Tài không sắc, sắc không tài,
Lá úa nhành khô cũng tiếng mai!
Ngọc ánh chi nài son phấn đượm,
Vàng ròng há sợ sắc màu phai!
Ba giềng trước đã xe tơ vắn,
Bốn đức nay tua nối tiếng dài.
Dẫu khiến duyên này ra đến thế,
Trăng thu dần xế, rạng non đoài!


Sau khi chịu cảnh goá bụa, bà Sương Nguyệt Anh được nhiều người lui tới thăm hỏi. Một nhà nho ở làng Vĩnh Kim là Hồ Bá Xuyên gửi cho bà một bài thơ, ý muốn cùng bà chắp nối:
Trời đất ghen chi chữ sắc tài,
Vườn xuân vội úa bảy phần mai!
Gương loan sửng sốt càng ngơ ngác,
Phấn vẽ dồi mài sợ kém phai.
Lặng lẽ duyên hồng tơ tóc vắn,
Vấn vương phận liễu tháng ngày dài...
Bông đào bao thủa thay đôi lứa,
Nỡ để trăng thu xế bóng đoài!
Song bà đã quyết chí ở vậy nuôi con, nên hoạ lại bằng bài thơ này.

Nguồn: Hợp tuyển văn học Việt Nam (1920-1945), tập V, quyển 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1987