(Vận: tạ, giao, hiền)

Hỡi ôi!
Vật đổi sao dời;
Trăng tàn hoa tạ.

Áng mây sầu mịt toả trời cao;
Trận gió thảm sóng xao biển cả.

Cơ cầu thay con tạo hoá, cuộc tang thương ủ mặt sơn hà;
Thương tiếc bấy khách tài hoa, cơn tử biệt não lòng thiên hạ.

Nhớ linh xưa!
Vốn người phong nhã;
Vào bực thanh tao.

Trên dưới trước sau, danh tiếng thơm làng mạc;
Đông tây nam bắc, đường đời rộng bước xã giao.

Tuy kể bề học vấn chẳng bực tót vời, luống trách buổi giao thời làm lỡ dở văn minh Âu Á;
Mà kể mặt tài ba được lời xuất chúng, dẫu gặp thời tù túng đà lẫy lừng danh nghĩa mày râu.

Vả chăng tài vẫn tuỳ người, chẳng đợi nho thâm học bác;
Nên hễ người đà đứng mực, thì là chí lớn rộng cao.

Nào phải mặt coi một miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ, hễ làm hương thì phụ mẫu chi dân, để lân lý khổ tâm than oán;
Mà là tay cầm một miếng khi đói bằng gói khi no, có gặp dịp thì hào hoa nghĩa hiệp, nên hương thôn cổ võ khen lao.

Tuy chẳng phải hy sanh cùng xã hội;
Mà vẫn ra giúp ích cho đồng bào.

Lời lời ngọc chuốt vàng trau, dầu trên quan dưới dân, tài Án Tử vẫn hùng hồn biện luận;
Mỗi mỗi buồm xuôi gió thuận, cứ đường ngay nẻo thẳng, chốn nghị trường từng hân hạnh ra vào.

Ngày thủ tướng hỏi chào, ai ai cũng gọi là vinh hạnh;
Trận Liêm Chiêu tranh cạnh, ai ai mà chẳng biết vàng thau.

Mà hề làm thì làm, làm chẳng thích phô trương tự đắc;
Nếu có được thì được, được không cần tán tụng hô hào.

Tuy anh hùng tạo thời thế, nhưng cảnh ngộ cơ cầu, lắm cử chỉ phải âm thầm cẩn thận;
Bởi hữu chí tất cánh thành, nhờ tâm can hảo hớn, nhiều công trình đã được sáng lạn làu làu.

Nào có phải vì quyền vì tước, mà cam mọp trán cúi đầu, bương bả mưu cầu danh giả dối;
Ấy là duy hữu chí hữu tâm, nền đành hao công phải tội, lọc lừa chọn lấy tiếng thanh cao.

Cùng xã hội đã có công lao, hòn đá nhỏ đã góp tài ba nghĩa vụ;
Với gia quyến còn nhiều phận sự, đám con thơ còn cần hướng dẫn luyện đào.

Mới hôm nào rộn rip đón dâu, chén hoan lạc còn nồng rượu trước;
Biết bao giờ nưng niu ẵm cháu, nỗi thương tâm để thảm đời sau.

Mặt giai tế đà biết ai đâu, ngày tống nữ không cha chứng tỏ;
Tuổi thơ ấu thương cho em nọ, sự lập thân chỉ mẹ lo âu.

Người vẫn có câu: con không cha như nhà không nóc;
Đời thường hay khóc: vợ mất chồng như áo mất bâu!

Rồi lấy chi mà chở che ngày hạ;
Rồi lấy chi mà ấm áp đêm thâu.

Lại nhớ linh xưa!
Tuy hàng chú bác;
Mà nghĩa tri giao.

Chẳng lấy vế vai làm lớn;
Chẳng xem địa vị là cao.

Nào những lúc mắt đau, cháu thỉnh thoảng viếng thăm ấm lạnh;
Nào những khi đàm luận, chú ân cần chuyện vãn ngọt ngào.

Cũng có lúc luận về tứ thú;
Cũng có khi bàn chuyện ngũ châu.
Cũng có lúc phê bình cổ tích;
Cũng có khi đàm tiếu tân trào.

Duyên ăn nói làm sao! như thể mật đường ngon ngọt;
Tài hùng hồn chẳng xiết, khác nào kèn sáo thanh tao.

Nào phải giấc chiêm bao, tai văng vẳng còn nghe lời châu ngọc;
Phải đâu cơn sản sốt, mắt sờ sờ dường thấy dạng ra vào.

Nhưng hỡi ôi!
Vàng chìm ngọc nát;
Đất lở trời nghiêng.

Cỏ thảm hoa phiền, cảnh vật một màu cưu hận với;
Trăng hờn gió tủi, nước mây mỗi vẻ nhuộm sầu riêng.

Mắt ướt dầm luỵ đổ liên miên, cõi dương thế tiễn đưa trang tuấn kiệt;
Miệng đón hỏi cười reo thân thiết, chốn âm cung tiếp rước khách tài hiền.

Hay đoạn tuyệt với trần duyên, ngao ngán cõi đê hèn ô trược;
Mà phản hồi nơi siêu tục, an nhàn chốn thanh bạch thiêng liêng.

Kìa xã hội đảo điên, ghế nghị viện luống chờ người thiên cổ;
Nọ giang san cẩm tú, cảnh bồng lai chực đón khách cửu tuyền.

Luống trách phận trách duyên, duyên phận xui chi tráo trở;
Phải biết căn biết số, số căn sao khéo truân chuyên!

Cảnh gia quyến đảo điên, cột cả rường cao ai chống chõi;
Đoàn thê nhi vô tội, tay mềm chưn yếu bước cơ duyên.

Hỡi ôi!
Tìm đâu gặp được người tuấn kiệt?
Tìm đâu ra được đứng tài hiền?
Còn đâu những trận hùng hồn tranh luận?
Còn đâu những cuộc vấn đáp nghị viên?
Còn đâu những lời vàng gieo ngọc ném?
Còn đâu những lời đinh đóng thép rèn?
Còn đâu những buổi luận đàm thú vị?
Cần đâu những ngày thân mật đoàn viên?

Đã biết lẽ quy ký tự nhiên, người dầu thác chớ tinh thần bất hủ;
Mà hềm câu tử sinh kinh cụ, đời hay quên tuy sách sử không quên.

Máu chảy ruột mềm, thương tiếc cùng ai thỏ thẻ?
Ngày tàn bóng xế, tủi sầu hoạ chú chứng miên.

Phải chi còn gặp gỡ như buổi sanh tiền, ắt có thể giải niềm tâm sự;
Phải chi được tới lui trong hồi thức ngủ, hỡi còn mong bày tỏ căn nguyên.

Lời thô sơ tự xét đê hèn, cháu chẳng được văn hay chữ tốt;
Nỗi thảm thiết để thầm đau xót, cháu phải nhờ giấy trắng mực đen.

Thôi thôi!
Lễ bạc lời hèn, giọt lệ nén hương xin tiễn chú;
Quê xưa cảnh cũ, xe loan cánh hạc nhẹ quy tiên.

Hỡi ôi! thương thay!
Hữi ôi! tiếc thay!


Bắc Liêu, ngày 23 tháng 3 Tân Tỵ (1941)

Nguồn: Phạm Thanh, Thi nhân Việt Nam hiện đại (quyển hạ), NXB Xuân Thu tái bản, 1990