13/08/2020 06:30Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ngự chế tao ngộ thi
御製遭遇詩

Tác giả: Lê Thái Tông - 黎太宗

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 28/12/2013 09:00

 

Nguyên tác

閱罷摟船海上回,
崑莊得得六飛來。
只今綠野閒雲墅,
尚憶藍山負鳳才。
壺裡有天忘甲子,
山中無地起樓臺。
憑誰為我丹青手,
畫出湖山點柳梅。

Phiên âm

Duyệt bãi lâu thuyền hải thượng hồi,
Côn trang đắc đắc lục phi lai.
Chỉ kim Lục Dã[1] nhàn vân thự,
Thượng ức Lam Sơn phụ phượng tài[2].
Hồ lý[3] hữu thiên vong giáp tý,
Sơn trung vô địa khởi lâu đài.
Bằng thuỳ vị ngã đan thanh thủ,
Hoạ xuất hồ sơn điểm liễu mai.

Dịch nghĩa

Từ thuyền lầu duyệt thuỷ trận xong, nhân lúc trở về,
Dùng xe sáu ngựa, bon bon đến [thăm tiên sinh ở] Côn Sơn.
Cũng là thăm biệt thự của Lục Dã để ngắm mây nhàn,
Nhớ lại thời ở Lam Sơn, [tiên sinh] đã trổ tài phượng hoàng giúp vua.
Trong bầu tiên, có riêng trời, quên tuổi tác,
Nơi núi non, không có đất để dựng lâu đài.
[Ta] muốn nhờ ai có tài dùng màu sắc vẽ khéo,
Tô điểm [cho ta] cảnh liễu mai nổi bật giữa núi hồ.

Bản dịch của Bùi Văn Nguyên

Thuyền trận duyệt xong, buổi thoái hồi,
Côn Sơn xe ngựa ruổi qua chơi.
Thăm nền Lục Dã nhìn mây rỗi,
Nhớ thuở Lam Sơn trổ phượng tài.
Trong động riêng trời, quên tuổi giáp,
Bên non hiếm đất, dựng lâu đài.
Đan thanh nét vẽ nhờ ai đó,
Tô điểm núi hồ cảnh liễu mai.
Sau mấy năm lui về Côn Sơn vui với tùng trúc mai hạc, năm 1440, vua Lê Thái Tông ban chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan, phục lại chức tước cũ, kiêm tri Tam quán sự. Dù lần này chức tước không cao, vẫn chỉ là vị quan văn lo việc đối nội và soạn thảo giấy tờ, chép sử, tiến cử hiền tài, nhưng Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra với khát vọng “trí quân trạch dân”, với niềm ưu ái không nguôi và viết bài Tạ ân biểu nổi tiếng, thể hiện tấm lòng vì dân vì nước. Tuy làm quan trở lại, nhưng cụ vẫn ở Côn Sơn, thi thoảng có việc mới về triều đình để chầu. Mùa thu năm Nhâm Tuất (1442), nhân đi tuần du và duyệt binh ở Chí Linh, nhà vua có ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Nhâm Tuất, năm thứ 3 (tức 1442), mùa thu, tháng 7, ngày 27, vua [Thái Tông] đi tuần về miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi. Nhân cuộc gặp gỡ này, vua Lê Thái Tông đã viết bài thơ tao ngộ này.

Dẫn theo Nguyễn Trãi danh nhân truyện ký (Bùi Văn Nguyên, NXB Văn hoá, 1980), Ức Trai di tập bổ sung (NXB Khoa học Xã hội, 1994), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 4, NXB Khoa học Xã hội, 1995).

Nguồn: Nguyễn Công Lý, “Thêm hai bài thơ chữ Hán của Ức Trai tiên sinh”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 (108), 2011
[1] Hiệu của Bùi Độ đời Đường, Trung Quốc.
[2] Tức tài phượng hoàng, chỉ Nguyễn Trãi trổ hết tài sức viết thư thảo hịch giúp vua Thái Tổ dựng nước. Theo sử liệu phong kiến, các cơ quan văn phòng chuyên lo soạn thảo các văn từ giúp cho nhà vua, như Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh, Hàn lâm viện... thường ở khu vực hồ Phụng hoàng, gần cung vua, do đó “phụng hoàng” trong bài thơ được dùng theo ý nghĩa này.
[3] Câu này lấy tích ông Phí Trường Phòng đi theo Hồ Công tu tập theo Đạo giáo, chui vào bầu tiên (hồ lý).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lê Thái Tông » Ngự chế tao ngộ thi