhớ thuở tài phò chúa.
Lục Dã thăm nền mây ngắm trôi,
Tiên động riêng trời quên tuổi tác,
Núi non không đất dựng lâu đài.
Nhờ ai ta muốn tài tranh vẽ,
Tô điểm núi hồ cảnh liễu mai.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời